Latest Entries »

Nhân cách lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Trần Văn Giàu

Nhiều học giả đã nghiên cứu về Cụ Hồ-Nhà lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, nhà sáng tạo tư tưởng, nhà văn hoá lớn của thế giới. Bài viết này chỉ xin đề cập đến một phạm vi hẹp hơn, đó là nhân cách Cụ Hồ, ngõ hầu góp phần nghiên cứu Cụ như một con người vĩ đại. (ảnh trên: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bà con nông dân Thái Nguyên -1954)

Trước hết, phải cắt nghĩa nhân cách là gì? Từ điển tiếng Việt ghi là “phẩm chất con người”. Theo sách “Đường Kách mệnh”, do chính Cụ viết thì nhân cách là “tư cách của người cách mạng”; được Cụ khái quát trong 23 điều ngắn gọn, thuộc về ba cách ứng xử của người cách mạng với: chính bản thân, với người khác và với công việc.

Về nhân cách Cụ Hồ, theo tôi, kết tụ trong 7 điểm cơ bản, cũng là 7 phẩm chất được con dân nước Việt và thế giới ngợi ca.

1. Ưu tiên đạo đức

Tôi cho rằng quan tâm thật nhiều đến đạo đức, nhân cách là  đặc điểm nổi bật nhất của Cụ Hồ, làm cho Cụ khác biệt hẳn với hầu hết các nhà lãnh đạo cách mạng khác ở cả ta và Tây. 

Nhiều nhà sử học phương Tây đã sớm để ý đến điều khác biệt ấy và họ cứ đinh ninh rằng, đó là do ảnh hưởng của Khổng giáo. Đương nhiên, không thể phủ nhận ảnh hưởng lâu đời của Khổng giáo đến văn hóa Việt Nam. 

Cá nhân tôi cho đó trước hết thuộc về truyền thống dân tộc – một đất nước chỉ trong vòng 2.000 năm – hai thiên niên kỷ đã phải hàng chục lần tiến hành kháng chiến chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta gấp bội; muốn tồn tại không thể trông cậy vào số kiếp, mà phải dựa vào chất con người chiến đấu, lâu ngày thành nếp tư tưởng, quý trọng bậc nhất đạo đức, nhân cách, tính kiên trì bất khuất, đức quên mình vì nước, vì dân. 

Nếu đặt nhân cách, đạo đức lên hàng đầu là duy tâm (như có người nói) thì việc sùng bái tiền hàng, chạy cuồng theo lợi nhuận là duy vật hay sao?

Bởi vậy, khi Lênin từ trần vào năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định rằng: Các dân tộc phương Đông sở dĩ kính mến Lênin vì vị thầy của cách mạng giải phóng sinh tiền là một “người khinh thường xa hoa, yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị”.

Khi mở lớp huấn luyện cán bộ đầu tiên vào năm 1925 (Cụ Hồ lúc này lấy tên là Vương) đã đặt ra 23 điều thuộc về tư cách người cách mạng lên trang đầu của cuốn sách “Đường Kách mệnh”.

Cho nên, khi bàn về các tiêu chuẩn bầu chọn anh hùng quân đội trong kháng chiến, thì tiêu chuẩn đạo đức, nhân cách được Cụ đặt lên hàng đầu, trên cả những thành tích xuất sắc.

Tựa như trong “Luận ngữ”, sách tổ của đạo Nho, chữ “nhân” được nói đi nói lại nhiều nhất. Người đời sau quả có lý để nhận xét, đánh giá: đạo của Khổng phu tử là đạo nhân. Còn trong các bài viết của Cụ Hồ, chữ đạo đức cách mạng được sử dụng nhiều nhất. Con dân Việt Nam xem Cụ Hồ như bậc tái tạo lương tri, xây dựng phẩm chất, nhân cách cho các thế hệ cách mạng, cho kháng chiến và xây dựng hòa bình.

2. Tận tụy quên mình
 

Đạo đức của Cụ Hồ được cấu thành từ ba mệnh đề, trong đó, mệnh đề thứ nhất là: Trung với nước, Hiếu với dân. Nếu như ngày xưa “trung quân vương và hiếu phụ mẫu” (trung thành với vua, hiếu thảo với cha mẹ), đòi hỏi những gì thì ngày nay nội dung trung với nước, hiếu với dân cũng đòi hỏi như vậy; thậm chí còn cao hơn nữa.

Bởi thế, nếu đã trung với nước, hiếu với dân thì suốt đời phải tận tụy, quên mình phục vụ nước nhà, phục vụ nhân dân. Đây là cái đức lớn nhất, cái gốc của nhân cách Cụ Hồ, là điều mà đồng bào ta và nhân dân thế giới ngợi ca. 

Cụ viết: “Bài học chính trong đời tôi là tuyệt đối và hoàn toàn cống hiến đời mình cho sự nghiệp giải phóng và thống nhất Tổ quốc, giải phóng giai cấp công nhân và dân tộc bị áp bức, cho sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, cho sự hợp tác anh em và hòa bình giữa các dân tộc”. Và Cụ đã làm đúng như vậy.

Quên mình vì nước, vì dân đã hiếm; mà tận tụy quên mình suốt đời phục vụ thì vô cùng hiếm hoi, chỉ có bậc thánh nhân và tông đồ của dân mới làm được trọn vẹn. 

Học trò, vừa là bạn chiến đấu của Cụ – Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Cụ Hồ không có cái gì riêng; cái gì của nước, của dân là của Người; quyền lợi tối cao của nước, lợi ích hàng ngày của dân là sự lo lắng hàng ngày của Người; gia đình của Người là đại gia đình Việt Nam”. 

Nhà báo Úc nổi tiếng thế giới là Búc-sét có dịp tiếp xúc với Người, đã nhận xét: “Nói tới một người mà cả cuộc đời mình để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân thì không có một ai khác ngoài Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

3. Kiên trì, bất khuất

Có lẽ đoạn văn sau đây của nhà báo La-cót-tơ là tiêu biểu cho công luận quốc tế nhận xét một cách khách quan rằng:

“Trong ngót nửa thế kỷ, ông Hồ Chí Minh lãnh đạo một cuộc chiến đấu chưa từng có, về biến chuyển của chiến thuật và tình huống, về tính đa dạng của cách xử trí, về những hy sinh phải chấp nhận, về sức mạnh yếu khác nhau một trời một vực ở mặt vũ khí. 

Bị tòa án thực dân xử tử hình, mươi lần thoát khỏi lưu đày và máy chém, khi thì mặc áo vàng nhà sư Thái Lan, khi thì mặc quân phục đệ bát lộ quân Trung Quốc. Và giành được chính quyền rồi, ông Hồ phải liên tiếp đương đầu với hai đế quốc phương Tây. 

Thời nay có nhà cách mạng nào đủ gan lớn mật đầy để chống đối trật tự của các liệt cường với một quyết tâm bền bỉ đến thế? Ông Hồ đã hồi sinh một dân tộc, tái tạo một quốc gia, lãnh đạo hai cuộc chiến tranh, về cơ bản là chiến tranh của  những người bị áp bức. 

Cuộc chiến đấu của ông chống Mỹ tỏ rõ các giới hạn của sức mạnh kỹ thuật khi đương đầu với con người”.

Dũng cảm, quyết tâm, bền bỉ, bất khuất  – Cụ Hồ là như vậy. Tờ Thế giới của Pháp đã có lần viết: “Người Mỹ có thể tàn phá hết đất nước này, nhưng đất nước này thậm chí sau khi bị tàn phá hết, cũng không cúi đầu khuất phục”.

Báo Quốc gia của Ấn Độ đã viết: “Đằng sau cái cốt cách dịu dàng của Cụ Hồ là một ý chí sắt thép. Dưới cái bề ngoài giản dị là một tinh thần quật khởi anh hùng  không có gì uy hiếp nổi”.

Điều đáng chú ý là phẩm chất, nhân cách đó của Cụ Hồ cũng là nhân cách, phẩm chất của các môn đệ của Cụ, và cũng là phẩm chất, nhân cách của đại đa số nhân dân Việt Nam. Cho nên cái hy vọng của Mỹ, hễ Cụ Hồ mất thì  kháng chiến tất sụp đổ, hy vọng đó trở thành tuyệt vọng.

4- Khiêm tốn, giản dị

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Cụ Hồ rất sôi nổi, long trời, lở đất đến như vậy, tiếng thơm lan khắp năm châu bốn bể, trong Đảng và Chính phủ (Nhà nước và đoàn thể) Việt Nam; Cụ Hồ là người lãnh đạo tối cao được kính mến như vậy; nhưng đời sống của Cụ rất bình thường, vô cùng giản dị, khiêm tốn. Tính giản dị, khiêm tốn của Cụ được ca tụng hết lời, cũng như đức quên mình vì mọi người.

Chủ tịch An-len-dơ của Chilê nhận xét: “Không bao giờ chúng ta thấy sự giản dị và sự vĩ đại đi liền với nhau như vậy”.

Ông M.Kha Li của Cộng hòa Arập thống nhất khẳng định: “Thiên thần thoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc sống giản dị, khiêm tốn”.

Cả Việt Nam, toàn thế giới đều biết đến bộ quần áo kaki sờn, đôi dép cao su mòn, ngôi nhà sàn gỗ đơn sơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chẳng phải từ những ngày đầu đào tạo cán bộ cách mạng (1925), Cụ Hồ với danh xưng là đồng chí Vương đã khuyên cán bộ phải “ít lòng ham muốn vật chất”, “không háo danh kiêu ngạo”.  Và Cụ đã sống như những gì Cụ dạy cán bộ. Tính khiêm tốn, giản dị còn thể hiện rõ trong Di chúc năm 1969: “Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”…

Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì…  Trên mộ nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi” (Hồ Chí Minh – Toàn tập – Tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, H,2002. tr.499).

Khó kiếm thay một người  công lao đã đạt đến đỉnh cao nhất của vinh quang mà vẫn giữ tính khiêm tốn, giản dị y như thuở hàn vi hoạt động trong vòng vây dày đặc của kẻ thù. Gương sáng chói ấy không một hạt bụi nào có thể bám được.

Xin mượn ý của một nhà báo ở châu Đại Dương để tạm kết chủ đề luận về nhân cách Hồ Chủ tịch: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn. 
 

5- Hài hòa, kết hợp

Có một đức tính lớn của Cụ Hồ mà mãi đến khi Cụ qua đời và phải đọc thật nhiều bài viết của nhân loại ngợi ca Người, ta mới nhận ra được tầm quan trọng. Giống như khi đứng ở chân núi, làm sao thấy được núi cao. Đó là tính hài hòa, sự nhất quán trong suy nghĩ và việc làm, giữa những cái khác nhau, giữa những cái thường bị xem là trái nhau.

Một học trò của Cụ là Lê Duẩn có viết đại ý: Ở Cụ Hồ, tinh hoa của dân tộc kết hợp với Chủ nghĩa Mác – Lênin là đỉnh cao của tư tưởng loài người ở thời đại mới.

Cách mạng Việt Nam phát triển theo con đường của Chủ nghĩa Mác – Lênin, nhưng không tách rời tinh hoa của dân tộc. Bởi ở đó là nơi kết hợp hài hòa giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Và Cụ Hồ là người Lêninnít đóng góp lớn nhất, nhiều nhất, hài hòa nhất vào kho tàng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Báo Asahi của Nhật Bản cắt nghĩa rất rõ ràng: “Điều làm cho Cụ Hồ trở thành một lãnh tụ quần chúng tuyệt vời là sự kết hợp chủ nghĩa dân tộc với chủ nghĩa xã hội, kết hợp phong trào giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa”.

Ta có thể thêm vào một ý: cái này vừa là cứu cánh, vừa làm động lực cho cái kia một cách nhịp nhàng hết sức, như hai dây đồng của một dây đàn.

Đẹp thay, đúng thay lời Jin Rou-sơ viết cho báo Chiến đấu của Pháp: “Từ 30 năm nay, trong số các nhân vật mà tôi được gặp, chắc chắn Cụ Hồ là đáng khâm phục nhất. Cụ là người hoàn toàn đáng được mọi người ca ngợi, bởi vì Cụ đã kết hợp đến mức nhuần nhuyễn, phi thường chủ nghĩa anh hùng với đầu óc sáng suốt, lòng yêu nước tuyệt vời, tinh thần cách mạng trong sáng, thái độ cứng rắn trước cuộc sống với lòng nhân đạo đối với con người. 

Sự hài hòa giữa những tính tình đôi khi trái ngược nhau đó, giải thích tại Cụ Hồ cùng một lúc là nhà thơ, là đảng viên, là nhà lãnh đạo quốc gia, nhà ngoại giao, lại vừa là một chiến sĩ”.

Bên cạnh các tư tưởng lớn và những phẩm chất có tính tư tưởng cao, người ta còn chú ý ở Cụ Hồ sự kết hợp hài hòa của những điều dường như ở mức thấp hơn mà cũng thường gặp hơn trong đời sống hằng ngày. 
Báo Ảnh diện của Ấn Độ đặc tả: “Cụ Hồ đã kết hợp nhuần nhuyễn sự tao nhã cao quý với tác phong gần gũi, giữa dân chủ, giữa tự do không nghi thức với sự nghiêm chỉnh thận trọng, vì vậy Cụ Hồ có một sự hấp dẫn đặc biệt, không gì so sánh được”.

Còn báo Chiến sĩ của An-giê-ri lại chú trọng đến một mặt rất dung dị, nhưng rất quan trọng của một sự kết hợp hài hòa ở Cụ Hồ: “Nhà văn, nhà báo, dù ai có ác ý nhất cũng không tìm thấy một chút thiếu sót nhỏ nhặt trong cuộc đời gần 80 năm. 

Đây cũng là một trong những bài học mà chúng ta có thể rút ra  từ cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Người ta không thể là nhà cách mạng trong những việc lớn mà lại thiếu sót trong những việc nhỏ”.
Tôi có thể đem hàng chục, hàng trăm dẫn chứng cụ thể để chứng minh sự kết hợp hài hòa mà các báo trên vừa nói. Cụ Hồ đúng là hiện thân của sự hài hòa.

6- Thương, quý người, nâng đỡ con người, thấu tình đạt lý

Như phần lớn các nhà hiền triết cổ kim, đông tây, thương người là một trong những đức lớn của Cụ Hồ – được thể hiện qua từng lời nói, từng việc làm của Cụ suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng không mệt mỏi.

Trong tiềm thức của Cụ Hồ – thương người đồng nghĩa với nhân ái. Vậy nhân ái của Cụ Hồ khác gì với nhân ái của Khổng Mặc, hay chỉ là một mà thôi? Đương nhiên là khác không nhỏ. Nguyễn Tất Thành – Anh Ba bồi bếp rồi thủy thủ con tàu buôn ấy có một tâm hồn nhạy cảm, xót xa từng thân phận của những người cùng khổ mới có những nét bút làm xúc động lương tâm con người đến thế khi anh mô tả một cuộc hành hình theo kiểu Lunch ở đất Mỹ. 

Nếu không có trái tim đập cùng nhịp với những người thất thế cô đơn, làm sao viết chuyện một cụ già ở Epinettơ, Pari, đã mất hết nhà cửa, vợ con trong cuộc đại chiến, đang ngày ngày chờ từng bát cháo từ  thiện?

Lòng thương người của Nguyễn Ái Quốc đồng nghĩa với tình thương dành cho các dân tộc bị xích xiềng thực dân. Tình thương của Người không chỉ là cảm thông mà là chỉ dẫn cho người lao động và các dân tộc bị áp bức biết tự mình cởi ách nô lệ, chớ không phải mòn móng ngựa, bánh xe để du thuyết cho vương hầu.
Đi tìm và khai phá con đường cách mạng, Nguyễn Ái Quốc luôn đặt vấn đề tự do song song với hạnh phúc của dân tộc. Có người Mỹ nói: Cụ Hồ vừa là Oasinhtơn, vừa là Lin-con. Đúng mà chưa đủ vì Cụ Hồ còn đi xa hơn nữa với tấm lòng nhân ái thiết thực. 

 

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 thắng lợi, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải trải qua nạn đói khủng khiếp do Pháp – Nhật gây ra. Trong tình cảnh vô cùng khó khăn ấy, Cụ Hồ chủ trương phát động nhân dân tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Bản thân Người gương mẫu mỗi tháng nhịn ăn ba bữa để góp gạo cứu đói, và Cụ Hồ đã đổ lon gạo dành dụm của mình vào hũ gạo tiết kiệm của muôn dân như mọi người dân bình dị. 

Những việc làm vì thương người, thương dân của Cụ Hồ sao có thể kể xiết. Ngay cả khi đi Chiến dịch Biên giới, Người không chịu cưỡi ngựa mà cùng đi bộ với 7 cán bộ, chiến sĩ, để ngựa thồ hành lý đỡ cho anh em. 

Đoàn được chia chiến lợi phẩm một chai rượu Tây, Cụ bảo mọi người uống xong đừng vứt bỏ chai mà súc sạch rồi đem cho dân đựng hạt giống. Khi đi thăm trại tù binh về, Cụ không còn áo khoác vì đã cho tên quan ba thầy thuốc bị rét cóng. 

Hiếm có một lãnh tụ như vậy. Cụ Hồ đích thực có một tình thương mênh mông dành cho bao kiếp người, bao số phận con người. 

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Những tư tưởng lớn của Hồ Chủ tịch là những tình cảm lớn. Trong đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ tịch, cũng như trong đời sống hàng ngày của mình, Hồ Chủ tịch đối xử với người luôn có lý, có tình. Bác Hồ muôn vàn yêu thương đối với đồng chí, đồng bào, 

Trong tình yêu đó, có chỗ cho mọi người, không quên sót một ai và sắp xếp cho mỗi người vị trí chiến đấu, cũng như lo lắng chu đáo cho mỗi người việc làm, đời sống và học tập, vừa nghiêm khắc đòi hỏi, vừa thương yêu dìu dắt… Đối với kẻ lầm đường, lạc lối, lòng Hồ Chủ tịch còn rộng hơn biển cả, Người dạy phải khoan hồng, vui mừng đón rước những đứa con vì cảnh ngộ mà lạc bầy”.

Cảm động, đẹp đẽ thay lời của Montaron viết trên báo Bằng chứng Thiên Chúa giáo của Pháp, rằng: “Cụ Hồ Chí Minh là một trong những chiến sĩ đầu tiên của thế giới thứ ba, của các dân tộc nghèo đói thèm khát cuộc sống cho người. Cụ đã dạy cho họ rằng muốn được giải phóng, phải dựa vào sức mình là chính, và một dân tộc chỉ có thể sống còn khi dân tộc ấy không chịu sống nô lệ. 

Nhất là Cụ đã dạy rằng, cuộc chiến đấu vì nhân phẩm, tự do phải được đặt trên mọi cuộc chiến đấu khác. Cụ đã đem hết sức mình để đem lại cơm ăn, nước uống cho những ai đói khát. Cụ đã bênh vực cho những người yếu hèn và mang lại nhân phẩm cho những người nghèo khổ…”.

7- Yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên

Không chỉ có tâm hồn cách mạng, thi nhân, thương yêu con người, Cụ Hồ còn yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Tình yêu thiên nhiên của Cụ Hồ khác xa tình yêu thiên nhiên của Lão Trang, bởi Cụ Hồ yêu thiên nhiên đâu phải để tiêu dao, xa trần tục, thế sự. 

Tình yêu ấy gắn liền với cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Cụ tìm thấy trong thiên nhiên một nguồn cổ vũ, chia sẻ buồn vui. Ở thiên nhiên, Cụ Hồ tìm thấy một sự quân bình trong tâm hồn sau, hoặc trong những giờ phút căng thẳng. Với Cụ Hồ, thiên nhiên như bạn tâm tình; thiên nhiên được nhân hóa, thiên nhiên như người bạn tri ân, bạn chiến đấu.

Ngay cả khi phải ngồi trong nhà tù Quốc dân đảng, Cụ Hồ vẫn có trăng sao làm bầu bạn:

“Trong tù không rượu cũng không hoaCảnh đẹp đêm nay khó hững hờNgười ngắm trăng soi ngoài cửa sổTrăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”.

Thơ tả thiên nhiên đấy mà thực ra là lời nhắn gửi tới đồng chí rằng Cụ vẫn sống, vẫn giữ vững tinh thần, vẫn nhớ anh em mà không quên nhiệm vụ cách mạng:

“Núi ấp ôm mây, mây ấp núiLòng sông gương sáng bụi không mờBồi hồi dạo bước Tây phong lĩnhTrông lại trời Nam nhớ bạn xưa”.

Đặc biệt, thơ Cụ Hồ thấm đượm triết lý chính trị cách mạng khi tả buổi bình minh thức dậy trên đường đi công tác:

“Phương đông màu trắng chuyển sang hồngBóng tối đêm tàn quét sạch khôngHơi ấm bao la trùm vũ trụNgười đi thi hứng bỗng thêm nồng”.

Thiên nhiên dường như chứng kiến sự tận tụy với công việc của một nhà lãnh đạo kháng chiến ở giữa làng chiến khu Việt Bắc:

“Xem sách, chim rừng vào cửa đậuPhê văn, hoa núi ghé nghiên soiTin vui thắng trận dồn chân ngựaNhớ cụ, thơ xuân tặng một bài”.

Diệp Minh Châu – một nhà điêu khắc quê ở miền Nam, bồi hồi kể lại câu chuyện cảm động ở chiến khu Việt Bắc: “Tôi đang nghe đài phát thanh, bỗng có tiếng Bác gọi: Chú Châu qua đây! Tôi ngồi bên Bác. Bác kéo đầu tôi ghé vai Bác, trỏ ra cửa sổ. Một mảnh trăng lưỡi liềm nhô ra khỏi núi, tỏa sắc xanh huyền ảo xuống những dãy rừng xa. Bác nói: Của chú đấy!”.

Đó là thiên nhiên Việt Bắc. Còn cảnh đẹp Thủ đô Hà Nội trong Người được nhà văn Cuba là Rôđighét mô tả: “Tôi được biết có hai điều Bác Hồ yêu thích, đó là hoa và tiếng chim ca. Hoa và chim luôn ở bên Người. Ngôi nhà nhỏ của Bác nhìn ra phía nào cũng có một ô cửa sổ, một bức tranh bằng ánh sáng, và khi gió nhẹ thổi qua bức tranh như có sức sống”.

Không chỉ yêu nước, thương nòi, yêu dân, yêu con người và loài người một cách nồng nhiệt, Cụ Hồ còn yêu thiên nhiên một cách đằm thắm, vừa hàm ơn, vừa hòa hợp với thiên nhiên, gắn thiên nhiên với cuộc đấu tranh vì nhân phẩm và tự do của con người. 

Phải chăng trong Người luôn hiện hữu mối quan hệ gần gũi giữa tình yêu thiên nhiên với trạng thái tâm hồn thanh thản, tỉnh táo, ung dung tự tại trong lúc bình cũng như khi biến.

Xin mượn ý của một nhà báo ở châu Đại Dương để tạm kết chủ đề luận về nhân cách Hồ Chủ tịch: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn

Giáo sư Trần Văn Giàu

CỤ HỒ, CON NGƯỜI VÀ PHONG CÁCH

 

Ngô Trần Đức

 

Sinh thời, trong một lần “tự bạch”, khi trả lời câu hỏi của con gái về  “câu cách ngôn mà cha thích nhất?”, Marx đã chọn câu của Térence – nhà thơ La mã cổ đại: Không có gì thuộc về con người lại xa lạ đối với tôi”.[1] Cũng có thể nói như vậy về Cụ Hồ. Cụ vĩ đại, siêu việt, hơn thường, nhưng Cụ không phải là ông thánh, một vì sao chỉ lấp lánh ở chân trời xa! Cụ là một con người trần thế với tất cả khát vọng về hạnh phúc và niềm vui được sống, được làm người trên thế gian này. Là một con người nhân hậu, giản dị, Cụ gần gũi, thân  thiết với tất cả mọi người, không có gì thuộc về con người lại không vang vọng sâu xa trong tâm hồn của Cụ.

 

Người Việt chúng ta không có truyền thống “tự bạch” như người phương Tây ở thế kỷ trước, để qua đó có thể bộc bạch công khai tâm hồn mình – những điều yêu ghét, mong mỏi, theo đuổi trong cuộc đời – như  Marx trả lời con gái. Nhưng cũng có  lần, một phóng viên của tờ Frères D’Armes (Bạn chiến đấu) đã hỏi Cụ Hồ theo kiểu này:

 

-Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất? – Điều ác.

 

Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất?  -Điều thiện.

 

Chủ tịch cầu mong gì nhất? -Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên hoàn cầu.

 

Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ gì nhất? -Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không

sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì.[2]

 

Số câu hỏi ít, nội dung trả lời ngắn, tuy vậy cũng đã cho ta thấy được điều cốt yếu nhất trong con người Cụ: theo đuổi những giá trị phổ quát, có ý nghĩa toàn nhân loại: yêu điều thiện, ghét điều ác, yêu nước mình đồng thời tôn trọng độc lập của tất cả các nước, đó là một người chân chính, vì vậy không có gì phải sợ và nhất thiết không được sợ gì! Từ điểm xuất phát này, chúng ta có thể từng bước khám phá để hiểu được con người và phong cách Hồ Chí Minh.

 

Một tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình.

 

Xem xét tính cách, phẩm chất của một con người cũng như của một vĩ nhân, người ta thường bắt đầu từ xem xét đặc điểm tư duy của họ, xuất phát điểm của tư duy khác nhau sẽ dẫn đến những kết quả khác nhau. Trong đời sống, do địa vị xã hội, lợi ích giai cấp và xu hướng cá nhân, mỗi người thường theo đuổi những giá trị khác nhau. Cái mà anh cho là tốt đẹp, là lý tưởng chưa hẳn đã là tốt đẹp và lý tưởng đối với tôi. Tuy nhiên, bên cạnh cái riêng, cái giai cấp, vẫn tồn tại cái chung,

 

cái nhân loại mà ở thời nào, dân tộc nào cũng đều thừa nhận. Cụ Hồ từng viết: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi  khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau: Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”[3]. Như vậy, lành – dữ, thiện – ác, chính – tà, tự do – độc lập, nhân ái – hòa bình, dân chủ – bình đẳng,…là những phạm trù chung, có giá trị toàn nhân loại, không ai có thể phủ nhận được.

 

Đặc điểm nổi bật của tư duy Hồ Chí Minh là Cụ luôn luôn xuất phát từ cái chung, cái nhân loại, từ những chân lý phổ biến, “những lẽ phải không ai chối cãi được”. Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, Cụ thường không mấy đề cập đến địa vị giai cấp, thành phần xuất thân,…của người dân, mà chỉ đưa ra những chuẩn mực chung nhất, như là yêu nước – bán nước, thiện – ác, chính – tà,…Cụ viết: “Trên quả đất có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc, song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. Làm việc chính là người thiện. Làm việc là người ác…Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”[4].

 

Để đàm phán, thuyết phục đối phương đi tới đồng thuận, Cụ Hồ luôn lập luận trên nguyên tắc về tính đồng nhất của nguyên lý. Cụ viết: “Quyền độc lập, tự do, ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của những nghĩa sĩ và đoàn kết của toàn quốc dân mà xây dựng nên. Vậy nên, những người chân chính ham chuộng độc lập, tự do của nước mình thì phải kính trọng độc lập tự do của các dân tộc khác”. Cụ nói với Thủ tướng Pháp G. Bidault (2-7-1946): “Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần: triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân. Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy, Hội nghị sắp tới sẽ đi đến những kết quả tốt đẹp[5].Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do… Chúng tôi cũng phải được yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi cũng phải được phép yêu đồng bào chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái  mà các bạn coi là lý tưởng, cũng phải là lý tưởng của chúng tôi[6].

 

Những chân lý này không có biên giới, nó là lương tri của loài người, không bị chi phối bởi một chủ thuyết nào cả. Việt Nam chiến đấu là để bảo vệ và góp phần thức tỉnh lương tri ấy.

 

Tháng 5-1947, Paul Mus, đại diện của E. Bolaert, lên Thái Nguyên gặp Cụ Hồ, đưa ra 3 điều kiện để ngưng chiến: 1.đòi ta phải nộp hết vũ khí cho họ ; 2. đòi quyền cho họ được tự do đi lại trên khắp nước Việt Nam; 3. đòi trao trả cho họ những người lính Pháp phản chiến đã gia nhập hàng ngũ của chúng ta. Thực chất, đó là một tối hậu thư đòi chúng ta phải đầu hàng! Cụ Hồ hỏi lại P.Mus: “Các bạn là

 

những người đã chiến đấu oanh liệt để bảo vệ Tổ quốc, các bạn hãy đứng vào địa vị chúng tôi, các bạn có thể nào chịu nhận những điều kiện như thế không?”[7] Paul Mus phải thừa nhận rằng: nếu ở vào địa vị mình, ông cũng không thể chấp nhận.

 

Một đặc điểm thứ hai của tư duy Hồ Chí Minh là Cụ rất dị ứng với mọi biểu hiện của lối suy nghĩ cạn hẹp, phiến diện, một chiều. Có một thời, thế hệ chúng tôi không tránh khỏi mang những nhược điểm của lối tư duy ấy: cách mạng là đoạn tuyệt với mọi cái cũ, chủ nghĩa xã hội hơn hẳn chủ nghĩa tư bản về mọi mặt, con người mới hơn hẳn con người cũ, v.v… Cách suy nghĩ đó một thời đã đi vào thơ ca, tiểu thuyết, đến mức nhiều người thành thật tin là như vậy:

 

Thuở Anh chưa ra đời, Trái đất còn nức nở,

Nhân loại chửa thành người, Đêm ngàn năm man rợ. (Bài ca Tháng Mười)

Khi ấy đâu có ai dám thắc mắc: chẳng nhẽ cha ông ta với mấy nghìn năm văn hiến, cũng đều là man rợ cả sao? Sau này, khi trưởng thành hơn, một nhà thơ khác đã “phản tỉnh” về hiện tượng tư duy “ngây thơ, ngờ nghệch” của một thời, khi cứ chân thành nghĩ rằng:

 

Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ, Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ? [8]

Tất nhiên, lối suy nghĩ “ấu trĩ tả khuynh” này hoàn toàn xa lạ với phong cách tư duy của Cụ Hồ. Theo Cụ, lịch sử là một dòng chảy không ngừng, cách mạng là đột biến trong liên tục, cái mới sinh ra từ cái cũ, có khi lật ngược cái cũ, nhưng không vứt bỏ những yếu tố đúng đắn, hợp lý của cái cũ; chủ nghĩa xã hội không phủ định sạch trơn mà kế thừa và phát huy tất cả những giá trị văn hóa-văn minh của nhân loại từ các đời trước để lại. Không phải cứ cách mạng thành công rồi thì con người bỗng tự nhiên trở nên “thiên thần” và người đảng viên cộng sản được coi là những người “có tính cách đặc biệt riêng, được cấu tạo bằng một chất liệu đặc biệt riêng”- như một lãnh tụ của một Đảng cộng sản trước đây đã từng nói.[9]

 

Cụ Hồ chống lại thói “kiêu ngạo cộng sản” ấy. Cụ nói: “Đảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta là con của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, chúng ta chỉ biết trung thành với giai cấp vô sản, quyết tâm đấu tranh cho nhân dân. Thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường nên Đảng ta

 

rt vĩ đại. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”[10].

 

Tất nhiên, người cộng sản Việt Nam có quyền tự hào chính đáng vì họ đã đi tiên phong trong cuộc đấu tranh giải phóng lâu dài và gian khổ của dân tộc, bất chấp tù lao, máy chém, chiến trường. Nhưng người cộng sản cũng là con người, nên có ưu, có khuyết, có tốt, có xấu. Cụ nói: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra…Cũng như những người hàng ngày lội bùn mà trên mình họ có hơi bùn, có vết  bùn…Cần  phải tắm rửa lâu mới sạch”.[11]… “Quần chúng chỉ yêu mến những người có tư cách đạo đức.  Muốn  hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước…Muốn làm cách mạng, phải cải  cách tính nết mình trước tiên”[12]. Như vậy, theo Cụ Hồ, “tính cách đặc biệt riêng” nếu có của người cộng  sản,  chính là phải có ý thức tự tu dưỡng, tự rèn luyện và nêu gương suốt đời.

 

Chính trị là lĩnh vực đầy thiên kiến, nên dễ phiến diện, cực đoan. Điều này hiếm thấy ở Cụ Hồ. Một nhà báo Mỹ của tờ Newsweek phỏng vấn Hồ Chí Minh về hệ thống một đảng có phải là tốt hay không, Cụ trả lời: “Đó là điều tốt, nếu đảng tốt. Nếu không, đó là không tốt”.[13]Cả trong cách nhìn về ông vua sáng lập triều Nguyễn cũng vậy, Cụ rất khách quan. Hãy nghe Cụ nói về vua Gia Long trong bài “ Lời than vãn của bà Trưng Trắc”: Với một tấm can trường vô song và một đức độ băng tuyết, giống như vàng mười óng ánh muôn tia đã qua ngàn lần thử lửa, ông tổ mi là Gia Long, tôn quý và tài ba bội phần, đã để lại, sau những cuộc thăng trầm và đau khổ không sao kể xiết, một đất nước giàu có, một nhân dân độc lập, một dân tộc được những kẻ mạnh kính nể, những kẻ yếu yêu mến, một tương lai đầy sức sống và đầy triển vọng”.[14]

 

Theo Cụ Hồ, công việc chúng ta đang làm hôm nay – giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới, bảo vệ từng tấc núi, tấc biển của Tổ quốc, không phải là cái gì đặc biệt, nó chỉ là sự nối tiếp sự nghiệp cha ông đã mở ra từ mấy nghìn năm trước. Cụ nói: Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. “Cuộc chiến đấu hiện thời của chúng ta chỉ là kết tinh của cuộc trường kỳ đề kháng mà ông cha, anh em chúng ta đã tiếp tục trong tám mươi năm Pháp thuộc.”[15] Bản Tuyên ngôn Độc lập, theo Cụ, không phải chỉ là sự kế thừa các bản “Yêu sách” và “Chương trình Việt Minh” do Cụ Hồ đã viết vào năm 1919 và

1941 mà “còn là kết quả của những bản tuyên ngôn khác của tiền bối như các cụ Thủ khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và… của bao nhiêu sách báo, truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn tám mươi năm nay”. Nó “là hoa, là quả của bao nhiêu máu đã đổ

và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh,…là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam[16], kể cả những ông vua

 

yêu nước. Rõ ràng là không một chút biệt phái, không coi đó là công lao của riêng một bộ phận nào.

 

Tháng  12-1923,  cuối  buổi  nói  chuyện  với  O.  Mandelshtam  ở  Maxkva, Nguyễn Ái Quốc đã không quên nhắc đến ông hoàng Duy Tân: Ở bên nước “chúng tôi còn có một cuộc “nổi dậy” nữa, do vua An Nam trẻ tuổi Duy Tân phát động, chống lại việc đưa những người nông dân của chúng tôi đến chiến trường của Pháp. Vua Duy Tân đã chạy, bây giờ ông ấy đang sống lưu vong. Hãy kể về ông ấy nữa”.[17]

 

Trong tư duy cuả Cụ Hồ luôn có sự kết hợp giưã dân và nước, giai cấp và dân tộc một cách hàì hoà, không chút thiên lệch. Trong một dự thảo kế hoạch phát động thi đua yêu nước trong kháng chiến chống Pháp của Ban Thi đua TƯ gửi lên Cụ, người viết có đề ra một khâủ hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Cụ gạch đi và bảo: không được chỉ nhìn thấy một phía, “ích nước nhưng còn phải lợi dân nữa”, rôì Cụ thay bằng: mục đích thi đua là “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Sau này, thi đua đã bị biến dạng vì người ta chỉ cốt sao có nhiều thành tích để báo cáo lên trên mà quên mất lợi ích thiết thân cuả ngườ dân.

 

Vào cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, khi cuộc cách mạng ruộng đất bắt đầu được phát động, vấn đề thành phần xuất thân, quan hệ gia đình được đặt ra. Nhiều nhân sĩ, trí thức và không ít cán bộ, đảng viên có bố mẹ, họ hàng là địa chủ (hoặc bị quy là địa chủ) bắt đầu lo lắng, nhiều người hoang mang,…Hiểu được tâm trạng này, tại nhiều Hội nghị, Cụ Hồ đã đả thông hoặc viết bài đăng báo: “Trước khi ra đời, người ta không thể lựa  chọn sinh ra ở giai cấp nào, gia đình nào. Thành phần giai cấp có ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng con  người, nhưng không phải là ảnh hưởng quyết định, không khắc phục được…Điều quan trọng vẫn là do bản thân mỗi người cán bộ, đảng viên,…nếu có chí khí kiên cường, tư tưởng vững chắc, lập trường dứt khoát, quyết tâm phụng sự cách mạng, phục vụ nhân dân, thật thà thi hành chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, thì nhất định đánh tan được ảnh hưởng ấy và vẫn được Đảng, Chính phủ và nhân dân tin cậy”.[18]

 

Rồi Cụ đưa ra dẫn chứng: nước ta cũng như các nước khác, vẫn có những người là đại địa chủ mà làm cách mạng, hồi bí mật có bao nhiêu tiền đem giúp cho cách mạng hết, cam chịu tù đày. Trước kia, K. Marx là con nhà quý phái, F. Engels là con nhà tư bản, nhưng hai ông đã hiến dâng đời mình cho cách mạng, trở thành những người sáng lập chủ nghĩa cộng sản. Hoặc như Bành Bái, người đầu tiên tổ chức và lãnh đạo nông dân tỉnh Quảng Đông kịch liệt chống lại giai cấp địa chủ, vốn xuất thân là con nhà đại địa chủ, đại phong kiến. Họ như những đóa hoa sen,

gốc rễ từ bùn đen, vươn lên mặt nước trong trẻo, hấp thụ ánh sáng mặt trời, lại trở

 

nên tươi đẹp, ngát hương. Con người ta cũng như vậy, thành phần giai cấp xuất thân không thể ảnh hưởng xấu đến những người thật thà cách mạng.

 

Tiếc rằng những ý kiến chân tình, sáng suốt ấy đã không được cấp dưới quán triệt trong thực thi chính sách, để cho “chủ nghĩa thành phần” khuynh loát, gây ra bao sai lầm đáng tiếc. Cách thuyết phục của Marx-Lénine là thuyết phục bằng lý luận, theo con đường của văn hóa phương Tây đã hình thành ngay từ thời Aristote. Hồ Chí Minh đi theo con đường của các triết gia phương Đông, kết hợp lý trí với tình cảm, tạo được sự thông cảm, giao cảm với đối tượng. Marx nói: giai cấp vô sản đứng lên làm cách mạng, nếu mất, chỉ mất xiềng xích, còn được, được cả thế giới! Còn Hồ Chí Minh lại hiểu: các nhân sĩ, trí thức, viên chức cao cấp của chế độ cũ,…đi với cách mạng thì họ mất rất nhiều: mất địa vị, danh vọng, tài sản, sự an nhàn, hưởng thụ, có khi cũng phải hy sinh cả tính mạng (như các vị Nguyễn Văn Tố, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch và nhiều người  khác).  Cách mạng là sự nghiệp lâu dài, gian khổ, nếu đối xử kém chân tình, chu đáo, với mặc cảm sẵn có, họ rất dễ xao lòng, mà cách mạng lại đang rất cần đến uy tín, danh vọng và tài năng của họ. Ta mới hiểu vì sao Cụ Hồ lại có sự quan tâm đối với trí thức cũ một cách ân cần, đầy ưu ái đến như vậy.

 

Một đặc điểm nữa rất dễ thấy ở Hồ Chí Minh là phong cách hài hoà, nhuần nhuyễn giữa văn hoá Đông  – Tây: vừa thấu hiểu Nho- Phật- Lão phương Đông, vừa am hiểu sâu sắc văn hoá Âu Tây, nhưng luôn luôn giữ vững, yêu quý và tự hào về bản sắc văn hoá Việt Nam. Cụ Hoàng Đạo Thuý đã khái quát được phong cách đặc sắc ấy trong một đoạn hồi ký sau đây:

 

“Mấy nhà nho cũ thấy Cụ ngồi cạnh cái hòm nhỏ như cái tráp, hí hoáy viết, bảo rằng Cụ là một ông đồ Nghệ. Đeo kính vào nữa thì rõ ràng là một ông đốc học. Những người đi nước ngoài về, hay quen đọc sách Tây, bảo Cụ cực kỳ văn minh, như người châu Âu lịch sự ấy. Nghệ sĩ nghe Cụ nói về một tác phẩm, thấy ngay rằng Cụ là một đồng sự của mình. Cụ tiếp cụ Võ Liêm Sơn, tặng quạt, làm thơ tiễn, thì Cụ là một nhà đạo đức văn chương bậc thầy. Léo Figuère nghe Cụ nói chuyện, cảm như là đến nhà một ông bác ở bên bờ sông Seine. Tay nâng chén rượu chúc mừng, rất trang trọng, mà vung cây đũa đánh nhịp cũng vô cùng là tự nhiên”.[19] Tuỳ theo mỗi đối tượng tiếp xúc mà Cụ Hồ có cách ứng xử thích hợp.

 

Cụ Hoàng kể: Năm 1951, cụ được tham dự một lớp học chính trị. Chiều hôm đó, cụ đi sớm, qua một cánh đồng để được hưởng một chút nắng, tay xách theo một cái đèn để tối còn soi đường về. Bỗng nghe phía sau có tiếng hỏi: “Ông cụ đi tìm ai thế?”. Đúng là Cụ Chủ tịch rồi! Không ngờ Cụ đến thăm lớp học, mà cũng đi đường này. Tôi nghĩ ngay rằng: thấy tôi giữa ban ngày ban mặt mà lại xách một cái đèn nên Cụ Chủ tịch mới mượn một điển tích trong triết học cổ đại Hy Lạp để hỏi đùa tôi. Xưa nhà triết học Diogène thường giữa ban ngày mà  đốt đèn đi ra

 

đường, thấy lạ, có người hỏi, ông bảo “để đi tìm một con người”! Tôi bèn thưa:

“Thưa Cụ, may hơn Diogène, người ấy tôi đã tìm thấy rồi!”.

 

Đúng là một cuộc đối thoại hóm hỉnh mà thâm thuý giữa hai trí thức Tây

 

học!

 

 

Người ta cũng thấy trong Cụ Hồ có sự hài hoà giữa một ông Khổng và một

 

ông Lão, một nhập thế, một xuất thế mà vẫn chung sống được với nhau. Xuất  thân trong một gia đình khoa bảng, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành hăm hở vào đời với lý tưởng “phò đời. giúp nước”của Nho giáo và không  phải nhà nho nào đi theo cách mạng cũng thực hiện được lý  tưởng “tu thân, trị quốc” như Cụ. Nhưng không như mọi  nho sĩ khác: học hành, đi thi để thực hiện mong ước thường tình “nhất tử thụ quan, toàn gia tề thiên lộc” (một người làm quan, cả họ được nhờ). Còn Cụ Hồ thì ngay sau Cách mạng thành công, trả lời các nhà báo nước ngoài năm 1946, Cụ đã nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào…Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui…Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm  bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì vào  vòng danh lợi”.[20]

 

Cũng theo hồi ký của cụ Hoàng, sau bữa cơm chiều ở chiến khu Tân Trào, các nhân viên CP thường ra ngồi nghỉ dọc bên Ngòi Thia, riêng Cụ Hoàng tìm đến một chỗ có nước chảy như thác. Một lát sau, Cụ Hồ cũng tìm đến ngồi bên, chỉ dòng Thia, nói với cụ Hoàng: “Tôi yêu chỗ này lắm!”, rồi hỏi:

 

– Cụ hay đi khắp đất nước, thế có thấy chỗ nào phong cảnh đẹp mà đất tốt

không?

 

– Cụ định làm ruộng ư? Ai cho Cụ nghỉ đấy!

 

– Đến một lúc nào rồi cũng phải nghỉ chứ?

 

Tưởng cũng chỉ là một ước ao thôi, ai ngờ sau Hiệp định Genève, trên đường từ Việt Bắc về xuôi, nghỉ lại nơi một đồi thông xanh mướt dưới chân núi Ba Vì, giáp với bờ sông Đà cát trắng, Cụ đã tự tìm được cho mình một vùng “có non xanh, nước biếc” để sau này làm chỗ nghỉ dưỡng, “câu cá trồng hoa” và thực lòng cũng muốn được gửi hồn cốt tại vùng sông núi thanh tú vốn mang màu sắc huyền thoại này. Địa điểm đó nay đã trở thành một di tích lịch sử, một địa chỉ văn hoá, đang thu hút nhiều du khách đến thăm. Ngắm phong cảnh hữu tình, ai cũng thầm khen Cụ Hồ quả là có con mắt và tâm hồn của một bậc thi hoạ phương Đông.

 

Vua Tự Đức có một nhận xét: “Lão giáo được một cái đúng là tôn tự nhiên”. Cụ Hồ chịu ảnh hưởng của triết lý “theo tự nhiên” này của Lão Tử: luôn chan hoà với thiên nhiên, không thích sống trong cảnh “gác tía, lầu son”, thích ở

 

nhà sàn lộng gió bốn phương, phục sức giản dị, ăn uống đạm bạc. Những người được sống bên Cụ đều cho biết: chưa bao giờ thấy Cụ phàn nàn về thời tiết, mưa không bực, nắng không than, bình thản trước mọi diễn biến của đất trời, dung mạo lúc nào cũng vui vẻ, trán không nhăn, mày không nhíu, mát mẻ như mùa thu, ấm áp như mùa xuân, cứ thuận theo tự nhiên mà sống.

 

Trong thơ của Cụ có trăng có hoa, có mai vàng, tuyết trắng, chim rừng về tổ, mây lượn tầng không, có hoàng hôn, nắng sớm,…Tất cả đều được nhân cách hoá, giao hoà với con người: Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng vào cửa sổ đòi thơ,  Gối  khuya  ngon  giấc  bên  song  trăng  nhòm,  Trần  mà  như  thế  khác  gì tiên,…Nhưng vẫn có điều khác: là tiên mà không thoát tục, vẫn luôn gắn với dân, với nước, với cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân; vẫn theo đuổi lý tưởng nhân văn cao cả, theo triết lý sống trong  sạch, cao thượng, không màng vinh hoa phú quý, coi tiền tài, quyền lực, danh vị như áng phù vân.

 

Khi bước vào tuổi 70, sức khoẻ kém đi, tuy vẫn còn rất minh mẫn và đang ở đỉnh cao của quyền lực, Cụ đã chủ động từng bước chuyển giao nhiệm vụ cho lớp kế cận đã được Cụ đào tạo và chuẩn bị chu đáo. Tuy danh nghĩa vẫn là Chủ tịch đảng, Chủ tịch nước nhưng không trực tiếp điều hành nữa mà thường để Bộ Chính trị bàn bạc tập thể và quyết định, Cụ chỉ góp ý, nhắc nhở và điều chỉnh khi cần thiết.

 

Không tham quyền cố vị, biết chuyển giao quyền lực đúng lúc, không bao biện, làm thay, nhưng Cụ không cho phép mình nghỉ ngơi, vẫn hoạt động không mệt mỏi cho dân, cho nước, nhưng đã siêu thoát khỏi vòng danh lợi. Giữ nguyên nếp sống giản dị, vẫn áo nâu, túi vải, dép lốp, Cụ dành thời gian đi xuống với dân, biểu dương người tốt, việc tốt, bàn chuyện trồng cây gây rừng, săn sóc bữa ăn của công nhân, xuống ruộng tát nước với bà con nông dân, đón tiếp các chiến sĩ từ mặt trận miền Nam ra thăm, tặng lụa cho cụ già, vui tết Trung thu  với  các cháu nhỏ,…Phơ phơ tóc bạc, vóc hạc mình gầy, Cụ hiện ra trong tâm trí của người dân không phải như một vị Chủ tịch nước mà như một “ông tiên” trong truyện cổ tích.

 

Từ thực tiễn nghiên cứu và khám phá về Hồ Chí Minh, nhà sử học Pháp G. Boudarel đã sớm nhận ra ảnh hưởng của Lão Tử trong nhân cách, đạo đức Cụ Hồ, nên đã mượn một câu trong Đạo đức kinh làm kết luận cho bài viết về chân dung nhà chính trị châu Á này: “Người tướng giỏi thì không dùng vũ lực, người chiến đấu giỏi thì không nổi giận, người khéo thắng địch thì không cần giao tranh mà vẫn thắng, người khéo dùng người thì đặt mình dưới người ta. Đó là cái đức của sự không tranh”.[21]

 

Một tấm lòng nhân ái, khoan dung, đại lượng

 

Cụ Hồ nói: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình, bác ái” và chính Cụ là tinh hoa của tinh thần khoan dung, nhân ái Việt Nam. Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở lòng yêu thương sâu sắc đối với con người, ở cái nhin rộng lượng đối với những giá trị khác biệt với mình, ở sự tôn trọng niềm tin của người khác, không áp đặt quan điểm của mình lên người khác, xa lạ với mọi thái độ kỳ thị, cuồng tín, giáo điều. Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh được xây dựng trên nguyên tắc công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, nên cũng không chấp nhận thỏa hiệp vô nguyên tắc với tội ác và bất công, với tất cả những gì chà đạp lên “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” của mỗi con người và của các dân tộc.

 

Đi với thực dân xâm lược, khi họ đã dùng bạo lực của kẻ mạnh để xâm lược, đàn áp kẻ yếu thì không có cách nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng của quần chúng để giành lại độc lập và bảo vệ đất nước. Làm sao có thể “xin giặc rủ lòng thương” mà có được độc lập? Đó là chân lý được đúc kết từ mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của cha ông truyền lại, từ các cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi,  Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học,… chứ đâu phải vay mượn từ học thuyết ngoại lai nào?

 

Do thiết tha với hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng ta càng nhân nhượng, kẻ thù càng lấn tới, buộc ta phải cầm súng đứng lên tự vệ theo tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Tuy nhiên, trong chiến đấu, Cụ Hồ luôn giáo dục nhân dân ta biết phân biệt bọn thực dân xâm lược Pháp với nhân dân Pháp, giữa bọn thực dân phản động Pháp với những người còn có lương tri trong hàng ngũ của họ, nhằm chĩa mũi nhọn vào bọn đầu sỏ hiếu chiến nhất. Cụ đã làm hết sức mình để tránh không gây ra mối hận thù đối với dân tộc Pháp – một dân tộc mà Cụ luôn yêu mến và kính trọng.

 

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, việc dụng binh cũng là việc nhân nghĩa, nên Cụ đã tìm mọi cách để hạn chế đến mức thấp nhất những thương vong trên chiến trường, cho cả quân ta và quân địch. Cụ nói: “Trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt đều là máu, người Pháp hay người Việt đều là người”. Để chiến thắng, ta phải từng bước tiêu hao sinh lực địch, nhưng mục tiêu của ta là đánh bại, đánh sập ý chí xâm lược của họ, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” chứ không coi việc đánh tiêu diệt hoàn toàn quân địch trên chiến trường là biện pháp duy nhất dể kết thúc chiến tranh. Ta hiểu vì sao Cụ không tán thành cách diễn đạt của một nhà thơ khi gọi trận đánh chết nhiều người là “một trận đánh đẹp”. Cụ từng nói: “Đánh mà thắng là giỏi, nhưng không đánh mà thắng lại càng giỏi hơn”. Theo tư tưởng binh pháp cha ông, Cụ chủ trương “đánh vào lòng người là hơn hết,

 

đánh vào thành trì là thứ hai”, vì vậy Cụ rất coi trọng binh vận và địch vận, coi

“khéo ngụy vận cũng là một cách tiêu diệt sinh lực địch”.

 

Ngay sau Cách mạng tháng Tám, lợi dụng tình hình còn rối ren, tù trưởng dân tộc Mèo Vương Chí Sình ở Hà Giang nổi lên chống ta, giết hại một số cán bộ và người dân. Quân dân ta chuẩn bị tấn công vào sào huyệt của “vua Mèo”. Được tin, Cụ Hồ chỉ thị phải ngừng ngay lại, sau đó đích thân gửi thư mời Vương Chí Sình về Hà Nội, tiếp đãi tử tế, rồi kết nghĩa anh em, giới thiệu họ Vương ứng cử vào Quốc Hội khóa I. Kết quả là dẹp yên được cuộc nổi loạn mà không mất một viên đạn, một giọt máu nào.

 

Ngày 10-6-1947, được tin tướng Raoul Salan – người đã từng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến sang thăm nước Pháp năm 1946 – vừa được cử làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, thay cho tướng J.Valluy, Cụ Hồ liền gửi cho R. Salan một bức thư, trong đó có đoạn viết:

 

Chúng ta từng là những người bạn tốt…Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng ta thành hai kẻ  đối địch. Điều đó thật đáng tiếc!…Về phần tôi, bổn phận thiêng liêng của một người dân yêu nước buộc tôi phải chiến đấu vì Tổ quốc và đồng bào mình. Còn về phía Ngài, trách nhiệm quân nhân cũng buộc Ngài phải làm những điều mà trái tim Ngài không muốn…Vì chúng ta buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta lại trở thành bạn hữu của nhau…Vì tình yêu  thương  con người, lòng nhân đạo và nhân danh tình bạn của chúng ta, tôi yêu cầu Ngài nghiêm cấm binh lính Pháp sát hại dân lành, hãm hiếp phụ nữ, đốt phá làng mạc, phá hủy nhà thờ, đền miếu như họ vẫn làm từ trước tới nay.

 

Tôi bảo đảm với Ngài rằng binh lính và thường dân Pháp ở chỗ chúng tôi được đối xử rất tử tế. Tôi hy vọng người của chúng tôi trong tay các ngài cũng được đối xử như vậy”[22].

 

Có lẽ, trên thế giới, hiếm có một bức thư nào gửi cho tướng giặc trước trận đánh lại được viết bằng một ngôn luận hòa ái, lịch thiệp, cao thượng và chính trực đến như vậy. Từ bạn hữu, buộc phải thành địch thủ, thì hãy chiến đấu một cách hào hiệp và quân tử, để sau chiến đấu sẽ trở lại là những người bạn. Đó mới thực sự là cuộc chiến đấu của những hiệp sĩ chân chính, vì những mục tiêu cao cả chứ không vì hận thù dân tộc hay cá nhân.

 

Về phần mình, Cụ Hồ đã luôn nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ ta cần nêu cao lý tưởng chính nghĩa, nhân đạo, hòa bình, phải có sự đối xử khoan hồng với tù binh và kiều dân Pháp, để “làm cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước[23]. Một lần, đến thăm trại tù binh sau Chiến dịch Biên giới, thấy một đại úy quân y Pháp ở trần, đang run lên vì cái lạnh

 

của núi rừng Việt Bắc, Cụ đã cới chiếc áo ngoài đang mặc, trao cho anh ta. Tinh thần nhân đạo của Cụ Hồ có sức cảm hóa sâu sắc, đã có không ít sĩ quan và binh lính Pháp phản chiến, bỏ ngũ hoặc chạy sang chiến đấu dưới ngọn cờ đại nghĩa của Hồ Chí Minh.

 

Đi với nhân dân ta, Cụ Hồ khuyên phải đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài…Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta…Ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc…Đối với  những  đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa

họ[24].Để làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, Cụ Hồ đã  thu phục và

cảm hóa được nhiều nhân sĩ, trí thức, quan lại cao cấp của chế độ cũ tham gia chính quyền mới, như cựu Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, Thượng thư Bùi Bằng Đoàn, Bộ trưởng Thanh niên Phan Anh, Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai,… và nhiều người khác. Được tin ông Trần Trọng Kim – nguyên Thủ tướng Chính phủ bù nhìn do Nhật lập nên ngày 17-4- 1945, vừa từ Huế ra Hà Nội, Cụ Hồ liền cử ông Hoàng Minh Giám đi tìm gặp, tiếc rằng khi tìm được đến nơi thì họ Trần đã cùng với gia đình vừa rời bỏ ra nước ngoài.

 

Tưởng cũng cần nhắc lại rằng các cuộc Cách mạng dân chủ tư sản Anh, Pháp, Nga nổ ra ở châu Âu các thế kỷ trước, vua và hoàng hậu cùng nhiều người có vai vế trong hoàng tộc đã không thoát khỏi số phận lên đoạn đầu đài! Riêng cuộc cách mạng dân chủ ở Việt Nam, cựu hoàng Bảo Đại lại được Cụ Hồ mời ra Hà Nội làm Cố vấn tối cao cho Chính phủ. Ngày 5-9-1945, vừa tiếp Bảo Đại đến chào buổi sáng, ngay chiều hôm đó, Cụ Hồ đã đến thăm ông Cố vấn tại tư dinh ở

51 đường Gambetta. Hai con người, một cụ già cách mạng gày gò, sương gió, khoác tay một ông hoàng còn trẻ, đày đặn, phương phi cùng đi dạo, nói chuyện trong sân, tạo nên một hình ảnh tương phản mà đoàn kết, hòa hợp dân tộc hiếm có trong cách mạng. Sau một thời gian ở Hà Nội, Bảo Đại viết thư về cho mẹ, khoe: “Cụ Hồ tốt lắm! Con ra đây được Cụ thương lắm! Cụ thương như con! Ả cứ yên tâm. Không phải lo chi cho con cả”[25].

 

Ngày 16-3-1946, Cố vấn Vĩnh Thụy tham gia phái đoàn thân thiện của Chính phủ Việt Nam thăm Trùng Khánh. Kết thúc chuyến đi, Bảo Đại tuyên bố: tôi ở lại đi du lịch, không về nước. Cụ Hồ đã biết trước ý định ấy của ông Cố vấn, nhưng vẫn tỏ ý lấy làm tiếc về sự lựa chọn của Bảo Đại. Từ cuối 1946 đến đầu

1948, Cụ Hồ đã có vài lần cải tổ Chính phủ, nhưng trong danh sách Chính phủ mới, các bộ trưởng là thành viên cũ của Việt quốc, Việt cách không bỏ chạy theo quân Tưởng, như Chu Bá Phượng, Bồ Xuân Luật, vẫn được Cụ Hồ giữ lại, kể cả

ông Cố vấn Vĩnh Thụy, vói chú thích bên cạnh: “Đang ở nước ngoài vì việc riêng”! Không muốn nhịp cầu bị cắt, Cụ Hồ đã nhiều lần thuyết phục Hội đồng

 

Chính phủ vẫn cứ gửi cho Bảo Đại một số tiền, như là phụ cấp cho ông Cố vấn đang đi công tác! Theo ông Phạm Khắc Hòe kể lại, ông Phạm Ngọc Thạch và ông đã từng được cử mang vàng và ngoại tệ sang cho Bảo Đại chi tiêu. Có lẽ do đối xử quá tốt của Cụ Hồ nên Bảo Đại đã ngập ngừng nhiều năm, đến cuối 1948 mới nhận lời Bolaert ra làm con bài cho Pháp.

 

Ba mươi lăm năm sau, khi đã thất thế, phải sống lưu vong ở nước ngoài, được hỏi: ông có ân hận gì không khi nhận lời ra làm cố vấn cho Chính phủ Cụ Hồ, Bảo Đại trả lời: “Không có ân hận gì cả về quyết định này, bởi lúc đó chẳng có ai, chẳng có lực lượng nào đủ sức làm cho nước Việt Nam độc lập, vinh hiển, ngoài lực lượng của Cụ Hồ”[26].

 

Cũng thời gian đó, vào cuối năm 1945, Ngô Đình Diệm bị quân dân ta bắt ở nam Trung bộ, giải ra Hà Nội. Biết việc này, với tư cách Chủ tịch Chính phủ, Cụ Hồ quyết định trả lại tự do cho ông ta. Ngày 15-1-1946, Cụ tiếp riêng Ngô Đình Diệm tại Bắc bộ phủ, thuyết phục ông ta đi với nhân dân, tham gia vào việc nước, nhưng ông Diệm từ chối, tuyên bố: sẽ vẫn tiếp tục chống Pháp, nhưng không thể đi với Việt Minh! Nhiều cán bộ giúp việc quanh Cụ  không đồng tình, cho ông Diệm là người thân Nhật, rất nguy hiểm. Cụ Hồ đáp: Nếu ông ta thân Nhật, thì Nhật đã tan tành rồi, còn chỗ nào mà thân nữa! Còn ông ta nói vẫn chống Pháp, nhưng không đi với Việt Minh, thì cứ thả ông ta ra để ông ấy chống Pháp theo kiểu của ông ấy!

 

Cuộc tiếp kiến đã để lại cho ông Diệm một ấn tượng sâu sắc. Có lẽ vì vậy mà con người chống cộng cực đoan này chưa một lần nào có lời lẽ thất lễ với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau này, trong một cuộc trò chuyện thân mật với anh Hai Nhạ tại Dinh Gia Long, ông Diệm vẫn nhớ lại hình ảnh mảnh dẻ, giản dị, phong sương của Cụ Hồ trong buổi tiếp: Cụ mặc quần soóc, chân đi dép cao su trắng, với điếu thuốc lá trên môi, nhưng lời nói và cử chỉ thì rất mực lịch thiệp. Ông Diệm có thốt ra với Vũ Ngọc Nhạ một câu: “Cụ Hồ là bậc đại nghĩa, còn qua là người tiểu khí. Nhưng nếu qua nhận lời cộng  tác với cụ Hồ thì qua biết ăn nói thế nào với dòng họ Ngô về cái chết của anh tôi và cháu tôi bởi tay Việt Minh”?[27] Cũng có thể tin đó là một lời nói thực lòng.

 

Đi với các tôn giáo, Cụ Hồ thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lẽ sống cao đẹp, những giá trị đạo đức- nhân văn của các vị sáng lập, không hề bài bác, phủ định mà biết tìm ra cái chung giữa lý tưởng của các tôn giáo với mục tiêu giải phóng dân tộc, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân mà chúng ta đang theo đuổi. Về Đức Phật, Cụ viết: “Đức Phật là đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn; muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải hy sinh tranh đấu diệt lũ ác ma”[28].

 

Về Chúa Giêxu, Cụ viết: “Gần 20 thế kỷ trước, một vị thánh nhân đã ra đời. Cả đời Người chỉ lo cứu thế, độ dân, hy sinh cho tự do, bình đẳng”. Cuối bức thư chúc mừng lễ giáng sinh, Cụ hô: “Thượng đế và Tổ quốc muôn năm!”[29]. Mùa hè năm 1946, tại Paris, Cụ Hồ tiếp môt nhóm linh mục công giáo đến thăm, trong đó có linh mục Cao Văn Luận – một tín đồ công giáo xác tín . Sau này, ông  đã thuật lại trong hồi ký của mình lời của Cụ Hồ trong buổi gặp: “Chính phủ bên nước nhà đang theo đuổi mục tiêu tranh thủ độc lập, đem hạnh phúc lại cho toàn dân. Nhưng muốn đem hạnh phúc cho toàn dân, thì phải thực hiện xã hội chủ nghĩa. Giả sử mà chúa Giêxu sinh ra vào thời đại này, trước sự đau khổ của người đời như lúc này, mà Chúa muốn cứu vớt, thì chắc là cũng phải theo xã hội chủ nghĩa”[30].

 

Cụ luôn nêu cao tinh thần khoan dung tôn giáo, phấn đấu hết mình cho đoàn kết Lương – Giáo trong đại đoàn kết dân tộc.Tại cuộc họp mặt các đại biểu tôn giáo, đảng phái tại Chùa Bà Đá Hà Nội, mừng Chính phủ Liên hiệp Lâm thời vừa thành lập, do Cố vấn Vĩnh Thụy chủ trì, Cụ Hồ nói: “Nước Phật ngày xưa có những bốn đảng phái, làm ly tán lòng dân và hại Tổ quốc. Nhưng nước Việt Nam ngày nay chỉ có một đảng phái là toàn dân quyết tâm giành độc lập. Tín đồ  Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia tô giáo tin ở Đức Chúa Trời, cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với nhân dân, chúng ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, chúng ta phải làm nấy”[31]

 

Nói về khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh, chính J. Sainteny thừa nhận: “Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để thấy nơi chương trình của Cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi, hoặc chế diễu bất kỳ một tôn giáo nào”[32].

 

Một phong cách ứng xử chân thành, khiêm tốn, lịch lãm.

 

Trong cuộc đời oanh liệt và phong phú của mình, Cụ Hồ đã trải qua bao bước thăng trầm của hoàn cảnh, với bao tình huống éo le, phức tạp phải giải quyết; đã gặp gỡ, tiếp xúc với đủ hạng người sang hèn trong xã hội, từ đồng bào trong nước đến bạn bè quốc tế năm châu, từ những lãnh tụ hàng đầu của cách mạng thế giới đến những tên thực dân cáo già quỷ quyệt,…qua đó Cụ đã để lại cho chúng ta một tấm gương quý giá về văn hóa ứng xử.

 

Vĩ nhân, thật vĩ nhân, bao giờ cũng rất mực giản dị, khiêm tốn, lịch lãm. Cuộc đời cách mạng phi thường cùng tấm gương đạo đức vô song đã đưa Cụ Hồ lên hàng những nguyên thủ quốc gia có uy tín và danh vọng lớn trên thế giới. Tuy nhiên, trong những cuộc tiếp xúc, người ta lại thấy Cụ luôn nhã nhặn, khiêm tốn, không bao giờ đặt mình cao hơn người khác nhưng lại quan tâm rất mực tế nhị và chu đáo đến những người chung quanh.

 

Linh mục Cao Văn Luận có đôi lần được dự các buổi tiếp tân của Cụ Hồ ở Paris năm 1946, phần đông thuộc lớp tinh hoa Pháp-Việt, kể lại: “Cụ Hồ bước ra, bắt tay mọi người, nói chuyện phiếm. Tôi phải công nhận Cụ Hồ là một người hiểu biết rộng rãi. Vấn đề gì Cụ cũng có thể nói chuyện sơ qua và tỏ ra hiểu biết…Dù mọi người kính nể Cụ Hồ, nhưng trong câu chuyện, đôi lúc cố ý, đôi lúc vô tình, họ không khỏi nêu lên những vấn đề khó khăn, có thể làm cho người được hỏi lâm vào thế kẹt. Tôi chưa lúc nào thấy Cụ Hồ bị kẹt như thế”. “Cụ Hồ nói chuyện thân mật với các thiếu phụ, đàn bà Pháp rất tự nhiên. Cụ tự tay hái những bông hồng đẹp nhất cài lên áo, lên tóc những bà mệnh phụ tham dự kèm theo những lời khen áo đẹp, những câu ca tụng nước Pháp… Người  Pháp có cảm tình với Cụ nhiều lắm”[33].

 

Sau Hiệp định Genève, ông Sainteny được Chính phủ Pháp cử làm Tổng Lãnh sự Pháp đầu tiên tại Hà Nội. Đối với ông, cuộc gặp lại đầu tiên sau mười năm với kẻ chiến thắng, là một việc khó khăn. Ông kể: “Chúng tôi cũng mất đến một phút nặng nề trôi qua, không, không đến một phút đâu…có lẽ chỉ vài giây thôi, rồi Cụ Hồ tiến lại phía tôi mà nói rằng: “Nào, chúng ta phải ôm hôn nhau đi chứ!”.Và chúng tôi đã ôm hôn nhau. Chính lúc đó, Cụ nói với tôi: “Chúng ta đã đánh nhau, đánh nhau quá nhiều, song rất trung chính. Bây giờ cần quên đi tất cả những cái đó, cần cùng nhau làm việc…”[34].Thật là một cách ứng xử tuyệt vời! Người chiến thắng không hề tỏ ra một chút vênh vang, kênh kiệu nào mà chủ động giơ tay ra trước, nhanh chóng xóa bỏ phút nặng nề cho đối phương bằng một cử chỉ chân thành, lịch lãm.

 

Khách quốc tế từng một lần được tiếp xúc với Hồ Chí Minh đều có một cảm nhận chung: Cụ chủ động xóa bỏ mọi nghi thức, đến thẳng với trái tim con người bằng một tình cảm thân mật, gần gũi, tự nhiên, không chút gắng gượng. Chỉ một câu nói đùa, một cử chỉ thân mật, một lời hỏi thăm chân tình,…Cụ đã xóa đi ngay mọi ngăn cách, tạo ra một không khi thoải mái, ấm áp, như trong một gia đình.

 

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Cụ Hồ có cuộc gặp mặt với các nhà văn, nhà báo nước ngoài đã tham gia chỉến dịch. Cụ dùng tiếng Nga, tiếng Pháp hỏi thăm tình hình sinh hoạt, sức khỏe của các nhà báo phương Tây. Khi giới thiệu đến nhà văn Đới Hoàng, Cụ dùng tiếng Trung Quốc hỏi: – “Ở Điện Biên Phủ, làm sao đồng chí ngã ngựa thế, giờ đồng chí đã khỏi chưa?”. Nhà văn Đới Hoàng kể lại: “Khi nghe hỏi thế, tôi không hề ngạc nhiên, vì đối với ai, Người cũng có tấm lòng của người mẹ hiền. Nhưng tôi không khỏi không cảm động: một chuyện nhỏ như thế mà sao cũng đến tai Người và Người lại nhớ lâu đến thế!”[35].

 

Mùa xuân 1969, Đoàn đại biểu Ủy ban Việt Nam của CHDC Đức thăm Việt Nam, được đến chào Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lúc này sức khỏe của Cụ đã yếu đi nhiều. Thấy các vị khách tỏ vẻ lo lắng, Cụ mỉm cười đôn hậu: “Các đ/c đừng lo, tôi

 

vẫn ăn ngủ, làm việc bình thường”. Rồi Cụ hỏi một cách thân mật: -“Các chú có thấy lạnh không”? Tất cả đều trả lời “không”, vì với người Đức, tháng giêng ở Việt Nam quả là không lạnh. -“Không lạnh, nhưng rất nguy hiểm”. Nói xong, Cụ cởi chiếc khăn quàng của mình, quàng cho ông Mác Dêphrin – Chủ tịch Ủy ban Việt Nam, hôm ấy đang húng hắng ho. “Cử chỉ ấy làm cho ai nấy đều cảm động, nó thể hiện tình cảm của một người cha đối với những đứa con từ xa về”[36].

 

Là một người hoạt động quốc tế lịch lãm nhưng Cụ Hồ không mấy câu nệ về hình thức, không để bị ràng buộc bởi những nghi lễ ngoại giao trang trọng, cứng nhắc mà thường có cách ứng xử linh hoạt, biến hóa, đem lại hiệu quả thú vị, gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người.

 

Năm 1959, Cụ Hồ sang sân bay Gia Lâm đón Tổng thống Ấn Độ, khi đó Ấn Độ đang giữ vai trò quan trọng là chủ tịch Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế ở Việt Nam. Vị tổng thống cao tuổi này đã đọc một bài diễn văn không được hấp dẫn lắm trước quần chúng đón tiếp tại sân bay. Bỗng người ta thấy Cụ Chủ tịch gạt người phiên dịch sang một bên và nói: “Tổng thống phát biểu thì Chủ tịch phiên dịch mới hợp”. Rồi bằng một cách khéo léo kỳ lạ, Cụ đã dịch những câu tiếng Anh tẻ nhạt kia thành những câu tiếng Việt hấp dẫn, gây hào hứng, sôi nổi cho người nghe. Tiếng hoan hô, vỗ tay nổi lên như sấm. Buổi đón tiếp đã thành công mĩ mãn. Vị tổng thống nước bạn tỏ ra rất xúc động trước nhiệt tình, mến khách của nhân dân Việt Nam .

 

Một nét đặc sắc trong văn hóa giao tiếp, nó cắt nghĩa sự thành công và khả năng chinh phục của Cụ Hồ, là Cụ luôn xuất hiện với một nụ cười, trong ánh mắt hoặc trên đôi môi. Ai đã đọc văn thơ Cụ đều từng biết đến những nụ cười nhiều cung bậc trong Ngục trung nhật ký. Trong ứng xử đời thường, sự hóm hỉnh, năng khiếu hài hước ấy càng được thể hiện đa dạng, phong phú hơn, để đùa vui, để nhắc nhở, châm biếm, giáo dục và nhất là để xóa đi cái cách bức, cái trịnh trọng không cần thiết, nhằm tạo ra không khí giao hòa, gần gũi giữa lãnh tụ với quần chúng.

 

Cụ Hồ rất thich vui với quần chúng. Phải nói Cụ là người vui tính và dí dỏm nữa. Vì vậy, thường thấy mỗi khi Cụ Hồ xuất hiện ở đâu là ở đó rộn lên niềm vui và tiếng cười hồ hởi không dứt. Những năm kháng chiến  ở Việt Bắc, để tạo ra không khí vui vẻ trong sinh hoạt kháng chiến nơi “u tì quốc”, Cụ Hồ nói với cụ Hoàng Đạo Thuý tổ chức một đêm lửa trại, vì cụ Hoàng vốn là một huynh trưởng Hướng đạo sinh biết nhiều trò chơi. Cụ Hoàng ngần ngại: chỉ có mấy cụ già và mấy ông bộ trưởng bận bịu, lửa trại khó vui lắm. Cụ Hồ đáp: sẽ vẫn vui đấy. Cụ Hoàng nảy ý tinh nghịch: nếu tôi làm “trùm lửa” thì ai cũng phải nghe tôi đấy!- Nhất định rồi! Cụ Hồ tủm tỉm cười, chắc đã hiểu được ý cụ Hoàng.

 

Lửa trại bùng lên. Ngồi quanh Cụ Hồ là các cụ Tôn Đức Thắng, Phan Kế

Toại, Phạm Bá Trực,…vài chục ông bộ, thứ trưởng và các nhân viên CP. Khai mạc

 

lửa trại, cụ Hoàng đến trước mặt cụ Hồ, chắp tay: Xin mời Cụ Chủ tịch hát mở đầu lửa trại! Thấy Cụ Hồ bị “bỏ bom”, mọi người vừa thích thú, vừa lo ngại. Không chút ngần ngừ, Cụ nhẹ nhàng đứng dậy, vừa đi quanh lửa trại, vừa lên tiếng hát: “Anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu, dấy binh lấy lau làm cờ, quên mình là mình giúp nước…”. Già trẻ ai nấy con mắt long lanh, âu yếm nhìn Cụ Chủ tịch của mình. Thế là cuộc lửa trại bắt đầu vui lên.

 

Một lần khác, bác sĩ Trần Duy Hưng được cử làm “trùm lửa”, cũng muốn

thử   trêu Cụ một cách trìu mến, xem Cụ có bí không. Ông giang hai tay giả làm máy bay, miệng kêu “ù ù’ rồi “hạ cánh”, chụm tay bắc loa: Alô, alô! Thưa đồng bào tp Hồ Chí Minh, Cụ Chủ tịch bay vào thăm đồng bào, xin mời Cụ Chủ tịch ra

nói chuyện…Cụ nhổm dậy, nói ngay: “Thưa đồng bào, tôi đi máy bay vào, hơi bị mệt, xin để bác sĩ Trần Duy Hưng thay tôi nói chuyện với đồng bào!” Lúc đó, đâm ra chính ông trùm lửa bị bí chứ không phải là Cụ Hồ.

 

Năm 1955, Hà Nội vừa giải phóng được ít lâu, Cụ Hồ đến thăm NHA MAY CO KHI GIA LAM. Tấm biển trên cổng ra vào sơn chữ to nhưng không có dấu. Vào nhà máy, mở đầu câu chuyện với anh chị em công nhân, bỗng Cụ hỏi: “Nhà máy các cô, các chú ʻcó khỉʻ à?” Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu thế nào mà Cụ lại hỏi về chuyện “khỉ” thế này! Không ai trả lời được. Cụ giục: “Thế nào, trên biển nhà máy đề ʻcó khỉʻ cơ mà?”.- Dạ thưa, có đâu ạ. Cụ cười: “Có đấy! Biển nhà máy cơ khí Gia Lâm của các cô, các chú viết bằng chữ quốc ngữ mà không có dấu, nên Bác đọc nhầm là “nhà máy có khỉ” mà khỉ lại… “già lắm”! Cuộc gặp gỡ đã  được mở đầu rất vui. Ai cũng được hưởng một trận cười sảng khoái và nhận được một lời phê bình nhẹ nhàng mà thấm thía.

 

Mùa hè năm 1957, trong chuyến đi thăm Quảng Bình, Cụ Hồ và những người cùng đi dùng bữa cơm trưa tại Đồng Hới. Bữa cơm có những món đặc sản miền Trung: mắm tôm chua, rau muống chẻ, cá thu kho,…Mọi người ăn uống một cách ngon lành, thích thú. Cụ Hồ chỉ tay sang bác sĩ Nhữ Thế Bảo – bác sĩ riêng của mình – nói đùa: “Bác sĩ khuyên mọi người nên ăn chín, uống sôi, còn bản thân mình thì ăn rau sống hơi nhiều đấy”! Mọi người cười vang, bữa ăn càng thêm vui vẻ.

 

Không chỉ đùa vui người khác, đôi lúc Cụ cũng nói đùa về bản thân mình. Những bài thơ “tự trào” trong Nhật ký trong tù cho thấy Cụ đã đứng cao hơn mọi đau khổ, bệnh tật mà kẻ thù cố tình đày đọa Cụ như  thế  nào, ta đã biết. Trong kháng chiến chống Pháp, có lần Cụ đội mưa to, đi bộ hàng mấy cây số, đến thăm và động viên một lớp học chính trị của trí thức. Giữa lúc mọi người đang thất vọng vì thấy mưa rừng to quá, chắc Cụ không đến được, thì trong chiếc áo mưa sũng nước, quần sắn quá đầu gối, nón lá đội đầu, Cụ hiện ra trong niềm ngạc nhiên, hân hoan và vui sướng của tất cả mọi người. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm” rộn

 

vang cả rừng núi.. Cụ bước lên diễn đàn, giơ tay bảo ngừng, nói: “Muôn năm làm cái gì? Trăm năm đã là quá. Còn bây giờ, Bác chỉ “muốn nằm” một tí thôi!”.

 

Năm 1946 tại Paris, sau khi đặt vòng hoa viếng mộ “người chiến sĩ vô danh”, xe đưa Cụ qua đại lộ Champs – Élysées, trở về khách sạn. Vị quan chức tháp tùng Cụ, nói: “Thưa Chủ tịch, đã có rất đông người đang đứng xem Ngài đi qua!”.Cụ Hồ bật cười đáp: “Chắc hẳn là thế ông ạ! Người ta muốn xem hề Charlot Việt Nam đấy mà!”.[37]

 

Chính ở đây bộc lộ một nét cao thượng trong nhân cách Hồ Chí Minh, điều mà giới trí thức và chính  khách phương Tây rất hâm mộ: ở Hồ Chí Minh tuyệt nhiên không hề có một vết gợn nào của tệ sùng bái cá nhân. Không ít người cầm quyền làm cho người dân bình thường khi được dịp đến gần có cảm giác như bị nghẹt thở, nhưng với Hồ Chí Minh thì, như một nhà thơ đã khái quát  trong một câu thơ để đời: “Đến bên Người, ta thở dễ dàng hơn”![38] Cụ Hồ đã đem lại hình ảnh mới về một vị Chủ tịch thực sự của nhân dân.

 

Sau những ngày được đến Việt Bắc, được gặp gỡ, tiếp xúc với Cụ Hồ vào thời gian cuối cuả cuộc kháng chiến chống Pháp, kết thúc bàì bút ký của mình, nhà báo Mỹ R. Shaplen đã viết: “Trong rừng Việt Bắc, Cụ Hồ như một ông tiên. Nêú có ai bảo đây là một ngườì cộng sản thì tôi có thể nói Cụ là một ngườì cộng sản khác với quan niệm mà ta vẫn thường nghĩ và theo tôi có thể dùng một từ mới : một người cộng sản phương Đông, một ngườì cộng sản Việt Nam”[39]./.

 

 

 

[1] Térence ( 190-159 TCN), nhà thơ, nhà viết hài kịch Lamã cổ đại. Nguyên văn chữ la tinh: “Nihil humani a me alienum puto”.

 

[2] Hồ Chí Minh TT, xuất bản lần 2, 1995-1996, t.5, tr. 428. Các trích dẫn của Hồ

Chí Minh, đều lấy từ lần xuất bản này.

 

[3] Hồ Chí Minh TT, sđd,  t.4, tr. 350. [4] Hồ Chí Minh TT, t. 5, tr. 643-644

[5] Hồ Chí Minh TT, t. 4, tr. 357 và  267. Trong Kinh Cựu ước cũng như trong Tân ước và cả trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền, sau trở thành Hiến pháp 1793 của nước Pháp, ở điều 6, đều có một câu mang nội dung  tương tự: “Ne fais pas autrui ce que tu ne veux  pas  qu’il te soit fait”(Chớ làm cho người khác điều ta không muốn người khác làm cho mình).

 

[6] Hồ Chí Minh TT, t.4, tr. 65.

 

[7] Hồ Chí Minh TT, t. 5, tr. 129.

 

[8] Việt Phương: Cửa mở, Nxb Văn Học, H,.1970, tr. 58.

 

[9] “Chúng ta, những người cộng sản, chúng ta là những người có một tính cách đặc biệt riêng. Chúng ta được cấu tạo bằng một chất liệu đặc biệt riêng. Chúng ta họp thành đạo quân của nhà chiến lược vô sản vĩ đại- đạo  quân của đồng chí Lênin…” (Điếu văn của Staline đọc trong lễ truy điệu Lênin, tháng 1-1924 tại Maxkva).

 

[10] Hồ Chí Minh TT, t. 9, tr.555. [11] Hồ Chí Minh TT, t. 5, tr. 263. [12] Hồ Chí Minh TT, t. 5, tr. 552.

[13] Bài đăng trên Newsweek ra ngày 25-04-1959. Dẫn lại theo P. Brocheux : “Ho

Chí Minh, a biography”, tr. 185.

 

[14] Nguyên văn tiêng Pháp: “Avec un courage invincible et une vertu immaculée, qui furent comme le vrai or qui  brille avec mille éclairs après avoir subir mille épreuves du feu, ton aïeul Gia Long, plusieurs fois noble et  valeureux, vous a laissé, après des péripéties et des souffrances inocalculables, un pays riche, un peuple indépendent, une nation respectée par les forts et aimée par les faibles, un avenir plein de vie et d’évolution”.  (Les lamentations de Trung Trac, đăng trên L’Humanité, ngày 22-06-1922 ). Bài này do Phạm Huy Thông dịch, lần đầu tiên in trong  “Truyện và Ký” của Nguyễn Ái Quốc, nhưng dịch giả hay NXB Văn học, đã lược đi 2 đoạn, trong đó có đọan này. NXB Sự Thật đã đưa nguyên văn bản dịch cuả Phạm Huy Thông vào Hồ Chí Minh TT, t.1,  xb lần thứ nhất, năm 1980.

 

[15] Hồ Chí Minh TT, t.4, tr. 87.

 

[16] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Văn

Học, 1970, tr. 110.

 

[17] Hồ Chí Minh TT, t. 1, tr. 479.

 

[18] Xem bài Hoa sen, Hồ Chí Minh TT, t.8, tr. 139-140.

 

[19] Hoàng Đạo Thuý: Hồi ký “Theo Bác”, viết năm 1985, lưu tại Bảo tàng Hồ

Chí Minh .

 

[20] Hồ Chí Minh TT, s đ d, t. 4, tr. 161.

 

[21] Hommes d’état d’Asie et leur politique, bài viết về Ho Chi Minh của G. Boudarel, Académie de Paris,  Université René Descartes,  2 – 1980, p. 129. Lời dịch tiếng Việt, tôi dựa theo bản dịch của Thu Giang Nguyễn Duy Cần.

 

[22] Hồ Chí Minh TT,t. 5. tr. 141-142.

 

[23] Hồ Chí Minh TT, t. 4, tr. 28.

 

[24] Hồ Chí Minh TT,t. 4. tr. 246.

 

[25] Dẫn lại theo Phạm Khắc Hòe: “Từ triều đình Huế đén chiến khu Việt Bắc”, Nxb Thuận Hóa, Huế,1987, tr. 117.

 

[26] Trả lời phỏng vấn của GS Ngô Vĩnh Long, trong phim “Việt Nam, một thiên lịch sử truyền hình”.

 

[27] Câu chuyện này do ông Trần Quốc Hương (tức Mười Hương, nguyên Bí thư TƯ Đảng, người trực tiếp chỉ đạo mạng lưới tình báo chiến lược ở Miền Nam thời chống Mỹ, trong đó có Vũ Ngọc Nhạ), nói với tác giả trong một buổi làm việc tại nhà riêng của ông ở tp Hồ Chí Minh, đầu năm 2004.

 

[28] Hồ Chí Minh TT, t.5, tr.197.

 

[29] Sđd, t. 4, tr. 490

 

[30] LM Cao Văn Luận: “Bên giòng lịch sử 1940-1965”, Hồi ký, chương 8 “Ba lần gặp gỡ Hồ Chí Minh”

 

(Theo bản trên mạng vantuyen.net/).

 

[31] Hồ Chí Minh TT, t. 4, tr. 148.

 

[32] J. Sainteny : “Đối diện với Hồ Chí Minh “, Seghers, Paris, 1970, tr. 155-156. [33] LM Cao Văn Luận: “Ba lần gặp gỡ Hồ Chí Minh “, trong Hồi ký đã dẫn.

[34] J. Sainteny: “Un accord sans lendemain”, Planète Action, Mars 1970, p.100.

 

[35] Đới Hoàng: Ấn tượng về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Thông tục độc vật, Bắc

Kinh, 1956, tr.90 (Trung văn).

[36] Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H, 1985, tr.188-189. [37] Dẫn theo Hữu Ngọc: Phác thảo chân dung văn hóa Pháp, Nxb Ngoại văn,

H, 1991, tr..23.

 

[38] Việt Phương, Cửa mở, sđd, tr. 96.

 

[39] Robert Shaplen : “The enigma of Ho Chi Minh”, The Reporter, số ra ngaỳ 27-

01-1955, từ trang 11 đến 20.

Thử tìm lời giải cho câu hỏi: Cụ Hồ là ai?

Cụ Hồ là ai? Đây là một câu hỏi được giới nghiên cứu trong và ngoài nước nêu lên từ lâu, đã có nhiều lời giải khác nhau, đến nay vẫn tiếp tục có thêm những kiến giải mới. Điều đó cho thấy Hồ Chí Minh quả là một nhân vật đa dạng, phong phú, hấp dẫn, có khả năng sống với nhiều thời đại. Vậy Cụ Hồ là aiLà  dân tộc chủ nghĩa hay quốc tế chủ nghĩa? Là người mácxít hay người theo đạo Khổng? Là cộng hòa, cộng sản hay xã hội dân chủ? Chủ nghĩa cộng sản với Hồ Chí Minh là mục đích hay là phương tiện? v.v..

Ngô Trần Đức

I. Lược qua một vài ý kiến tiêu biểu

Ph. Devillers trong lời Tựa cho cuốn “Hô Chi Minh à Paris 1917-1923” của Thu Trang- Gaspard, có nêu câu hỏi: Tại Đại hội Tours, Nguyễn Ái Quốc tin theo Luận cương của Lênin, bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc Tế 3, nhưng ông đã phải là người mácxít chưa? Ông có tin vào sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, một giai cấp lúc đó còn hết sức nhỏ bé về số lượng ở Đông Dương? Ông có tin vào học thuyết đấu tranh giai cấp và sự cần thiết phải xây dựng một nền chuyên chính vô sản hay chưa? Tại sao lúc nào ông cũng chỉ tập trung vào vấn đề  thuộc địa, đặt nó lên trên tất cả các vấn đề  khác?

“Ông tin vào lời kêu gọi “vô sản toàn thế giới liên hiệp lại”, bởi đối với ông, việc giải phóng đất nước bị chinh phục chỉ có thể tiến hành bằng bạo lực chứ không thể bằng những cải cách rụt rè. Vậy, cần làm rõ: sự lựa chọn đó xuất phát từ niềm tin trong hệ tư tưỏng, từ sự ngả theo hệ lý luận mácxit một cách sâu sắc hay chỉ là từ một nhu cầu thực tế? Nếu cách xử sự của Pháp khác đi thì phải chăng Người vẫn chỉ có một sự lựa chọn đó?”[1].

Alain Ruscio trong bài “Chân dung một người bônsêvich vàng”[2] cũng nêu một câu hỏi: Nguyễn Ái Quốc có thật sự muốn trở thành một đảng viên Xã hội không? Để trả lời, ông dẫn Trần Dân Tiên : Tôi vào Đảng Xã hội Pháp “ chỉ vì đấy là tổ chức duy nhất ở Pháp bênh vực nước tôi, là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Theo Ruscio, nghiã là Nguyễn Ái Quốc chỉ nhắc đến lý tưởng cộng hoà Pháp chứ không phải đến truyền thống chủ nghĩa xã hội Pháp hay Cách mạng tháng Mười Nga? Tác phẩm chính trị đầu tiên mà Nguyễn dịch ra tiếng Việt không phải là“Tuyên ngôn Đảng Cộng sản của Mác – Enghen hay “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản của Lênin, mà là “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu!

Cũng theo Ruscio, nguờì ta  không tìm thấy một dấu hiệu nào cho biết dự kiến chính trị của Nguyễn Ái Quốc vào thời đó rằng sau khi giành được độc lập sẽ xây dựng An Nam thành một nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa!

Pierre Brocheux, một sử gia Pháp đã hơn 50 năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh, lại đưa ra một nhận định: “Hồ Chí Minh là một người theo đạo Khổngông ưa các giải pháp ôn hoà hơn là cực đoan”. Hồ Chí Minh  đã lên án các cuộc đánh người, giết người trong Cải Cách Ruộng Đất, và gọi như thế là hành xử theo lối bọn đế quốc, là hành vi tội phạm, là tội ác!

Theo Brocheux, Hồ Chí Minh có một lần viết về vụ Trăm hoa đua nở ở Trung Quốc, có gọi các nhà văn – như Đinh Linh – là phái hữu; nhưng ông không hề nhắc tới tên của bất cứ văn nghệ sĩ, trí thức nào của Viêt Nam.[3]

GS Nhật Bản Yoshiharu Tsuboi (Đại học Waseda) trong tham luận tại Hội thảo Việt Nam học lần thứ ba, nêu vấn đề: “Có lẽ giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng nhất trong suốt cuộc đời mình là những giá trị của nền cộng hoà mà cơ sở lý luận của nó là Tự do, Bình đẳng, Bác ái”.Theo ông, tinh thần cộng hoà Pháp mang tính lý tưởng rất cao, nó không quan tâm đến con người đó là ai, sinh ra ở đâu, trong gia đình, dòng họ nào,…vấn đề quan trọng là giá trị của bản thân con người đó có đủ khả năng suy nghĩ một cách lý tính hay không?

Nền cộng hoà được xây dựng bởi những cá nhân, theo quan điểm giá trị mới về con người, rất khác với quan niệm của Nho giáo. Hồ Chí Minh là nhà chính trị duy nhất ở châu Á đã nhận thức được một cách đúng đắn tinh thần của nền cộng hòa Pháp và đã cố gắng đưa nó vào Việt Nam. Khi đã trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh vẫn ưu tiên đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho mục tiêu Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Ông phân tich:

 Độc lập mà Hồ Chí Minh muốn là một nhà nước có chủ quyền, theo quan niệm cận đại, xây dựng một chế độ Dân chủ Cộng hòa, xây dựng con người mới gánh vác công việc quốc gia.

 Tự do không đơn thuần chỉ là quyền tự do định đoạt chính sách đối nội, đối ngoại của một nhà nước độc lập, mà là quyền tự do của mỗi người dân được hưởng với khả năng và trách nhiệm của mình, của một chủ thể xây dựng nền cộng hòa.

 Hạnh phúc  nghĩa là mỗi người đều có quyền mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình và phải biết chủ động tích cực đấu tranh để giành lấy hạnh phúc.

Như vậy, theo ông về mặt này, ông Hồ không phải là người cộng sản chính thống theo quan điểm Mác –Lênin. Cho nên, nếu chỉ lấy ý thức hệ Mác-Lênin để lý giải cụ Hồ là không đầy đủ, do còn thiếu cái nền văn hoá – tư tưởng phương Tây, do không nắm được “tinh thần cộng hoà”, mà vẫn đóng khung trong cách nhìn “đấu tranh giai cấp”. Bản thân ông Hồ, để nhận viện trợ của phe xã hội chủ nghĩa cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, ông đã phải phát ngôn và hành động như một người cộng sản, đó là do thúc ép của hoàn cảnh lịch sử, mà ông không có sự lựa chọn nào khác!

Ngoài ra, có một vài học giả Việt Nam, gần đây cũng đưa ra những nhận định riêng của mình về Hồ Chí Minh . Có người cho rằng Hồ Chí Minh chỉ khoác áo cộng sản chứ không phải là người cộng sảnông là người xã hội dân chủ từ gốc rễ.

GS Hoàng Ngọc Hiến, phát biểu trong một hội thảo, cho rằng sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác ở Hồ Chí Minh là một quá trình, phải nghiên cứu quá trình đó để xem Hồ Chí Minh đã tiếp biến chủ nghĩa Mác như thế nào? Theo GS Hiến, Nguyễn Ái Quốc từng ở chung với Phan Văn Trường khoảng 6 tháng, đó là Trường Đại học của Cụ Hồ! mà ông Trường lại là một người xã hội từ đầu đến chân! Tuy không nói thẳng ra, nhưng người nghe đều hiểu ý của ông: Hồ Chí Minh là một người xã hội dân chủ hơn là một người cộng sản.

Còn có thể dẫn thêm một vài ý kiến khác nữa, nhưng trên đây là mấy lập luận tiêu biểu. Vậy Hồ Chí Minh là ai? Cộng sản hay Dân tộc? người yêu nước hay chiến sĩ quốc tế? Cộng hòa, Cộng sản hay Xã hội dân chủ? Theo chủ nghĩa Mác hay theo đạo Khổng, v.v..           

 II. Thử tìm lời giải cho câu hỏi: Cụ Hồ là ai ?

Để trả lời câu hỏi này một cách rõ ràng, theo tôi, không thể chỉ dựa vào một, hai yếu tố nào đó một cách tách biệt để lập luận, lý giải, rồi khẳng định Cụ Hồ là ai. Theo thiển ý, phải đặt mỗi yếu tố đó trong tổng thể cuộc đời Hồ Chí Minh, nhân cách Hồ Chí Minh, văn hoá Hồ Chí Minh, phương pháp hành xử Hồ Chí Minh,…mới hiểu đúng được thực chất con người Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Một nhà báo Mỹ, từ rất sớm đã đưa ra nhận xét: “Hồ Chí Minh là một trong số những nhân vật lạ lùng nhất của thời đại chúng ta: một chút Gandhi, một chút Lênin,…nhưng  hoàn toàn Việt Nam”[4]. Đây là một gợi ý cần được tham khảo.

Hồ Chí Minh là người Việt Nam nhất trong những người Việt Nam, là sự kết tinh những giá trị tiêu biểu nhất của văn hoá – lịch sử – đất nước và con người Việt Nam. Do đó, muốn hiểu được Hồ Chí Minh, phải bắt đầu từ hiểu văn hoá và con người Việt Nam.

Đó là một nền văn hoá khoan dung, cởi mở, có khả năng dung hoá, tích hợp những yếu tố tích cực, tiến bộ từ ngoài vào, không chút hẹp hòi, kỳ thị, miễn là nó không đi ngược lại với bản chất nhân văn của văn hoá Việt Nam. Vì vậy, văn hoá Việt Nam sớm có hiện tượng “tam giáo đồng nguyên”. Con người nông dân Việt Nam ngày xưa vốn rất thực tế, họ có thể vừa thờ Thần, thờ Phật lại vừa thờ cả ma quỷ (thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề), không hoàn toàn tin, nhưng để nó không trở thành kẻ thù của mình, không làm hại mình, đơn giản vậy thôi. Cũng nên coi đó là một nét khôn ngoan trong phương pháp xử thế của người Việt xưa mà ta cần xem xét.

Khi còn ở trong nước, Nuyễn Tất Thành đã được hấp thụ một nền Quốc học và Khổng học khá cơ bản, đủ sức tạo cho anh một bản lĩnh văn hoá vững vàng để có thể “hòa nhi bất đồng”.

Ra nước ngoài, anh Thành có điều kiện đi nhiều, hiểu rộng, biết nhiều ngoại ngữ, đến được nhiều nước, làm nhiều nghề, tiếp xúc với nhiều vĩ nhân,…nghĩa là có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn hoá, gia nhập nhiều tổ chức, vào nhiều hội, đoàn (Công đoàn lao động hải ngoại ở Anh, các Hội du lịch, Hội nghệ thuật và khoa học, Câu lạc bộ Faubourg ở Pháp, Đảng Xã hội. Sau khi đã vào  Đảng Cộng sản rồi, vẫn tham gia Hội Nhân quyền, rồi cả Hội Tam điểm, đến với chủ nghĩa Mác rồi vẫn đến với chủ nghĩa Tôn Dật Tiên,…) để học cách tổ chức, khảo sát các cơ chế chính trị – xã hội,…nhằm chắt lọc lấy cái hay, cái tốt, cái thích hợp, phục vụ cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc và xây dựng nước Việt Nam độc lập trong tương lai.

Do vậy, Hồ Chí Minh được coi là biểu tượng của sự tích hợp văn hoá Đông-Tây. Nói tích hợp nghĩa là biết tiếp thu có chọn lọc những giá trị từ bên ngoài nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng bên cạnh sự thâu hoá những giá trị chung của nhân loại. Cho nên không có gì lạ khi thấy trong văn hoá Hồ Chí Minh chứa đựng những yếu tố tích cực của tinh thần cộng hoà Pháp, dân chủ và nhân quyền Mỹ, tinh thần trọng đạo đức của Khổng giáo, đức từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phật, lòng nhân ái của Chúa, phép biện chứng của Mác, tinh thần cách mạng của Lênin, chủ thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên, v.v..mà vẫn hoàn toàn Việt Nam. Như ta đã thấy: khi còn ở Pháp hay Nga, Nguyễn Ái Quốc có thể mặc Âu phục, đội mũ phớt, thắt cravate, viết báo, đọc diễn văn với một văn phong rất “Tây”, nhưng khi về Trung Quốc lại giản dị trong bộ quân phục Bát lộ quân; sang Thái Lan, ở chùa, khoác áo cà sa; về đến Chỉ Thôn (Vân Nam) lại sẵn sàng viết và đọc văn tế cầu hồn cho những kiều bào ta bị bom Nhật sát hại:

Nam mô bồ tát đế tôn,

Tiếp dẫn linh hồn về Mạc tư khoa!

Người chiến thắng là người không “chấp nê”, mà có tinh thần “phá chấp”, biết thích ứng trước tình hình thực tế mà không để đánh mất mình – đúng như Hồ Chí Minh đã từng trả lời khi có người hỏi: ông là ai? Tôi vẫn là tôi ngày trước, một người yêu nước.Vận dụng phương pháp trên vào tìm hiểu Cụ Hồ là ai, chúng tôi thử từng bước lý giải những vấn đề đang đặt ra.

1.  Hồ Chí Minh có phải là người suốt đời theo lý tưởng cộng hoà?

Trở lại ý kiến của GS Nhật Bản Tsuboi cho rằng “giá trị mà Hồ Chí Minh coi trọng suốt đời mình là tinh thần cộng hoà, mà cơ sở của nó là Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, liệu có phải  hoàn toàn như vậy không?

Đúng là trên hành trình đi ra với văn hoá nhân loại, Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp trước tiên và có lẽ nó cũng để lại những dấu ấn sâu đậm trong nội dung và phong cách văn hoá của Cụ Hồ. Tại Pháp, Hồ Chí Minh đã tiếp thu lý tưởng nhân quyền, dân quyền và pháp quyền của các nhà Khai sáng Pháp, vận dụng nó vào cuộc đấu tranh, phê phán chế độ thực dân, đòi các quyền ấy cho nhân dân các nước thuộc địa. Yêu sách 8 điểm, lời mở đầu Tuyên ngôn Độc lập 1945, bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946,…đều in dấu ảnh hưởng các giá trị của nền cộng hoà Pháp, nó đã trở thành một phần trong mục tiêu mà Hồ Chí Minh theo đuổi – nhưng đó có phải là cái đích duy nhất và mục tiêu cuối cùng của ông hay không, thì vẫn cần phải bàn thêm .

Theo tôi, cái giá trị lớn nhất mà Hồ Chí Minh theo đuổi suốt đời, như chính Người đã tuyên bố là “Độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi, đó là tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu. Điều quan trọng ấy rất tiếc lại không có trong bảng giá trị của nền cộng hoà Pháp. Đó cũng là điều mà trong khi đàm phán, tranh luận với chính giới Pháp năm 1946, Cụ đã chủ động bổ sung vào. Hồ Chí Minh có lần nói: “Người Việt và người Pháp cùng tin tưởng vào đạo đức: Tự do, Bình đẳng, Bác ái, Độc lập[5].Thêm Độc lập vào để ràng buộc họ: “Nước Pháp muốn độc lập, không có lý gì lại muốn nước Việt Nam không độc lập?”

GS Tsuboi đã lý giải khẩu hiệu Tự do, Bình đẳng, Bác ái rất đúng với tinh thần phương Tây, nhưng lại không thật đúng theo quan niệm của Hồ Chí Minh.

Tự do theo tinh thần cộng hoà Pháp trước hết là tự do cá nhân, vì tiền đề của nền cộng hòa Pháp được xây dựng trên quan điểm giá trị về con người cá nhân, nhất là quyền tự do cá nhân.

Còn Hồ Chí Minh, trước hết vẫn là sản phẩm của nền văn hoá Việt Nam, văn hoá Phương Đông, vốn đề cao tinh thần cộng đồng, luôn đặt quốc gia, dân tộc lên trên cá nhân. Tự do theo tinh thần Hồ Chí Minh trước hết vẫn là tự do của toàn dân tộc chứ chưa phải là tự do cá nhân, là giải phóng cho dân tộc thoát khỏi ách nô lệ thực dân, được làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình (chứ chưa lấy giải phóng tự do cá nhân làm mục tiêu).

Bình đẳng hiểu theo tinh thần cộng hoà là chống lại mọi sự phân biệt đối xử về dân tộc, màu da, giới tinh,…Mỗi cá nhân sinh ra đều có giá trị như nhau, như Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ mà Hồ Chí Minh đã trích dẫn: ‘Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” và coi đó là quyền tự nhiên của con người: bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi, về nhân phẩm, về cơ hội, nhất là bình đẳng trước pháp luật.

Bình đẳng là một khái niệm không xa lạ với Hồ Chí Minh vì nó vốn là một lý tưởng, một ước mơ ngàn đời của nhân dân lao động Việt Nam về một xã hội công bằng, không còn áp bức bất công, không còn cách biệt giầu, nghèo…

Tuy nhiên, quan niệm của Hồ Chí Minh về bình đẳng cũng có nội dung khác với phương Tây: nếu tinh thần cộng hoà coi trọngquyền bình đẳng giữa các cá nhân thì Hồ Chí Minh lại nâng nó lên thành quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Từ Tuyên ngôn Độc lập Mỹ, Hồ Chí Minh suy ra: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Bác ái (fraternité: có lẽ phải dịch là Hữu ái mới phù hợp, vì gốc của nó là từ frère, fraternel, nghĩa là tình anh em, tình đồng đội.Bác ái (philanthropie) có nghĩa quá rộng, nó đòi hỏi một tình cảm xuyên dân tộc, xuyên giai cấp, theo kiểu thuyết kiêm ái của Mặc tử, hay lòng bác ái của Chúa : phải yêu cả kẻ thù của mình!).

Hữu ái gần với Hồ Chí Minh hơn, ông vốn từng là môn đệ của Khổng giáo, sớm thấm nhuần tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”, nên Hồ Chí Minh thường quen gọi những ngưòi lao động, các dân tộc bị áp bức là anh em. (hỡi anh em ở các thuộc địa!, các dân tộc anh em, các nước anh em, vừa là đồng chí, vừa là anh em,…)

Tóm lại, Hồ Chí Minh nhận thức Tự do, Bình đẳng, Bác ái qua lăng kính của người dân bị áp bức châu Á chứ không theo tinh thần cách mạng tư sản Pháp, nên ông chỉ coi đó là những yếu tố cần chứ chưa đủ. Vì vậy, không thể coi những giá trị của nền cộng hoà Pháp là mục tiêu theo đuổi suốt đời của Hồ Chí Minh .

2. Hồ Chí Minh có phải chỉ thuần túy là người theo chủ nghĩa dân tộc?

a. Hồ Chí Minh trước hết  là một người yêu nước nồng nhiệt

Điều này đã được khẳng định trong danh xưng của Cụ: Hồ Chí Minh trước sau vẫn là Nguyễn Ái Quốc= một người yêu nước. Năm 1960, vào lúc thịnh thời của chủ nghĩa xã hội, trong bài “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin”, Hồ Chí Minh đã viết: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế Thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa Xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”.

Như vậy, Cụ Hồ đã nói rõ về con đường cách mạng của mình là từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Do đó, trả lời câu hỏi Cụ Hồ là ai, phải nhận thức được sứ mệnh kép đó, chứ không nên tách bạch một cách cực đoan, siêu hình: hoặc chỉ là người này (theo chủ nghĩa dân tộc) hoặc chỉ là người kia (theo chủ nghĩa quốc tế), chỉ là người mácxit hay chỉ là người theo đạo Khổng. Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa, nên không thể quy bộ mặt tinh thần của ông vào một dạng đơn nhất nào. Tuy nhiên, trong sự đa dạng đó, vẫn  cần thiết phải xác định đâu là mặt chủ thể trong nhân cách của Hồ Chí Minh.

Là người nô lệ mất nước, ra đi tim đường cứu nước, khát vọng cháy bỏng mà chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành mang theo là khát vọng giải phóng dân tộc và canh tân đất nước. Sau này, Hồ Chí Minh đã nói một câu thống thiết: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là lo làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.  Yêu nước đã trở thành lẽ sống, thành tiêu chuẩn chân lý để ông xét đoán con người và việc đời.  Trước sự phân liệt của Đảng Xã hội ở Đại hội Tours, có người hỏi: anh sẽ bỏ phiếu cho Quốc tế nào? -Thế Quốc tế nào bênh vực các dân tộc thuộc địa? Được trả lời là Quốc tế 3, anh quyết định bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế 3. Đó không phải là một quyết định cảm tính, mà là theo lý tưởng, theo mục tiêu cứu nước của anh. Vì sao có thể nói như vậy?

Trong 10 năm đầu, Nguyễn Tất Thành đã đi khắp thế giới, hướng đến mọi chân trời để tìm đường thực hiện lý tưởng, nhưng không có bàn tay thân thiện nào chìa ra với anh, vì vào hai thập niên đầu thế kỷ XX, vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa vẫn còn là một  vấn đề quá mới, quá lớn đối với thế giới, ngay Mác và Enghen trước đó cũng chưa đưa ra được câu trả lời thật rõ ràng, còn các Đảng Xã hội Quốc tế 2 lại chưa vượt qua được tâm lý dân tộc hẹp hòi, vì lợi ích quốc gia, họ vẫn ủng hộ chính sách thuộc địa của nhà nước tư bản. Mặt khác, cũng do cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa chưa phát triển mạnh mẽ, thực tiễn thời đại chưa hé ra được lời giải đáp rõ ràng.

Chỉ sau thắng lợi của Cách mạng tháng 10 Nga, với sự thành lập Quốc tế 3 và Luận cương về vấn đề  dân tộc và thuộc địa của Lênin được công bố, tiếp theo là Đại hội Ba-cu, nêu cao tinh thần đoàn kết anh em giữa các dân tộc phương Đông với giai cấp  vô sản phương Tây,  rồi cùng với  kinh nghiệm thực tiễn hoạt động và đấu tranh của bản thân, Nguyễn Ái Quốc  mới dần dần đi tới được nhận thức rằng: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[6]. Do đó, Nguyễn Ái Quốc đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa quốc tế.

Tuy nhiên, trong cái song đề đó, vẫn phải thấy mặt chính, mặt chủ thể của nó, đó là mặt nào? Có người nêu thắc mắc: tại sao Nguyễn Ái Quốc lúc nào cũng chỉ đề cập đến vấn đề thuộc địa mà ít hoặc không đề cập đến những vấn đề nóng bỏng khác trong phong trào cộng sản quốc tế lúc bấy giờ, vậy ông là người cộng sản theo chủ nghĩa quốc tế hay thuần túy chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc?

Thử hỏi, một người dân mất nước, đang đi tìm đường cứu nước làm sao lại không nói nhiều về vấn đề thuộc địa khi từng ngày, từng giờ chủ nghĩa thực dân đang gieo tai họa, đau khổ lên cuộc sống của đồng bào mình, tại sao lại không đề cao chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, vốn là “động lực vĩ đại và duy nhất” của họ?

Hãy nghe ý kiến của một người cộng sản phương Tây, ông Ch. Fourniau: “Vấn đề duy nhất đặt ra là cần hiểu rõ tại sao và như thế nào mà một người dân thuộc địa tất nhiên phải theo chủ nghĩa dân tộc? và tại sao lại tìm được ở chủ nghĩa cộng sản như là con đường duy nhất để thực hiện độc lập cho Tổ quốc mình?”[7]Tất nhiên, chủ nghĩa dân tộc và “dân tộc chủ nghĩa” là hai khái niệm khác nhau. J. Jaurès – lãnh tụ hàng đầu của Đảng Xã hội Pháp, từng nói đại ý: Một ít chủ nghĩa yêu nước thì đưa ta xa rời chủ nghĩa quốc tế, rất nhiều chủ nghĩa yêu nước thì đưa ta vào trung tâm của chủ nghĩa quốc tế. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh chinh là biểu tượng cao đẹp của tinh thần đó.

b.  Hồ Chí Minh đồng thời là một chiến sĩ quốc tế trong sáng

Từ người yêu nước trở thành người cộng sản, được tiếp nhận phương pháp làm việc biện chứng, trí tuệ của Nguyễn Ái Quốc  được nâng cao thêm, tầm nhìn thời đại được mở rộng hơn, bạn bè, đồng chí trở nên đông đảo hơn, sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế cũng ngày càng to lớn và hiệu quả hơn, triển vọng thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng của Việt Nam cũng trở nên sáng sủa hơn.

Sau khi trở thành người cộng sản, cùng với các thành viên khác gốc thuộc địa, Nguyễn Aí Quốc đã kiến nghị với Đảng Cộng sản Pháp lập ra Ban nghiên cứu Thuộc địa, xuất bản báo Le Paria, tham gia sáng lập Hội liên hiệp Thuộc địa, kiến nghị với báoL’Humanité mở chuyên mục thường xuyên về vấn đề thuộc địa. Tên tuổi Nguyễn Áí Quốc trên các bài báo dần dần trở nên quen thuộc với các dân tộc bị áp bức đang đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.

Nguyễn Áí Quốc trở thành người cộng sản đồng thời cũng trở thành một chiến sĩ quốc tế chân chính. Ông không chỉ quan tâm đến số phận các dân tộc Đông Dương mà còn quan tâm tới số phận của tất cả những “người cùng khổ” trên trái đất: ủng hộ nền độc lập của nhân dân Airơlen, bênh vực quyền lợi của người Mỹ da đen, lên án tội ác của chủ nghĩa thực dân gây ra ở Đahômây, Angiêri, Mađagaxca,…

Có thể nói, Nguyễn Ái Quốc là người có công lớn trong việc đấu tranh, bảo vệ, phát triển và hiện thực hoá học thuyết Lênin về cách mạng thuộc địa bằng thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tôc của Việt Nam  và thắng lợi của phong trào giải phóng dân tôc trên thế giới trong thế kỷ XX.

Chính Đảng Cộng sản Pháp đã đánh giá rất cao những cống hiến của Nguyễn Ái Quốc  vào đường lối của Đảng Pháp trong vấn đề thuộc địa: “Nguyễn Ái Quốc đã có đóng góp quan trọng vào việc hình thành truyền thống chống chủ nghĩa thực dân, một truyền thống làm vẻ vang cho Đảng Cộng sản Pháp…Vậy thì hẳn rằng Người phải được coi là một trong những người thầy của Đảng Cộng sản Pháp về những vấn đề thuộc địa”[8].

3. Hồ Chí Minh phải chăng là một người xã hội dân chủ?

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là người yêu nước và chiến sĩ quốc tế, điều đó không ai có thể phủ nhận, nhưng liệu ông có phải là người xã hội dân chủ?

Hiện nay, khi mô hình chủ nghĩa xã hội dân chủ Thụy Điển đang được ca ngợi, có một số người lại cho rằng Hồ Chí Minh không phải là cộng sản, mà về thực chất ông là người xã hội dân chủ từ trong gốc rễ!

a. Trước hết, cần nhìn lại xem có khi nào Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh  phủ nhận  danh hiệu người cộng sản của mình không?

Trong gần 50 năm làm người cộng sản, khi thuận lợi, lúc khó khăn, dù chi là người thợ ảnh bình thường hay đã là vị chủ tịch nước, khi bị giam hãm chốn ngục tù hay đã lên tới tuyệt đỉnh vinh quang,…Hồ Chí Minh lúc nào cũng tỏ rõ là người cộng sản thuỷ chung, thắng không kiêu, khó không nản, chưa từng thấy khi nào ông phủ nhận danh hiệu cộng sản của mình.

Tháng 8 năm 1944, được Trương Phát Khuê trả lại tự do sau hơn một năm cầm tù, trước khi rời Liễu Châu, Hồ Chí Minh nói thẳng với Trương: “Tôi là một người cộng sản, nhưng điều tôi quan tâm hiện nay là Tự do, Độc lập của Việt Nam chứ không phải là chủ nghĩa cộng sản. Tôi có một lời đảm bảo đặc biệt với ông rằng: chủ nghĩa cộng sản  sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam trong vòng 50 năm tới”[9].

Giữa năm 1946, ở Paris, một nhà báo cánh hữu muốn làm giảm thiện cảm của những người Pháp không ưa chủ nghĩa cộng sản đối với Hồ Chí Minh, đã đưa ra một câu hỏi: “Thưa Chủ tịch, Ngài có phải là cộng sản không?”CT Hồ Chí Minh bình thản đi tới lẵng hoa bày trên bàn, rút ra từng bông lần lượt đem tặng cho những người có mặt, trước hết là cho chị em phụ nữ, và nói rằng: “Tôi là người cộng sản như thế này này”(Je suis communiste comme ça!). Hồ Chí Minh  hiểu thâm ý của nhà báo Pháp khi đưa ra câu hỏi không thân thiện nói trên, nghĩa là muốn mượn hình ảnh người cộng sản đang bị bêu xấu trong các tấm áp phich xuất hiện trên đường phố Paris thời bấy giờ để hạ uy tín của Hồ Chí Minh. Nhưng cử chỉ văn hoá trang nhã, lịch thiệp của ông đã cho các quan khách thấy hình ảnh một người cộng sản khác-  một người cộng sản  Việt Nam lịch thiệp, nhân ái, nhân văn.

Trước khi qua đời, Người đã dặn lại trong Di Chúc một điều có liên quan đến trách nhiệm đảng viên cộng sản của mình: “Đảng ta là đảng cầm quyền,…phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Hồ Chí Minh đi theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng hiểu rất rõ việc thực hiện lý tưởng cộng sản là một quá trình lịch sử lâu dài, chỉ khi nào đạt tới trình độ phát triển rất cao về kinh tế, văn hóa, xã hội và con người mới có điều kiện thực hiện. Đối với Việt Nam, Người khẳng định lý tưởng đó còn quá xa, chưa thể thực hiện được trong vòng 50 năm tới; còn đối với thế giới, thì Người cũng nói khi trả lời các nhà báo Pháp năm 1946 tại Paris, qua một sự so sánh: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác. Cách đây 2000 năm, Đức chúa Giêxu đã nói là chúng ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thực hiện được. Còn đến bao giờ chủ nghĩa Các Mác thực hiện thì tôi không thể trả lời được.[10] Như đã thấy: Hồ Chí Minh là một nhà chính trị tỉnh táo và trung thực.

b. Vậy Hồ Chí Minh  là ai?

Cần thấy rằng con đường cách mạng của Nguyễn Tất Thành khi ở Pháp đã phát triển qua nhiều chặng. Khi mới chân ướt chân ráo tới Paris cuối năm 1911, trung thành với chiến lược canh tân của Phan Châu Trinh (có thể có sự gợi ý và giúp đỡ của cụ Phan), anh Thành đã viết đơn xin vào Trường Thuộc địa với hy vọng tranh thủ nâng cao học vấn để trở về giúp đồng bào. Năm 1919, cùng với Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, anh đưa Yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Hòa bình Versailles, thí điểm dùng luật pháp tư sản và biện pháp kiến nghị hòa bình để đòi các quyền dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Chắc không ai cho anh là người theo chủ nghĩa cải lương !

Trước khi trở thành người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã từng tham gia Đảng Xã hội Pháp Quốc Tế 2. Dù đã có cuộc chia tay ở Đại hội Tours, ông vẫn duy trì quan hệ tốt đẹp với nhiều lãnh tụ và đảng viên Xã hội – những người một thời đã dìu dắt, giúp đỡ ông trong buổi đầu chập chững khi ông mới bước vào hoạt động chính trị trên đất Pháp. Chắc cũng không ai vì điều này mà cho ông là người xã hội dân chủ từ gốc rễ?

Hay là, do cách ứng xử ôn hòa của ông: biết tiến biết lui, biết liên minh, đối thoại,  kiên trì giải pháp hòa bình trong nhiều vấn đề quốc gia và quốc tế, mà có thể khiến người ta nhìn nhận ông như là một người xã hội dân chủ chăng?

Giải đáp vấn đề này, cần nhắc lại một nguyên lý đơn giản: Chủ nghĩa Mác-Lênin, cũng như mọi chủ thuyết chính trị hay tôn giáo khác, như Phật giáo, Nho giáo khi được du nhập vào Việt Nam, ít nhiều cũng bị khúc xạ bởi truyền thống văn hoá, tư tưởng, đạo đức, lối sống ,…của dân tộc Việt Nam – một dân tộc có truyền thống nghìn năm văn hiến.

Gia nhập hàng ngũ mácxít, đương nhiên Nguyễn Ái Quốc  chấp nhận học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác. Nhưng xuất phát từ thực tế xã hội và văn hoá truyền thống Việt Nam, ông không coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất, càng không tuyệt đối hoá nó, mà có sự điều chỉnh cho phù hợp với thực tế Việt Nam. Lý luận Mác-Lênin nhấn mạnh đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản, nhưng Nguyễn Ái Quốc lại cho rằng: “Cuộc đấu tranh giai cấp (ở Việt Nam ) không diễn ra giống như ở phương Tây”.“Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước…Người ta không thể làm gì được cho người An Nam nếu như không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống xã hội của họ”[11]. Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã có lần phê phán những biểu hiện giáo điều, tả khuynh của một số người mới từ nước ngoài về: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng đề ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”[12]. “Trong lúc cần toàn dân đoàn kết mà chủ trương giai cấp đấu tranh là một điều ngu ngốc”[13]. Về chính quyền, Hồ Chí Minh không tuyên bố xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản mà chủ trương thành lập nhà nước dân chủ cộng hòa, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân.

Là người cộng sản, đương nhiên về nguyên tắc, Hồ Chí Minh  thừa nhận học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Nhưng khi Nguyễn Ái Quốc bước vào hoạt động chính trị đầu thập niên 20 thế kỷ trước, thì giai cấp công nhân Việt Nam mới đang trên đường hình thành, số lượng còn nhỏ bé, càng chưa thể có giai cấp công nhân công nghiệp và cũng chưa thực sự xuất hiện trên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị. Khi đó, Nguyễn Ái Quốc đã từng viết một số bài về phong trào công nhân Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ,…mà chưa có điều kiện bàn nhiều về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam khi nó chưa thật sự trưởng thành. Từ sau cách mạng tháng Tám, rồi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, thì Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chỉ có giai cấp công nhân lãnh đạo thì kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công”[14].

Những điều trình bày trên cho thấy Hồ Chí Minh hoàn toàn không có gì giống với các quan điểm cơ bản của chủ nghia xã hội dân chủ. Ông không phủ nhận đấu tranh giai cấp để đi vào con đường thoả hiệp với kẻ thù ; không từ bỏ con đường đấu tranh cách mạng để chấp nhận những cải cách bố thí nhỏ giọt của đế quốc, thực dân ; càng không tin rằng vận mệnh của Tổ quốc, tự do của nhân dân có thể giành lại chỉ bằng con đường đấu tranh nghị trường, v.v. vốn là những quan điểm đặc trưng của những người xã hội dân chủ. Chính vì bất mãn với thái độ của các lãnh tụ Đảng Xã hội Pháp trong vấn đề thuộc địa : “Đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông qua những nghị quyết rất kêu để sau Đại hội đưa vào viện bảo tàng”[15], nên Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc Tế 3, trở thành  người chiến sĩ quốc tế nồng nhiệt, đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập của dân tộc mình và cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa.

Đó là so sánh trên những điều thuộc về nguyên tắc, còn cung bực uyển chuyển trong xử lý mỗi sự việc cụ thể là thuộc về sách lược, nó phụ thuộc vào phong cách, khí chất của mỗi con người, vào nền tảng văn hóa của họ.

Nhưng điều quan trọng không phải là lý giải xem Hồ Chí Minh là Xã hội Dân chủ hay Cộng sản, mà vấn đề cơ bản cần làm rõ: Ông là người cộng sản như thế nào? Bởi trong những lãnh tụ cộng sản, có người chuyên quyền, độc đoán, giáo điều, cơ hội “tả” khuynh,…lại cũng có những người như Antonio Gramsçi, lãnh tụ Đảng Cộng sản Italia, chủ trương thay thế khái niệm “chuyên chính vô sản”(dictature du prolétariat) bằng khái niệm “bá quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản” (hégémonie du prolétariat), nhấn mạnh vai trò chỉ đạo của trí tuệ và đạo đức hơn là bằng quyền lực nhà nước; hoặc như Rosa Luxemburg – lãnh tụ Đảng Cộng sản Đức, bà cho rằng “chế độ tập trung dân chủ là tập trung quyền lực vào một nhóm người, còn các tổ chức khác chỉ là công cụ chấp hành của Trung Ương mà thôi”; theo bà, cải lương cũng là sản phẩm của cách mạng, lựa chọn cải lương hay bạo lực là tùy tình thế cách mạng, còn bạo lực chỉ là giải pháp cuối cùng, nó là con dao hai lưỡi, rất khó sử dụng,…

Đó là nói những lãnh tụ cộng sản chưa cầm quyền. Hồ Chí Minh là một lãnh tụ đã cầm quyền suốt 24 năm, nhưng trước sau vẫn nhất quán là người cộng sản yêu nước, thương dân,  luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và dân tộc lên trên lợi ích giai cấp và bộ phận, suốt đời tận tụy, khắc khổ nêu tấm gương về người lãnh đạo – người đày tớ thật trung thành của nhân dân; trong sạch, liêm khiết, đi tiên phong đấu tranh chống hủ bại: tham ô, lãng phi, quan liêu trong điều kiện cầm quyền. Hồ Chí Minh là biểu tượng của người cộng sản cầm quyền theo chính trị “vương đạo”: lãnh đạo bằng thuyết phục và nêu gương, luôn nêu cao trí tuệ, đạo đức, dân chủ, coi dân là chủ, lấy lợi ích và nguyện vọng của dân làm gốc. Cụ là người rất “trí thức” nên biết quý trọng trí thức, tin dùng người tài, không gợn một chút “kiêu ngạo cộng sản” nào. Cụ thường nói: “Cách mạng rất cần trí thức và thực ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí thức…Không có trí thức tham gia, công việc của cách mạng khó khăn thêm nhiều”[16]. Nhân cách của Cụ tỏa ra  sức hấp dẫn đặc biệt đối với trí thức thuộc nhiều xu hướng, cả trong Nam ngoài Bắc lẫn trí thức Việt kiều, lôi cuốn được hầu hết những trí thức lớn của đất nước đi vào công cuộc kháng chiến, kiến quốc; ai chưa kịp đến với Cụ thì cũng không khi nào chống lại Cụ cả. Đó là “chìa khóa” đã giúp Hồ Chí Minh thành công. Học tập và làm theo Hồ Chí Minh là phải phấn đấu thực hiện bằng được những điều đó. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng Hồ Chí Minh lại là một minh chứng hùng hồn về vai trò của vĩ nhân trong lịch sử. Không có Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khó có thể sớm giành được bá quyền lãnh đạo của mình ngay từ sau năm 1945.

Tuy nhiên, cũng không thể quy những phẩm chất nói trên của Hồ Chí Minh chỉ do ông là môn đồ của Khổng giáo. Không ai phủ nhận: xuất thân từ một gia đình nhà nho, từ nhỏ Nguyễn Tất Thành đã thấm nhuần nhiều mệnh đề Nho giáo có giá trị chỉ đạo nhận thức thế giới và xử lý các vấn đề xã hội-nhân sinh, (ví như đạo “Trung Thứ”của Khổng-Mạnh: suy từ lòng mình để hiểu được lòng người, làm chính trị như thế có thể đạt tới điều “nhân”). Nhưng ảnh hưởng của Khổng giáo chỉ là một phần thôi, cái gốc làm nên nhân cách chính trị Hồ Chí Minh chính là văn hóa Việt Nam, mà hạt nhân của nó là chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân ái và chủ nghĩa cộng đồng Việt Nam – được hình thành lâu đời từ trong quá trình dựng nước và giữ nước.

c.  Hồ Chí Minh không phải là người cộng sản giáo điều mà là người cộng sản nhân văn, có tư duy độc lập, sáng tạo, một nhà chính trị có đầu óc thực tế.

Chỉ mới hơn một năm sống ở Maxkva, Nguyễn Áí Quốc đã đưa ra một luận điểm mà nhiều nhà cách mạng thế giới phải suy nghĩ: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết học nhất định của lịch sử. Nhưng lịch sử nào?-Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gi? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”[17]  (một phản ứng rất tinh, rất sớm với thuyết “Dĩ Âu vi trung” đang thịnh hành ở châu Âu lúc bấy giờ).

Nguyễn Ái Quốc đã xuất phát từ truyền thống văn hoá Việt Nam để nhận thức và vận dụng chủ nghĩa Mác. Ông là người cộng sản đầu tiên nhận ra và đánh giá cao tiềm lực của cách mạng thuộc địa ở Phương Đông. Trong lúc các đảng Cộng sản theo Quốc Tế 3 cho rằng: vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa chỉ có thể được giải quyết khi nào cách mạng vô sản giành được thắng lợi ở phương Tây. Cả Mác – Enghen, rồi Lênin cũng chưa nghĩ đến khả năng các dân tộc thuộc địa có thể tự giải phóng mình ngay giữa vòng vây của chủ nghĩa đế quốc.

Thế mà Nguyễn Ái Quốc lại “cả gan” đưa ra một luận điểm trái ngược, “phi kinh điển”, so với các quan niệm trên! Từ sự phân tích những điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội…của châu Á (chế độ ruộng công, thuyết bình đẳng về tài sản, chế độ giáo dục và lao động cưỡng bức đối với người lớn, chế độ phúc lợi cho người già, tư tưởng “dân vi quý”, sự lên án nghiêm khắc thói ăn bám,…), Nguyễn Ái Quốc đưa ra nhận định: “chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng vào châu Á  hơn là ở châu Âu”, nghĩa là cách mạng thuộc địa theo đường lối vô sản có thể nổ ra ở châu Á, nếu “chúng ta có nhiệt tình tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và thực tâm muốn giúp đỡ những người lao động lật đổ ách của những kẻ bóc lột” thì họ sẽ trở thành một lực lượng khổng lồ “và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc” họ còn “có thể giúp đỡ những người anh em ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”[18]Đó quả thật là một luận điểm táo bạo, mới mẻ, lạ lùng nữa, trước đó chưa có ai nhìn ra và chưa ai dám khẳng định mạnh mẽ như thế !

 Nhìn vào những đặc điểm của văn hoá chính trị Hồ Chí Minh, chúng ta đều nhận thấy đó chính là sản phẩm của văn hoá chính tri Việt Nam, phản ánh những giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam. Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, thông qua Hồ Chí Minh, cũng được lọc qua hệ giá trị đó. Khi Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Hiểu chủ nghĩa M-L là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tinh, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được” – thì đó chỉ là mượn danh nghĩa Mác-Lênin để truyền đạt tinh thần nhân văn – nhân nghĩa của văn hóa Việt Nam mà thôi !

III. Kết luận

Nêu lại luận đề “Cụ Hồ là ai” để trao đổi, chúng tôi chỉ muốn góp thêm một vài ý kiến để cùng tham khảo, vì hiểu rằng Hồ Chí Minh dù là dân tộc hay quốc tế, cộng hòa hay cộng sản, xã hội dân chủ hay Khổng giáo,…đối với các học giả nói trên, đều không quan trọng. Mỗi người từ chỗ đứng của mình, rọi một cái nhìn để giúp hiểu được tính đa dạng, phong phú cuả một vĩ nhân. Vĩ nhân nào cũng đều là sản phẩm của những điều kiện lịch sử- xã hội nhất định, sở dĩ họ là vĩ nhân vì họ đã vượt lên được những hạn chế của hoàn cảnh để trở thành người đi tiên phong trong  thời đại của mình. Ở một vĩ nhân như Hồ Chí Minh lại càng như vậy. Trên hành trình 30 năm tìm đường, Cụ đã đến nhiều nước, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa, đã tìm hiểu nhiều chủ thuyết, tự coi mình là học trò nhỏ của nhiều ông thày lớn, nhưng Cụ biết chọn lọc để chỉ  học lấy những “cái cần thiết cho chúng ta”, phục vụ cho “con đường giải phóng chúng ta”[19]phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc, chứ không hề “tiếp thu cả gói” một cách giáo điều. Trong những hoàn cảnh bị o ép khắc nghiệt, Cụ vẫn giữ được bản lĩnh, bản sắc của một nhà chính trị tầm vóc, không bị bào mòn, hòa tan, không đầu hàng, khuất phục. Cụ đã nêu tấm gương bất khuất của một dân tộc nhỏ trước những cường quốc lớn, ngay cả trong vấn đề tiếp nhận văn hóa và tư tưởng.

Vậy cuối cùng, Cụ Hồ là ai? Theo Voltaire, “nhà chính trị thực sự xứng đáng với tên gọi này là người “biết chơi” và dần dà là người chiến thắng”. Theo tôi, Cụ Hồ là nhà chính trị “biết chơi”, biết khéo tận dụng mọi cơ hội và phương tiện để thực hiện mục tiêu đấu tranh của dân tộc. Cụ là người chiến thắng, vì nền tảng văn hóa của Cụ sâu rộng, lý tưởng của Cụ cao cả, phẩm cách của Cụ trong sáng, phương pháp tư duy của Cụ uyển chuyển, biết linh hoạt ứng biến trước mọi hoàn cảnh, như Cụ thường nói “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, khi “tình hình, nhiệm vụ đã thay đổi,… chính sách và khẩu hiệu cũng phải thay đổi cho hợp với tình hình mới”[20].Vì vậy, Cụ được thừa nhận là biểu tượng cho khát vọng Độc lập, Tự do, Lương tâm và Trí tuệ của các dân tộc bị áp bức; được Tạp chí Time của Mỹ tổ chức bầu chọn vào danh sách 20 nhà lãnh đạo có uy tín hàng đầu  trong tổng số 100 nhân vật được bầu chọn là những người nổi tiếng nhất thế giới trong thế kỷ XX[21]. Về phần Cụ, sứ mệnh đã hoàn thành. Trong 80 năm mất nước, bị nô lệ, có biết bao cuộc đấu tranh anh hùng đã diễn ra, song tất cả đều thất bại; với Cụ, ta đã có “một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất”; còn “dân chủ, giàu mạnh và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới” sẽ được thực hiện ra sao, đó là trách nhiệm của thế hệ lãnh đạo hôm nay, của những người được coi là kế tục Cụ; nhưng để được như vậy, không chỉ nhân danh Cụ mà cần ra sức học tập, thành tâm noi theo Cụ, cả về Tâm, Đức, Trí   Hành ./.

Chú thích

[1] Thu Trang-Gaspard: Hô Chi Minh à Paris (1917-1923). Preface de Ph. Devillers, p.13.

[2] Alain Ruscio: Nguyen Ai Quoc-Ho ChiMinh  : Portrait d’un “Bolchevik jaune”, Revue Communisme No 28, 4 me Trimestre 1990.

[3].Bài nói chuyện của Pierre Brocheux tại Toronto-Canada ngày 29-10-2003 về cuốn sách của ông: “Viêt Nam expose and New biography of Ho Chi Minh “ .

[4] David Halberstam: Ho”, Random House, New York, 1971.

[5] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 4, tr. 458

[6] Luận đè này đến năm 1959 mới được Hồ Chí Minh diễn đạt thành văn, nhưng nó đã là sản phẩm tư duy của Nguyễn Ái Quốc được hình thành từ những điều kiện lịch sử khách quan của những năm 20 TK XX. Cũng có thể xem đó là sự lựa chọn của lịch sử.

[7] “Một nhà yêu nước và một nhà cách mạng mẫu mực”, trong Ho Chi Minh, notre camarade, Ed. Sociales Paris, 1970, p. 21.

[8] Ch. Fourniau : Ho Chi Minh, notre camarade, Ed. Sociales, Paris, 1970, tr. 31.

[9] Hồi ký của Trương Phát Khuê, đăng trên Tuần báo Liên hợp tạp chí ,Hồng Kông, 1962.

[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, t,4, tr. 272.

[11] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 1, tr. 464, 467.

[12] .HCM Toàn tập, t.5, tr.272.

[13] XYZ: Duy vật biện chứng và duy vật lich sử.  Ban Huấn luyện TƯ xb 1949. (Chưa có trong HCM Toàn tâp xb lần 2).

[14] Hồ Chí Minh Toàn Tập, sdd, t.6,tr. 458.

[15] Hồ Chí Minh Toàn Tập ,sdd, t.1,tr. 281.

[16] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t.7, tr. 33 và t.5, tr.235 .

[17] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t. 1, tr. 465.

[18] Hồ Chí Minh Toàn Tập, sdd , t.1, tr.36.

[19] Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin, HCM Toàn Tập, t. 10, tr. 127.

[20] Hồ Chí Minh Toàn Tập, t.7, tr. 315.

[21] Chuẩn bị cho thời điểm kết thúc thế kỷ XX, tạo chí Time đã phối hợp với hãng truyền hình CBS, đưa ra bảy triệu phiếu bầu, gửi đi khắp các nước, để bầu chọn lấy 100 nhân vật được coi là có ảnh hưởng lớn nhất, thuộc các lĩnh vực khác nhau, trong thế kỷ XX. Số cuối tháng 12-1999, tạp chí Time đã công bố danh sách 100 nhân vật đó. Hồ Chí Minh  nằm trong số 20 nhà lãnh đạo có uy tín lớn nhất, bên cạnh V.I.Lênin, M.Gandhi, W. Churchill, A. Khomeney, N. Mandela cùng nhiều nhân vật nổi danh khác.

Nguồn: Viet-Studies

 

Quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin

Ngày 6/6/2012. Cập nhật lúc 10h 29′

GS. Nguyễn Đức Bình

Nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Nguyên Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh có ba nguồn gốc: một là, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; hai là, tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây; ba là, chủ nghĩa Mác-Lênin và đây lànhân tố quyết định nhất. Bài này chỉ đề cập một khía cạnh về mối quan hệ giữa chủnghĩa yêu nước Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tại Đại hội II (1951) của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: ”Dân ta có một lòngnồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổquốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnhmẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước vàlũ cướp nước”1.

Các dân tộc đều có lòng yêu nước. Song, truyền thống yêu nước Việt Nam có những nét đặc sắc: một là, tinh thần độc lập tự chủ, anh dũng bất khuất trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới ở vào hoàn cảnh lịch sử phải đấu tranh trường kỳ như thế, gay go quyết liệt như thế chống những kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn mình gấp bội, để bảo vệ độc lập, tự do, bản sắc và phẩm chất của dân tộc như dân tộc Việt Nam. Hai là, giàu tính cộng đồng, tính nhân dân, tính nhân bản. Trong tư tưởng, tình cảm yêu nước Việt Nam ngay thời phong kiến, Nước chủ yếu không phải là Vua mà trước hết là dân, là đồng bào, là phẩm giá của dân tộc và con người. Ba là, do hai đặc tính trên, tư tưởng yêu nước truyền thống Việt Nam có xu hướng gắn với tiến bộ xã hội. Tư tưởng yêu nước Việt Nam chứa đựng khát vọng về tự do, công bằng, bình đẳng xã hội của nhân dân. Nhân dân Việt Nam yêu đất nước mình nhưng không vị kỷ, hẹp hòi dân tộc mà tôn trọng các dân tộc khác, khoan dung và quý trọng tính hòa hiếu.

Từ tuổi thanh niên, Hồ Chí Minh đã là một trong những người con yêu nước ưu tú nhất, tiêu biểu nhất của dân tộc. Tất cả ý nghĩa cuộc sống đối với Người đó là cứu nước, giải phóng dân tộc, cứu đồng bào bị đọa đày, đau khổ. Người coi đấy là lẽ sống thiêng liêng nhất. Người nói: ”Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”2. Đối với Người, tất cả mọi kế sách đều vô nghĩa nếu không nhằm tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc. Cả cuộc đời, Người ”chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”3. Hồ Chí Minh lúc thiếu thời rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu văn thân, các chí sĩ xả thân vì nước. Nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các vị. Tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh thời trẻ, ngay khi chưa gặp chủ nghĩa xã hội, đã thể hiện có tầm vượt trước những quan niệm cứu nước đương thời. Bởi đó là tư tưởng yêu nước sáng suốt, có tính phê phán, mang đậm tính nhân dân, tính nhân bản. Nó hướng tới việc tìm con đường thật sự cách mạng và khoa học, dẫn tới mục tiêu triệt để giải phóng dân tộc. Người nói: ”Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”4. Rõ ràng mục tiêu ấy không thể tìm thấy ở con đường cứu nước trên lập trường phong kiến và cả trên lập trường tư sản hay tiểu tư sản. Ở tuổi 13, cũng như một số nhà yêu nước đương thời, Hồ Chí Minh đã sớm bị hấp dẫn bởi khẩu hiệu ”Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Song, khác các vị ấy, Hồ Chí Minh muốn tìm hiểu đến tận nơi ”cái gì ẩn đằng sau” những từ đẹp đẽ ấy, không chỉ trên lý thuyết mà ngay trên thực tế. Với một hoài bão và lòng yêu nước như thế làm hành trang, Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước. Như vậy là chủ nghĩa yêu nước truyền thống đang đòi hỏi được đổi mới là tiền đề tư tưởng đưa Hồ Chí Minh đến một cách tự nhiên với chủ nghĩa Mác-Lênin, đáp ứng yêu cầu bức xúc của lịch sử lúc đó là phải xác định một đường lối cứu nước mới, đúng đắn. Tư tưởng yêu nước Hồ Chí Minh phản ánh yêu cầu giải phóng bức xúc của dân tộc Việt Nam và các dân tộc thuộc địa nói chung.

Tư tưởng càng vĩ đại khi nguồn gốc của nó càng sâu xa, cơ sở của nó càng rộng lớn. Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ kết tinh những giá trị dân tộc, mà còn bắt nguồn từ tinh hoa văn hóa nhân loại, cả phương Đông và phương Tây mà Người đã thâu thái được. Nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài xem Hồ Chí Minh là một điển hình của các bậc hiền triết phương Đông. Cốt cách phương Đông của người không chỉ ở văn hóa ứng xử mà còn thể hiện ở phương pháp, phong cách tư duy và hành động, ở sự am hiểu sâu sắc và tinh tế những vấn đề lịch sử cũng như những vấn đề nóng hổi đương đại của các dân tộc phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Campuchia…

Nền học vấn đầu tiên mà Người tíếp nhận là Nho học. Đến tuổi thanh niên và cả thời kỳ hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến nghiên cứu các giá trị phương Đông. Trong các hệ tư tưởng cổ truyền, dễ nhận thấy Hồ Chí Minh nhắc nhiều tới Nho giáo trong các bài viết, bài nói của mình. Theo thống kê của một số nhà nghiên cứu, trong Toàn tập Hồ Chí Minh thấy có tới khoảng 100 lần Người nhắc đến các luận điểm, cách ngôn của Khổng Mạnh. Lúc này Hồ Chí Minh dẫn lời Khổng Tử: ”Học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Lúc khác người dẫn lời Mạnh Tử: ”Ai cũng tham thì nước sẽ nguy”. Chỉ riêng một luận điểm của Nho giáo “Tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc” (lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ), tính ra Hồ Chí Minh đã nhắc tới 14 lần ở những thời điểm khác nhau và với những cách diễn đạt khác nhau. Theo Người, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, đạo đức người cộng sản cũng phải như thế.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra những hạn chế lớn của Nho giáo như phân chia đẳng cấp, coi thường phụ nữ, khinh lao động chân tay, v.v.. Hồ Chí Minh căn bản không dùng học thuyết Khổng Tử để cải tạo xã hội, song người nói ”Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học”5. Người cho rằng để kế thừa những cái hay trong tư tưởng các bậc tiền bối cần theo phương pháp Lênin. Người nói ”Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại. Lênin dạy chúng ta như vậy”6.

Hồ Chí Minh sử dụng không ít mệnh đề và thuật ngữ Nho giáo, song chúng ta không đồng tình quan điểm cho rằng Hồ Chí Minh ”chở chủ nghĩa Mác–Lênin trên cỗ xe Nho giáo”, rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là sự hội tụ giữa học thuyết Khổng Tử với học thuyết Mác. Hồ Chí Minh tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước cách mạng và yếu tố này tuyệt nhiên không có trong học thuyết Khổng Tử. Người không bài bác những yếu tố tiến bộ trong đạo Nho nhưng sử dụng chúng có phê phán và cải tạo lại nội dung trên cơ sở thế giới quan Mac-Lênin và nhân sinh quan cách mạng.

Từ tưổi thiếu niên, Hồ Chí Minh đã tiếp cận những yếu tố văn hóa phương Tây qua trường học Pháp – Việt. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người đã đến tất cả các nước chủ yếu phương Tây như Pháp, Anh, Mỹ, Đức, Italia… Mang đậm cốt cách nhà hiền triết phương Đông nhưng Hồ Chí Minh cũng rất coi trọng văn hóa, văn minh phương Tây. Trong giao tiếp, ứng xử hay biểu đạt tư duy khi cần Người cũng tỏ ra đầy bản lĩnh hiểu biết và phong cách phương Tây. Đúng hơn và phải nói rất tinh vi là một nhận xét có giá trị phát hiện của nhà báo Ôxíp Manđenxtam từ 1923 như sau: ”Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”7.

Nguồn văn hóa phương Tây tác động tới Hồ Chí Minh trước hết phải kể đến tư tưởng ”tự do, bình đẳng, bác ái” mà giai cấp tư sản thời đang lên nêu cao để tập hợp lực lượng lật đổ chế độ phong kiến. Những tư tưởng đó cũng trở thành giá trị của nhân loại, mặc dầu trong nguồn gốc ra đời nó thể hiện lợi ích của giai cấp tư sản. Hồ Chí Minh kể lại: ”Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái… người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”8.

Khi chủ nghĩa Mác-Lênin chưa thâm nhập vào Việt Nam, những người yêu nước Việt Nam hết sức ngưỡng mộ Đại cách mạng Pháp năm 1789. Anh thanh niên Nguyễn Tất Thành cũng rất muốn tìm hiểu xem nó có thể giúp ích gì cho công cuộc giải phóng đồng bào. Có thể nói, sức hấp dẫn đối với Nguyễn Tất Thành lúc đó không phải đường lối, cách làm của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu; cũng không phải lá cờ cải lương tư sản của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu (Trung Quốc) mà chính là những tư tưởng tiến bộ của Đại cách mạng Pháp năm 1789, mặc dầu ngay từ đầu Người đã cho rằng phải tìm hiểu đến cả mặt hạn chế của nó. Đây là một trong những nguyên nhân thúc đẩy Hồ Chí Minh đi Pháp vào năm 1911. Người kể với nhà báo Ôxíp Manđenxtam: ”Chúng giấu không cho người nước tôi xem sách báo. Không phải chỉ sách của các nhà văn mới, mà cả Rútxô và Môngtexkiơ cũng bị cấm. Vậy thì phải làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”9.

Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, đi khắp các châu lục, nhất là đến những trung tâm văn minh đương thời… Từ các thư viện Pari, Luân Đôn; từ những cuộc sinh hoạt luận bàn trong các hội thảo, các câu lạc bộ chính trị, văn hóa; từ sách báo; từ những quan hệ tiếp xúc với nhiều trí thức, các chính khách có tiếng ở Pháp và thế giới,… Hồ Chí Minh đã thâu thái được những tinh hoa văn hóa của phương Tây cần thiết cho hoạt động cách mạng của Người.

Cũng như đối với những giá trị của phương Đông, Hồ Chí Minh tiếp thu những giá trị tư tưởng văn hóa phương Tây với tinh thần độc lập tự chủ và phê phán. Người đã trực tiếp thấy rõ cách thống trị cực kỳ tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương, những thống khổ không sao kể xiết của đồng bào mình, đã tận mắt trông thấy tội ác dã man của bọn thực dân ở tất cả các nước thuộc địa mà Người đi qua, trực tiếp chứng kiến những bất công phổ biến ngay ở những nước ”văn minh”. Qua thực tế, Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra mặt trái của nền văn minh phương Tây. Song điều đó không ngăn cản Hồ Chí Minh tiếp thu, kế thừa những giá trị tốt đẹp của văn minh phương Tây.

Trên cơ sở những thực tế và nhân tố tư tưởng nói trên, đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự gặp gỡ tất yếu và tự nhiên giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với chủ nghĩa Mác-Lênin. Việc Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin ”cái cần thiết” và ”con đường” giải phóng dân tộc Việt Nam, ”ngọn hải đăng soi đường cho toàn thể nhân loại bị áp bức đi tới giải phóng”, là bước quyết định trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Bắt gặp chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng yêu nước ở Nguyễn Ái Quốc có bước nhảy vọt về chất – tư tưởng yêu nước ở Nguyễn Ái Quốc trở thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng yêu nước, anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc không phải chất riêng có những người cộng sản mà là vốn có ở hàng triệu người trong Đảng cũng như ngoài Đảng. Song chỉ có Đảng của giai cấp công nhân, được vũ trang bằng chủ nghĩa Mác-Lênin mới có đường lối đúng đắn để giải phóng dân tộc, biến chủ nghĩa yêu nước truyền thống thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại trên cơ sở kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tê vô sản. Được hệ tư tưởng khoa học của giai cấp công nhân quốc tế soi sáng, phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đã tìm ra đường lối cứu nước đúng đắn. Chủ nghĩa Mác-Lênin là cơ sở chủ yếu nhất hình thành tưởng Hồ Chí Minh. Còn tư tưởng Hồ Chí Minh là đỉnh cao chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam. Chính lý luận Mác-Lênin đã cung cấp cho Hồ Chí Minh thế giới quan và phương pháp luận khoa học biện chứng để tổng kết kiến thức, tổng kết lịch sử và kinh nghiệm thực tiễn, tìm ra con đường cứu nước mới, đưa Người vuợt hẳn lên phía trước so với những người yêu nước đương thời, khắc phục căn bản cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc. Theo V.I.Lênin, ”một người” chỉ xứng đáng với danh hiệu nhà tư tưởng” khi nào họ đi trước phong trào tự phát chỉ đường cho nó, khi nào họ biết giải quyết trước những người khác, tất cả các vấn đề lý luận, chính trị, sách lược và các vấn đề về tổ chức mà ”những yếu tố vật chất” của phong trào húc phải một cách tự phát”10. Hồ Chí Minh là một nhân vật kiệt xuất trong những con người như thế.

Chủ nghĩa yêu nước là cơ sở ban đầu, là động lực trực tiếp và xuyên suốt thúc đẩy Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Còn chủ nghĩa Mác-Lênin đã nâng chủ nghĩa yêu nước truyền thống ở Hồ Chí Minh lên bước phát triển mới về chất phù hợp với thời đại mới. Người nói: ”Lúc đầu chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Từng bước một, trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác-Lênin, vừa làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”11.

Ngay từ tác phẩm Đường Cách mệnh (1927) Hồ Chí Minh đã khẳng định: ”Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. Sau bao năm hoạt động ở nước ngoài, năm 1941, Bác về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người cho khắc lên ngọn núi đá có hang Pắc Bó và dòng suối đầu nguồn hai tên tuổi vĩ đại: ”núi Các Mác” và ”suối Lênin”. Người làm điều đó không do tình cảm ngẫu nhiên mà cốt để nhắc nhở đời đời. Cho đến khi sắp từ giã thế giới này, Bác còn ”để sẵn mấy lời… phòng khi tôi sẽ đi gặp Các Mác, cụ Lênin…”. Đủ thấy Hồ Chí Minh thủy chung là nhà mácxít – lêninnít vĩ đại, vĩ đại ở sự trung thành theo nghĩa đầy đủ và cao nhất của từ đó, nghĩa là bao hàm phát triển sáng tạo; trung thành không phải trên từng câu, chữ mà trung thành với thực chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên tinh thần ”dĩ bất biến ứng vạn biến”. Thật không đúng nếu chú tâm đi tìm sự khác biệt, sự đối lập nào đó giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin. Là kết quả lịch sử và lôgíc từ sự kết hợp tự nhiên truyền thống yêu nước với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là sự vận dụng mà còn phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam và cả các nước thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Càng sai lầm nếu ai đó chủ trương ”đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh thành chủ đạo để hạ thấp và xoá bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ trương ”đề cao” ”chủ nghĩa dân tộc” và ”Đảng của chủ nghĩa dân tộc Hồ Chí Minh”, hòng hạ thấp thậm chí gạt bỏ nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin. ”Đề cao” tư tưởng Hồ Chí Minh theo cách đó rốt cuộc là xoá bỏ chính ngay tư tưởng Hồ Chí Minh bởi tư tưởng Hồ Chí Minh từ đâu hình thành nếu không có cội nguồn chính yếu là chủ nghĩa Mác-Lênin?

Cương lĩnh của Đảng năm 1991 đã khẳng định: chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kimchỉ nam cho hành động của Đảng ta và của cách mạng Việt Nam. Nền tảng đó là thể thống nhất như cả một khối thép đúc thành, không gì phá vỡ nổi. Không ngừng củng cố vững chắc và phát triển sáng tạo nền tảng ấy là bảo đảm cơ bản cho Đảng ta không thay đổi màu sắc mà vẫn luôn xứng đáng là đội tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của cả dân tộc, là Đảng của chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế trong sáng, Đảng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

_____________

Chú thích:

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.6, tr.171.

2. Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2006, t.1, tr.112.

3,4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.161, 56.

5,6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.6, tr.46.

7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.1, tr.478.

8,9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.1, tr.477.

10. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Tiến bộ, M.1975, t.5, tr.445-446.

11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.10, tr.128.

Đẩy mạnh đổi mới toàn diện đất nước
theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Ngô Trần Đức

 

Suy thoái kinh tế đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, sức ép về an ninh quốc gia từ Biển Đông vẫn đang rập rình, tình trạng kinh tế – văn hoá – đạo đức – an sinh xã hội của nước ta,… xuống cấp từng ngày; đang gây lo lắng cho tất cả những ai quan tâm đến hiện tình của đất nước.

Năm 1986, Việt Nam đã dũng cảm và sáng suốt tiến hành một cuộc đổi mới ngoạn mục, mang tính cách mạng, nhờ đó mở ra một cục diện mới, chẳng những đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng mà còn nhanh chóng đạt những thành tựu được cả thế giới ngưỡng mộ, có tín hiệu dường như đang xuất hiện một con rồng mới ở Đông Nam Á. Rất tiếc, từ bước khởi đầu tốt đẹp đó trong những năm đầu, chúng ta đã ngập ngừng, rồi mắc vào chủ quan, bảo thủ, chẳng những bỏ lỡ cơ hội bứt lên mà dần dần lại rơi vào trì trệ, suy thoái, nay đang phải đối diện với nguy cơ khủng hoảng: sản xuất chậm lại, lạm phát dâng cao, nhập siêu tăng vọt, kỷ cương, phép nước bị buông lỏng, nạn tham nhũng hoành hành, cơ chế tổ chức, quản lý, tuyển chọn, đề bạt cán bộ sai quy luật, các tập đoàn kinh tế nhà nước thua lỗ nặng, quan chức hư hỏng, văn hoá – đạo đức xã hội suy thoái nghiêm trọng, sinh hoạt chính trị dân chủ bị hạn chế, đời sống nhân dân ngày càng khó khăn,…Đất nước đang đứng trước những nguy cơ khó lường. Một nhà kinh tế Việt Nam đưa ra nhận định: “Từ 1991 đến nay, chưa bao giờ tình hình kinh tế – xã hội lại xấu như bây giờ”.

Mô hình tăng trưởng 25 năm qua đã được khai thác hết giới hạn của nó. Muốn khắc phục khủng hoảng, để giữ vững và tiếp tục phát triển, Việt Nam phải nhanh chóng tiến hành một cuộc đổi mới II, chuyển mạnh sang mô hình phát triển nhanh và bền vững.

Đã có nhiều phương án, kiến nghị công phu, tâm huyết của các chuyên gia, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, được đưa ra để Đảng và Nhà nước lựa chọn. Có người đưa ra kịch bản duy tân đất nước – như là tiền đề, là điều kiện cho đổi mới, hoặc một cuộc chuyển hoá hoà bình theo bài học Trần Thủ Độ; có người đưa ra giải pháp “Thoát Á luận”, “Thoát Trung luận”, cùng nhiều đề nghị cần “thoát” ra khác nữa. Riêng tôi, tôi chú ý đến “Bản ý kiến” ngày 8 tháng 9 năm 2011 của 14 giáo sư, trí thức Việt kiều có tên tuổi, đang sống và làm việc ở nước ngoài, nhan đề “Cải cách toàn diện để phát triển đất nước”. Cũng như nhiều bản kiến nghị khác, bản ý kiến này, theo tôi, đã đưa ra được những kiến giải tâm huyết, sâu sắc, khả thi trong điều kiện Việt Nam hiện nay, được diễn đạt một cách cô đọng, thận trọng, sáng sủa, nên có sức thuyết phục cao. Chỉ băn khoăn rằng, không biết những ý kiến sáng giá như thế liệu có đến được những nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam hay không, có được các vị chiếu cố dành thì giờ nghiên cứu nó hay không?

Do đồng tình với nhiều điểm trong bản ý kiến này, và được kích thích bởi nó, tôi cũng mạnh dạn đưa ra ý kiến của mình, như là sự tiếp tục triển khai một vài ý tưởng trong bản ý kiến đó. Tôi đặc biệt tâm đắc khi thấy, không phải ai khác, mà chính các trí thức Việt kiều đã mong muốn Đảng và Nhà nước Việt Nam cần trở về sâu sắc hơn với Tư tưởng Hồ Chí Minh, trong cuộc đổi mới lần này. Về vai trò của Tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, đổi mới và phát triển đất nước, Bản ý kiến viết:

“Ta đã có một Hồ Chí Minh đặt nền móng dân chủ cho một nước Việt Nam độc lập…Ta đã lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng chỉ đạo. Tư tưởng độc lập đó cần phải được vun xới sâu hơn nữa trong hoàn cảnh hiện nay…Bối cảnh hoàn toàn đổi khác, tất nhiên tư tưởng của lãnh tụ cũng phải được hiểu theo một tinh thần mới, phải được chắt lọc lại, chỗ nào thuần tuý trường kỳ, chỗ nào là chiến thuật giai đoạn, chỗ nào thích hợp cho dân chủ ngày nay, chỗ nào đã đáp ứng xong rồi những nhu cầu trong quá khứ. Toàn dân sẽ tham gia thực hiện nền móng dân chủ mà lãnh tụ đã đặt viên gạch đầu tiên thuở khai sinh nước. Ngôi nhà sẽ xây kết hợp hài hoà tư tưởng Hồ Chí Minh với những tu tưởng của thế giới, vạch ra một mô hình thích hợp với hoàn cảnh hiện nay của Việt Nam…”.

Viết như thế tỏ rõ các tác giả đã khẳng định những giá trị bền vững trong tư tưởng và phương pháp cách mạng uyển chuyển của Hồ Chí Minh. Nhận thức đó hoàn toàn phù hợp với quan điểm học tập, kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưỏng Hồ Chí Minh trong quá trình đổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam.

Một cuộc cải cách về thể chế mang tính cách mạng tất yếu phải do Đảng lãnh đạo phát động, và như bản góp ý đã thừa nhận, “trên thực tế hiện nay, cũng chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đảm nhận được vai trò này”. Một Đảng lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, tiến hành một cuộc cải cách thể chế theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh, là một bước đi tự nhiên, hợp quy luật, hợp lòng dân. Tư tưởng đó là vốn quý của dân tộc, phản ánh ý chí và nguyện vọng của toàn dân mong nó được thực hiện và toả sáng trên đất nước này. Chúng ta không cần sao chép ở sách vở nào, không cần mô phỏng theo cách làm của ai cả, hơn nữa, còn phải dũng cảm “thoát” ra khỏi những điều tự trói buộc vô hình, đã bị thực tiễn bác bỏ, để trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh – của báu đã sẵn trong nhà, chỉ cần Đảng phát động, toàn dân sẽ hưởng ứng, sẽ nô nức đi theo, như thời Cách mạng Tháng Tám, như thời kỳ đổi mới năm 1986 vậy.

 

1. Để đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh,
cần nhận thức sâu sắc hơn nữa về tư tưởng của lãnh tụ

 

Có điều lạ là trong mấy chục năm qua, Đảng đã liên tục phát động nhiều đợt vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” mà ít hoặc không thấy nhắc nhở đến phải ra sức “học tập và làm theo tư tuởng Hồ Chí Minh”? Đành rằng, trong các trường đảng và trường đại học đã có bộ môn “tư tưởng Hồ Chí minh” nhưng không phải loại cán bộ nào cũng được qua trường đảng, hơn nữa, nhân dân cũng cần nắm được nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh để học tập, làm theo, cần hơn còn là để theo rõi, giám sát cán bộ của Đảng, xem họ có làm đúng với tư tưởng của Cụ Hồ hay không. Phải chăng tư tuởng Hồ Chí Minh quá cao, quá khó để làm theo đối với chúng ta, hay còn có sự e ngại nào khác?

Từ lâu, nhân dân ta vẫn tâm niệm: đổi mới thực chất là trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tấm gương và cách làm của Hồ Chí Minh, để xã hội có nhiều dân chủ, cởi mở và thông thoáng hơn; dân giầu, nước mạnh, công bằng, văn minh hơn; nhà nước pháp quyền với đội ngũ công bộc trung thành, tận tuỵ hơn; quan hệ giữa người với người nhân ái, đoàn kết, khoan dung, hoà hợp hơn; và không quên trách nhiệm đóng góp vào tiến bộ xã hội của thế giới. Đó là những giá trị có ý nghĩa toàn nhân loại, nên rất được lòng dân. Nếu bảo đó chính là những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội theo quan niệm của Hồ Chí Minh thì cũng không sai, bởi với Cụ Hồ, “ý dân là ý trời”, cái gì hợp lòng dân, đó là chủ nghĩa xã hội, cái gì mất lòng dân, đó là chống lại chủ nghĩa xã hội, đúng như Cụ từng nói: “chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp của toàn dân, do nhân dân tự xây dựng lấy”, không ai làm thay, không ai ban phát, áp đặt cho dân cả!

Như vậy, để cải cách, đổi mới theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, điều cần thiết là phải nhận thức đúng, quán triệt sâu sắc, cả phần nổi và phần chìm trong tư tưởng của Cụ – cái mà ta đang gọi là “minh triết Hồ Chí Minh”. Hiểu một cách đơn giản, minh triết là “sự khôn ngoan, sáng suốt” (sagesse) – điều mà không mấy ai nói ra thành lời cái sự khôn ngoan ấy của mình. Đó là chỗ khác nhau giữa khái niệm “tư tưởng Hồ Chí Minh” với “minh triết Hồ Chí Minh”, một cái “hiển ngôn”, một cái “vô ngôn”. Trong nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh, khi cái “hiển ngôn” bất lực thì người ta phải tìm đến cái “vô ngôn”.

Điều đặc sắc ở Hồ Chí Minh là có sự thống nhất cao độ giữa lý luận và thực tiễn, giữa nói và làm, thường nói ít, làm nhiều, lắm khi chỉ làm mà không nói, vì sao? Vì Hồ Chí Minh phải sống và đấu tranh trong một bối cảnh quốc tế cực kỳ phức tạp, nhạy cảm, không phải lúc nào cũng có thể nói ra mọi ý nghĩ của mình, khi ý ấy không phù hợp với quan điểm của những lực lượng mà mình đang cần phải dựa vào hay cần tranh thủ. Người minh triết là người biết hành xử khôn ngoan, sáng suốt trước những hoàn cảnh éo le, phức tạp để thực hiện thành công mục tiêu của mình. Nhờ có “minh triết” mà Hồ Chí Minh có thể “bảo thân” lúc nguy nan, có thể “sự quốc” khi vận mệnh quốc gia ở thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Nghiên cứu minh triết Hồ Chí Minh là tìm hiểu cái phần chìm này, cái phần không “hiển ngôn”, được thể hiện qua lối sống, cách ứng xử, qua việc làm và cách làm của Hồ Chí Minh, cái phần không nói ra ấy – hay nói bằng hành động – (không có trong HCM TT, tất nhiên) nhưng lại giúp ta hiểu rất sâu về thực chất tư tưởng của Cụ mà chúng ta đang cần học theo lúc này.

Hồ Chí Minh là người cộng sản, nhưng xét đến cùng, chủ yếu Cụ vẫn là người yêu nước, suốt đời đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, cơm áo, hạnh phúc và nhân phẩm của nhân dân. Một dân tộc thuộc địa nhỏ yếu, muốn đánh thắng một cường quốc đế quốc, không thể không đi tìm đồng minh, tranh thủ viện trợ, hợp tác, giúp đỡ của quốc tế.

Hồ Chi Minh đến với Quốc tế 3 của Lênin trong hoàn cảnh ấy, khi không một quốc gia, một tổ chức chính trị nào ở phương Tây lúc đó chìa bàn tay ra với các dân tộc thuộc địa. Có điều, mục tiêu hàng đầu của Quốc tế 3 là làm cách mạng vô sản, giải phóng giai cấp công nhân thế giới, còn mục tiêu trước hết của Hồ Chí Minh là làm cách mạng giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc mình và các dân tộc thuộc địa. Vì mục tiêu hai loại cách mạng khác nhau nên chiến lược, sách lược cũng khác nhau rất nhiều, đã thế, Quốc tế 3 lại đặt cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa vào địa vị phụ thuộc – ở vòng ngoài của cách mạng vô sản, để hỗ trợ cho cách mạng vô sản – khi nào cách mạng vô sản ở chính quốc thành công thì các dân tộc thuộc địa tự nhiên sẽ được giải phóng!

Cái khó nữa của Hồ Chí Minh là ở chỗ, theo quan điểm của Quốc tế CS, vấn đề dân tộc ở châu Âu cơ bản đã được giải quyết xong từ hai thế kỷ trước, bị coi là thuộc phạm trù cách mạng tư sản, nếu chỉ coi trọng vấn đề dân tộc, không nhấn mạnh vấn đề giai cấp, sẽ bị phê phán là trái với quan điểm mác-xít, không được coi là người cộng sản chinh thống. Điều đó cắt nghĩa vì sao Hồ Chí Minh thường bị Quốc tế cộng sản coi là một phần tử hữu khuynh, dân tộc chủ nghĩa, không được tin cậy, trọng dụng.

Đi theo con đường cách mạng vô sản để tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, muốn giành được thắng lợi, Hồ Chí Minh đã phải điều chỉnh nhiều công thức, mệnh đề của học thuyết Mác-Lênin cho phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, kể cả khi miền Bắc đã đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Do đó, vẫn giương cao ngọn cờ Mác-Lênin, vẫn nói phải học tập kinh nghiệm của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhưng trong thực tế hành động, Hồ Chí Minh đã làm khác, có khi phải làm ngược lại, cách mạng Việt Nam mới giành được thắng lợi. Xin đơn cử một vài luận điểm:

1. Lênin và Quốc tế 3 đặt cách mạng giải phóng dân tộc ở địa vị phụ thuộc, khi nào cách mạng vô sản ở chính quốc thắng lợi thì cách mạng ở thuộc địa sẽ thành công. Hồ Chí Minh lại cho rằng thuộc địa là khâu yếu trong hệ thống đế quốc chủ nghĩa, trong khi chủ nghĩa yêu nước và khát vọng tự do, độc lập của nhân dân thuộc địa lại vô cùng mãnh liệt, nếu khéo lãnh đạo thì cách mạng thuộc địa có thể thành công trước và bằng thắng lợi đó, góp phần vào sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản ở phương Tây. Lịch sử đã diễn ra đúng như Cụ Hồ đã khẳng định và Cụ đã thành công.

2. Học thuyết Mác-Lênin coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa tư bản và vô sản, coi quan điểm giai cấp là tiêu chí cơ bản nhất để xem xét lập trường, quan điểm của một người cộng sản. Hồ Chí Minh lại nói; “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước,… người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống xã hội của họ”[1]. Ta hiểu vì sao Hồ Chí Minh, trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, lại không nhấn mạnh vấn đề giai cấp mà luôn chú trọng phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, luôn nhắc đến “con Lạc cháu Hồng”, đến hai tiếng thiêng liêng “Tổ quốc, đồng bào”, luôn coi trọng củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo, …chứ không đơn thuần chỉ nhắc tới công- nông, vì vậy Đảng đã tập hợp và lôi cuốn được toàn thể dân tộc vào cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và xây dựng đất nước.

3. Marx quan niệm đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chinh vô sản – tức nhà nước độc quyền của giai cấp vô sản. Lênin coi chính quyền Xô viết là chính quyền của công nông. Stalin còn cực đoan hơn, không cho phép các đảng cộng sản châu Âu trong Quốc tế 3 được liên minh với các đảng dân chủ – xã hội để giành đa số trong tranh cử vào Quốc hội ở các nước tư bản trong những năm 30 của thế kỷ trước. Hồ Chí Minh sau khi về nước trực tiếp chỉ đạo đấu tranh giành chính quyền, lại đưa ra chủ trương: “không nên nói công nông liên hợp và lập chính quyền xô-viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hiệp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”[2], tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực tế, Chính phủ Hồ Chí Minh sau Cách mạng tháng Tám là Chính phủ gồm đại biểu các đảng phái, tôn giáo, nhân sĩ, trí thức Bắc-Trung-Nam, nhiều người trước đó từng là thượng thư, khâm sai đại thần, bộ trưởng trong Chính phủ Bảo Đại hay Trần Trọng Kim. Điều này khiến Stalin đã phải chất vấn khi gặp Hồ Chí Minh năm 1950: “Chính phủ của đồng chí là cáí chính quyền gi và của ai? ( có ý phê phán không phải chính quyền công nông).

4. Về phương thức tiến hành 2 nhiệm vụ phản đếphản phong trong cách mạng dân tộc – dân chủ, quan điểm của Stalin và Quốc tế cộng sản yêu cầu phải coi 2 nhiệm vụ đó là ngang nhau, nương tựa vào nhau, do đó phải được tiến hành song song, đồng thời (“con cọp-đế quốc nấp trong bụi lau-phong kiến, muốn đánh cọp phải phát lau, phát lau để đánh cọp”- đó là cách diễn đạt của Trung Quốc khi chấp hành chỉ thị của Stalin). Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh lại coi nhiệm vụ giải phóng dân tộc là cấp bách nhất, nổi lên hàng đầu, muốn thế phải phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để giành cho được độc lập; vấn đề ruộng đất cũng sẽ thực hiện từng bước, nhưng phải phục tùng nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh cũng chưa đề ra chủ trương cải cách ruộng đất, mà chỉ mới thực hiện giảm tô, giảm tức, chia ruộng của thực dân và Việt gian phản động cho nông dân nghèo, nên 1950 đã bị Stalin nhắc nhở, phê bình, đòi hỏi phải cải cách ruộng đất, như một điều kiện để được tái hòa nhập phong trào cộng sản và để được nhận viện trợ. Như ta đã thấy, Hồ Chí Minh đã chần chừ mãi, đến cuối 1953 mới thông qua luật cải cách ruộng đất, làm 1, 2 thí điểm, sang 1954 mới mở rộng ra một vài nơi ở trung du Bắc bộ.

5. Học thuyết Mác-Lênin thường nhấn mạnh vai trò quyết định của cơ sở kinh tế, xét đến cùng, điều đó đúng, nhưng trong thực tế vận dụng, không tránh khỏi có lúc rơi vào kinh tế quyết định luận, coi nhẹ vai trò tác động trực tiếp của các yếu tố trung gian khác. Hồ Chí Minh lại đánh giá rất cao vai trò của nhân tố con người. Trong hoàn cảnh một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, vật chất tất nhiên là vô cùng thiếu thốn, nhưng nếu biết phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, sức tác động trở lại của văn hóa, đạo đức,… thì trong những hoàn cảnh nhất định, con người vẫn có thể dùng tinh thần để vượt qua những thiếu thốn vật chất mà giành được thắng lợi. Bản thân cuộc đời cách mạng đầy gian khổ hy sinh của Cụ Hồ là một bài học lớn về vấn đề này.

6. Các nhà sáng lập và hoạt động nổi tiếng của phong trào cộng sản thế giới đều xuất thân trí thức, nhưng khi lên cầm quyền, nhiều lãnh tụ vô sản lại coi thường trí thức, thậm chí coi khinh trí thức. Nước Nga xô-viết dưới thời Lênin và Stalin, hàng vạn trí thức đã bị đàn áp, đày đọa, giết hại, hoặc buộc phải đi sống lưu vong. Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông, trí thức bị coi khinh, không bằng “cục phân chó”! Trí thức vẫn là đối tượng bị đày ải, nhục hạ chủ yếu trong các cuộc vận động “chỉnh phong”, “tam phản, ngũ phản”, đặc biệt là trong cuộc “đại cách mạng văn hóa”, không ít người đã tìm đến cái chết hoặc bị giam cầm, đày đọa cho đến chết. Vì sao có hiện tượng này? – vì thiếu dân chủ, không quen nghe ý kiến phản biện, chỉ muốn độc quyền chân lý!

Hồ Chí Minh lại rất coi trọng trí thức, lắng nghe trí thức, tin dùng trí thức, vì theo Cụ, trí thức ở thuộc địa đều là những người yêu nước, có tinh thần dân tộc, vì có học vấn cao, hiểu biết rộng nên nắm được chân lý, có tinh thần dân chủ, hướng về cách mạng. Vì vậy, trí thức là lực lượng quan trọng trong việc quản trị, điều hành đất nước theo luật pháp, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chế độ mới. Người nói: Không có trí thức tham gia, công việc của cách mạng sẽ khó khăn hơn rất nhiều.

Trên đây, chỉ dẫn ra một vài ví dụ để chứng minh rằng nhiều tư tưởng của Hồ Chí Minh được thể hiện qua hành động, chỉ làm mà không nói. Đó là phần minh triết của Cụ. Nó cho thấy: vào lúc tư duy lý luận của Quốc tế CS, sau thời Lênin, đã bị “sơ cứng hóa”, họ đã xử lý rất nặng với những ai có quan điểm độc lập, khác biệt, nhưng Hồ Chí Minh vẫn không vì thế mà bị trói buộc bởi những công thức giáo điều, cứng nhắc nào, vẫn luôn nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, luôn xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của dân tộc, từ thực tiễn cách mạng Việt Nam để tiếp thu có chọn lọc và vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, kết hợp nó với tư duy chính trị – triết học dân chủ và tiến bộ của nhân loại, theo phương châm Cụ đã nói: “Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt ta học lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam,…hợp với tinh thần dân chủ”[3].

Nói như trên, vậy có phải Cụ Hồ chỉ là một người dân tộc chủ nghĩa hay chăng? – Cụ Hồ là một người cộng sản yêu nước, thương dân, luôn biết kết hợp chủ nghĩa yêu nước nồng nhiệt với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, lợi ích dân tộc với lợi ích nhân loại, tuyệt đối không có một gợn nhỏ nào của chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, hẹp hòi. Chỉ có chủ nghĩa quốc tế giả danh, chứ không có chủ nghĩa quốc tế trừu tưọng. Làm sao có thể trách Nguyễn Ái Quốc – một người cộng sản lại ít nói về cách mạng vô sản mà chỉ nói nhiều về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa? Tại sao tác phẩm đầu tay Cụ dịch ra tiếng Việt không phải “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” của Marx-Engels mà lại là “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu?

Cần hỏi lại là: tại sao một người dân mất nước, ra đi làm cách mạng để giải phóng dân tộc mình khỏi ách nô lệ thực dân, đế quốc, lại không nói nhiều về chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, lại không tố cáo những nỗi thống khổ của người dân bản xứ, lại không nhấn mạnh yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa? Nếu thắng lợi của cuộc cách mạng ấy làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, góp phần thúc đẩy phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân thế giới, sao lại không phải là đóng góp vào sự nghiệp cách mạng thế giới?

Tuy nhiên, trong người cộng sản – yêu nước ấy, vẫn phải thấy mặt chủ thể, mặt chính yếu là mặt yêu nước, nếu gọi Hồ Chí Minh là người cộng sản ái quốc, người cộng sản dân tộc, thì đó chính là một lời khen, một vinh dự, chứ không phải là một nhược điểm. Cả cuộc đời Cụ đã hiến dâng cho sự nghiệp cao cả ấy. “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là lo làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Tháng 3 năm 1949, trả lời điện phỏng vấn của phóng viên Mỹ Walter Briggs: “Cụ có là người cộng sản nữa không?”, Cụ trả lời: “Tôi luôn luôn là một người yêu nước, tranh đấu cho độc lập, thống nhất thật sự của Tổ quốc tôi”[4].

Đổi mới, cải cách toàn diện đất nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh, ở thời kỳ hiện nay, phải trở về với tinh thần này: “Tổ quốc trên hết, dân tộc trên hết, nhân dân trên hết”. Các nhà hiền triết xưa nay vốn chỉ coi “kinh sách” như là con thuyền giúp ta qua sông để cập bến bờ của “đạo”, chứ không ai đội mãi con thuyền ấy trên đầu để đi trên cạn bao giờ. Ngày nay, chúng ta cũng phải biết vượt lên những thiên kiến, những lợi ích cục bộ, những ràng buộc ý thức hệ đã bị thực tiễn bác bỏ, để thực hiện đại đoàn kết dân tộc, cứu nguy đất nước trước khủng hoảng kinh tế-xã hội và đe dọa xâm lược của chính “anh bạn vàng”; phải vượt lên trên những khác biệt về chính kiến hay tôn giáo, tạo nên sự đồng thuận, trên nền tảng “lấy nước làm trọng, lấy dân làm gốc”, như Cụ Hồ đã luôn nhắc nhở, từ năm 1946:

Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm,

Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”.

“Tín đồ Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia-tô tin ở Đức Chúa Trời, cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với dân, ta đừng làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, ta phải làm nấy[5]”. Ngày nay, thời đại các bên cùng thắng đã qua rồi, khối đồng Eurozone đang có nguy cơ tan vỡ, mỗi quốc gia trong EU đang phải lo tự cứu lấy mình. Việt Nam ta chỉ có một chỗ dựa mạnh mẽ, duy nhất để tồn tại và phát triển trong thế giới cạnh tranh này, đó là sự đồng thuận của nhân dân. “Được lòng dân thì còn, mất lòng dân là mất hết!”.

Tôi nghĩ rằng, đây cũng là nhận thức và mong muốn chung của nhân dân ta, của giới nhân sĩ, trí thức Việt Nam và trí thức Việt kiều, về vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh ở bối cảnh đất nước đang như con tầu trong cơn bão!

 

2. Đổi mới toàn diện đất nước
theo đúng tư tưởng và cách làm
của Hồ Chí Minh

 

Đảng lãnh đạo chủ động đứng ra tiến hành một cuộc cảỉ cách có tính cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh – với tư cách là nền tảng tư tưởng của Đảng – đưa cỗ xe đất nước vận hành theo lộ trình dân chủ mà Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, theo con đường mà cả nhân lọai tiến bộ đang đi, sẽ là sự lựa chọn hiện thực nhất, sáng suốt nhất, là con đường ngắn nhất mà hiệu quả nhanh nhất, để đưa đất nước vượt lên, thoát ra khỏi nguy cơ có thể dẫn đến đổ vỡ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là cái gì trừu tượng, khó hiểu, nó giản dị, thiết thực như cơm ăn, nước uống, như ánh sáng và khí trời, ai cũng có thể tiếp nhận, như những chân lý tự nhiên, đang tiềm ẩn trong mỗi người, chỉ được Cụ Hồ gợi lên là thức tỉnh. Vì vậy, không cần phải khảo cứu trong “thiên kinh, vạn quyển” nào, chỉ cần lọc ra những tư tưởng lớn chứa đựng trong những câu nói giản dị của Cụ, hóa thân nó vào Hiến pháp (đang sửa đổi) và hệ thống pháp luật, vào thể chế, chính sách, …đã và sẽ được đổi mới, khi thể chế hoàn hảo hình thành, đi vào vận hành, nó sẽ khép con người vào khuôn khổ, sẽ uốn nắn lại thái độ, cách sống, cách ứng xử của mỗi người, kéo theo sự thay đổi của toàn xã hội.

2.1. Cải cách thể chế sẽ góp phần điều chỉnh và nâng cao đạo đức con người.

Chú trọng giáo dục đạo đức và nêu gương đạo đức là một quan điểm lớn của Hồ Chí Minh. Trong hoàn cảnh hiện nay, khi một bộ phận không nhỏ những người có chức, có quyền, kể cả ở cấp cao, rơi vào thoái hoá, biến chất nghiêm trọng về nhân cách, đạo đức, đề ra cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là cần thiết. Đạo đức có khả năng rất lớn trong việc điều chỉnh hành vi của con người. Tuy nhiên, cũng phải thấy giải pháp đạo đức riêng mình nó không giải quyết được tất cả, nhất là khi đời sống đạo đức xã hội đã có sự rối loạn về giá trị, do cách tiến hành giáo dục của ta lâu nay còn hình thức, hời hợt, chưa xác định trúng đối tượng để tập trung vào, không tìm ra được những tấm gương lớn, làm cho một vấn đề vốn rất nghiêm túc như vậy trở nên nhàm chán, kém hiệu quả.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện độc quyền lãnh đạo, để xoay chuyển tình hình, tránh được khủng hoảng, đưa đất nước chuyển sang một thời kỳ mới, có nhiều vấn đề đang đòi hỏi phải được thay đổi tận gốc, nghĩa là cần thiết phải nhanh chóng thực hiện một cuộc đổi mới, cải cách toàn diện, nhằm tạo ra một thể chế mới, với hệ thống chế tài mới, động lực mới,…tác động và ràng buộc con người, khiến mỗi người muốn tồn tại và phát triển, không thể sống khác, làm khác. Một xã hội như thế, theo cách nói của B. Brech, sẽ khiến cho “mọi lời kêu gọi về đạo đức và lòng tốt trở nên thừa”! Như xã hội Singapore hiện nay, viên chức nhà nước đã có thể nói đến “ba không”: “không cần, không dám, không thể” tham nhũng (vì lương họ đã đủ sống ở mức khá, vì sợ bị pháp luật nghiêm khắc trừng trị – sẽ tước bỏ vĩnh viễn lương hưu – và còn vì chế tài quá chặt chẽ, có muốn tham nhũng cũng không được).

Giáo dục đạo đức rất cần đến sự hỗ trợ của các yếu tố ràng buộc khác, trước hết là pháp luật. Kinh nghiệm của Singapore vào những thập kỷ đầu mới lập quốc, họ rất coi trọng vai trò trừng trị của pháp luật, những chuẩn mực về đạo đức, những thói quen xấu về nếp sống văn minh,…càng “thâm căn cố đế”, càng phải cần đến sự hỗ trợ của pháp luật. Sau một số năm cưỡng chế quyết liệt (thậm chí trừng phạt cả bằng đòn roi trước đám đông, chứ không phạt bằng tiền), nay Singapore đã được coi là một quốc đảo biểu tượng cho văn hóa – văn minh đô thị ở Đông Nam Á.

Ngày nay, chúng ta đang phải đối mặt với những tha hóa, rác rưởi bộc lộ hàng ngày ngoài xã hội và trong nhân cách của không ít người. Họ đang bon chen, ngụp lặn trong tiền tài, danh vị, tham nhũng, hối lộ, mua quan, bán chức, hà hiếp, nhũng nhiễu, lừa đảo, chặt chém, cướp giật “giữa ban ngày”. Để thanh toán chúng, không một lời kêu gọi đạo đức nào có thể giải quyết được, nếu không đi đôi với dùng pháp luật để trừng phạt, răn đe. Các nước phương Đông vốn có truyền thống kết hợp đức trị với pháp trị. Cụ Hồ là tấm gương sáng về mặt này. Cụ nhấn mạnh: pháp luật của ta “phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào”[6]. Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I (11-1946), có đại biểu đã chất vấn Chính phủ về vụ Chu Bá Phượng (Bộ trưởng Bộ Kinh tế, đại biểu Quân Dân Đảng trong chính phủ Liên hiệp), tham gia Hội nghị Fontainebleau, mang theo vàng để buôn lậu, bị hải quan Pháp bắt giữ, báo chí Pháp lợi dụng bêu riếu, làm mất uy tín chính phủ ta. Cụ Hồ đã trả lời thẳng thắn: “Chính phủ đã hết sức làm gương, và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết!” Nói là làm, Cụ đã cách chức Bộ trưởng Kinh tế của Chu Bá Phượng, cho chuyển sang làm việc khác, cũng như sau này đã ký lệnh tử hình đối với Đại tá Trần Dụ Châu, Thứ trưởng Trương Việt Hùng,…

Hiện nay, ở ta vẫn còn tình trạng bất công, cùng một loại tội, nhưng “quan được xử theo lễ, dân mới xử theo luật”, “thưởng cho quan thì quá rộng mà phạt lại không nghiêm”. Cụ Hồ nói: có công thì được thưởng, có tội thì phải phạt, thưởng phạt phải nghiêm minh. Tại sao trong quản lý, lãnh đạo kinh tế – xã hội, có biết bao vụ sai phạm nghiêm trọng, như vụ Vinashin, mà lại có thể nói trước Quốc Hội rằng “Bộ Chính trị quyết định không kỷ luật ai”. Vậy vai trò hành pháp, tư pháp của nhà nước ở đâu, có còn nữa không? Nếu sự trừng phạt không nghiêm, thì tác dụng giáo dục, răn đe của pháp luật sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn.

2.2. Cải cách, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, mới nâng cao được khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.

Trong cuộc đổi mới được phát động năm 1986, Đảng lãnh đạo đã dũng cảm đột phá vào một luận điểm tối quan trọng của tư duy kinh tế Mác-Lênin, là từ bỏ mô hình kinh tế quan liêu-bao cấp-kế hoạch đã thất bại, chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho phép phát triển kinh tế tư nhân, kêu gọi đầu tư của tư bản nước ngoài, sức sản xuất được “cởi trói”, tạo ra một sức sống mới, một không khí làm ăn mới, ai ai cũng hồ hởi dốc tiền của, sức lực, tài trí của mình ra sản xuất, kinh doanh, để thoát khỏi đói nghèo, vươn lên làm giầu, cho mình và cho đất nước.

Tiến thêm một bước, tại Hội nghị TƯ lần thứ ba, khóa VIII (6-1997), lần đầu tiên Đảng đưa ra vấn đề “xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”, ban hành nhiều đạo luật mới để Nhà nước quản lý kinh tế-xã hội….bằng pháp luật, tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho sản xuất, kinh doanh, hợp tác, làm ăn với nước ngoài. Những nỗ lực đó đã dọn đường cho Việt Nam được gia nhập tổ chức WTO vào đầu năm 2007, tuy đã bị chậm lại sau gần 10 năm thương thảo.

Đáng lẽ, nhân cơ hội đó phải mạnh dạn đổi mới nhanh hơn, đồng bộ hơn trên con đường đã chọn, chúng ta lại ngập ngừng, do dự, có lúc lùi lại, để rồi rơi vào trì trệ. Vì vậy, Việt Nam, sau 5 năm vào WTO, vẫn chưa được công nhận có nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, đúng nghĩa, vì chưa có đối xử công bằng, cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Sự ưu đãi đặc biệt Chính phủ dành cho các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đã thủ tiêu mất cả hai động lực phát triển của kinh tế thị trường: sức cạnh tranh và có lợi nhuận, bởi sản phẩm họ làm ra (như tầu của Vinashin) giá thành cao, chất lượng thấp, không bán được ngay trên thị trường nội địa, bị đọng vốn, nên thua lỗ nặng, nợ nần cứ chồng chất. Cơ chế đặc biệt dành cho họ còn tạo kẽ hở cho sự lũng đoạn và tham nhũng kéo dài trong các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước; để Nhà nước cứ phải không ngừng rót vốn – như rót vào cái thùng không đáy – với danh nghĩa là phải giúp nó phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa!

Nhưng liệu có phát huy được không, khi các tập đoàn này có quy mô rất to, tài sản rất lớn, quyền lực rất nhiều, được hạch toán độc lập,…nhưng lại thiếu một hệ thống chế tài và cơ chế kiểm soát chặt chẽ ngay từ trong nội bộ, còn sự giám sát từ bên trên lại lỏng lẻo, trước còn đặt dưới quyền của các Bộ chủ quản, sau lại được trực thuộc Phủ Thủ tướng, gần như nó đã trở thành một vương quốc tự trị! Vì vậy, các sai phạm nó gây ra, lỗi đâu chỉ là của riêng các quan chức quản lý, mà đã là lỗi của thể chế, chính cơ chế ấy đã tạo điều kiện cho những người nắm quyền quản lý dễ dàng biến tài sản quốc gia thành tài sản riêng của tập đoàn, rồi thành tài sản của nhóm lợi ích, để họ có thể tự tung tự tác, làm giàu cho chính mình, thua lỗ kinh tế thì Nhà nước gánh chịu, còn họ coi như đã làm xong nhiệm vụ chính trị được giao!

Rõ ràng, đã đến lúc chúng ta phải thay đổi tư duy về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và đầu tư công. Gần đây, đã có nhiều người lên tiếng về vấn đề này. Ông Phan Diễn, nguyên Thường trực Ban Bí thư TƯ Đảng CS Việt Nam, đã phát biểu nhận thức mới của mình về vai trò của kinh tế nhà nước, sau những chuyến đi khảo sát ở nước ngoài: “Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế rất quan trọng, nhưng kinh tế nhà nước thì chưa chắc”. Ông đánh giá cao vai trò của Chính phủ Hàn Quốc trong định hướng phát triển kinh tế, đề ra chủ trương, chính sách, nhưng thực thi chính sách đó, họ lại không dựa vào kinh tế quốc doanh mà dựa vào lực lượng kinh tế của tư nhân.

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng: “Gốc gác của vấn đề là nhiều tư duy không ổn mà ta ít nhắc tới. Tư duy về vị trí nhà nước trong nền kinh tế thị trường của ta còn khác nhau và chưa rõ…Ở các nước, chính quyền chủ yếu lo quản lý hành chính nhà nước, không ai đi làm kinh tế cả”. Ở ta thì khác…Đầu tư công dàn trải, mỗi tỉnh là một pháo đài, một đơn vị kinh tế hoàn chỉnh. Không gian kinh tế quốc gia bị chia cắt thành không gian kinh tế tỉnh, nền kinh tế bị xé lẻ (tỉnh nào cũng muốn có sân bay, bến cảng, khu công nghiệp, khu du lịch sinh thái, sân gôn,…) mà hiệu quả kinh tế thì chưa rõ. Đó là biểu hiện của tư duy kinh tế quan liêu, bao cấp, xin-cho vẫn còn nặng. Nền kinh tế VN đang phải trả giá cho những bất cập này, nhất là tư duy về vai trò kinh doanh của nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

TS Phan Thanh Hà, Bộ Kế họach Đầu tư, dẫn số liệu thống kê của Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp, cho biết: khu vực kinh tế nhà nước hiện đang sở hữu 70% tổng tài sản cố định của nền kinh tế, chi phối 20% vốn đầu tư của toàn xã hội, 60% tín dụng của ngân hàng thương mại, 50% vốn đầu tư nhà nước và 70% vốn ODA. Được bảo hộ và ưu đãi nhiều như thế, nhưng khu vực này chỉ tạo ra 25% doanh thu, 37% lợi nhuận trước thuế và 20% giá trị sản xuất công nghiệp[7].

Những con số đã cho thấy: mặc dù được ưu đãi quá lớn, nhưng khu vực kinh tế này lại làm ăn thất bát, hiệu quả đóng góp không tương xứng với đầu tư, đã tự thủ tiêu mất hai động lực cơ bản của kinh tế thị trường (sức cạnh tranh và làm ăn có lãi), nếu không cải cách thì sớm muộn cũng sẽ phá sản, kéo theo sự sụp đổ của cả nền kinh tế. Một tư tưởng kinh tế mà Cụ Hồ đòi hỏi là phải hết sức coi trọng nguyên tắc hạch toán kinh tế, hiệu quả kinh tế: “Quản lý một nước, cũng như quản lý một doanh nghiệp: phải có lãi. Cái gì ra, cái gì vào, việc gì phải làm ngay, việc gì chờ, hoãn hay bỏ, món gì đáng tiêu, người nào đáng dùng, tất cả mọi thứ đều phải tính toán cẩn thận”[8]. Đó là nói trong hoàn cảnh chiến tranh, bao cấp vẫn là chủ yếu. Nay trong điều kiện kinh tế thị trường, phảỉ đổi mới tư duy kinh tế để có một nền kinh tế thị trường thực thụ. Nói cấu trúc lại toàn bộ nền kinh tế, không phải chỉ là thay đổi nhân sự, sắp xếp lại các bộ phận sản xuất, loại bỏ các hoạt động kinh doanh ngoài ngành,… mà điều cốt lõi vẫn là cấu trúc lại nó theo tư duy nào?

2.3. Cải cách hệ thống chính trị để có nhiều dân chủ hơn, để nhân dân được thực hiện quyền làm chủ của mình trong xây dựng và phát triển đất nước.

Trên danh nghĩa, Nhà nước của ta hiện nay được gọi là “nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”, nhưng thực tế, không chỉ nhà nước mà toàn bộ hệ thống chính trị của ta đã được “nhà nước hóa”, “đảng hóa” từ trên xuống dưới, mọi chủ trương, mọi quyết định lớn nhỏ, các cấp đều phải xin ý kiến và chờ quyết định của cấp ủy. Đảng “lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”đòi hỏi như vậy. Từ một anh tổ trưởng dân phố, phụ trách chuyện dân sự ở một cụm dân cư cấp ngõ xóm, cũng buộc phải là đảng viên, cho đến Ban chấp hành và bộ máy của các đoàn thể chính trị trong Mặt trận, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp,…ở TƯ lẫn địa phương, đều ăn lương và nhận kinh phí hoạt động do nhà nước cấp, đều có tổ chức đảng lãnh đạo mà bộ phận thường trực do Đảng bố trí. Cung cách hoạt động cũng được “hành chính hóa”, “quan liêu hóa” theo kiểu nhà nước. Hoàn toàn vắng bóng cái gọi là “xã hội dân sự” mang tính tự quản của các làng xã ngày xưa – điều mà Cụ Hồ đã nhiều lần nói đến, ví như việc lập “Quỹ Nghĩa thương”, Cụ cho đó là “một hình thức tương trợ đã có từ lâu đời ở nông thôn ta,…có nghĩa thương để khi gặp khó khăn, nông dân có thể giúp đỡ lẫn nhau”[9], đồng thời Cụ nhắc nhở “nghĩa thương phải độc lập, HTXNN tín dụng không có quyền can dự đến nó”, “Ban quản lý phải do những người đóng thóc cử, HTXNN và Hội đồng nhân dân không có quan hệ gì”[10]. Thế là Cụ Hồ đã nói đến một kiểu “xã hội dân sự” tự quản, không có sự can thiệp của nhà nước.

Một sự “lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”, không chia sẻ quyền lực với ai, sẽ không nghe được tiếng nói đa chiều, không phản ánh được những tâm tư, suy nghĩ đa dạng của dân, nên khó mà đại diện được cho ý chí, nguyện vọng của dân, vì vậy nó tất yếu không tránh khỏi có những quyết định sai lầm, dẫn tới mâu thuẫn, xung đột với lợi ích của dân. Việc Thành ủy và chính quyền thành phố Hải Phòng, chỉ nghe theo báo cáo sai thực tế, thiếu trung thực của cấp dưới, rồi vì lợi ích, cục bộ địa phương và phe nhóm, đi tới chỉ đạo giải quyết sai đường lối của Đảng, trái pháp luật của Nhà nước trong vụ cưỡng bức thu hồi đất ở Tiên Lãng, đã gây ra những phản ứng tiêu cực, tuyệt vọng của người dân. Đó là một minh chứng cho sự tha hóa của cơ quan quyền lực – tuy được mệnh danh là của dân – nhưng đã quay lại, dùng công an, quân đội đàn áp dân, coi dân như kẻ thù!

Nhìn lại “vụ Tiên Lãng”, sự việc “sai pháp luật, trái đạo lý” ấy xảy ra đã hàng tháng trời, nhưng ngoài báo chí và một số vị lãnh đạo có tâm đã nghỉ hưu sớm lên tiếng, còn các cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng, Nhà nước, công an, quân đội,…các cơ quan như UB Kiểm tra TƯ Đảng, Tổng thanh tra Chính phủ, các Hội có liên quan đến tư cách cựu chiến binh, đến hình ảnh người nông dân lấp biển, mở cõi…của anh Vươn, đều im tiếng, như không hề hay biết! Thậm chí, đến các vị “đại bỉểu của dân”, từ HĐND xã, huyện, thành phố đến đại biểu Quốc hội, do nhân dân Tiên Lãng – Hải Phòng bầu ra để lắng nghe, thu thập ý kiến, nguyện vọng của dân, phản ánh lên trên, cũng không thấy thể hiện được trách nhiệm của mình. Điều đó cho thấy hệ thống chính trị của ta đang có vấn đề, nếu ai cũng chỉ lo thân, giữ ghế, sẽ làm cho cả hệ thống chính trị bị tê liệt, những thông tin cấp bách, trung thực, không lên được tới cấp trên, thì làm sao có thể giúp Đảng và Nhà nước chỉ đạo kịp thời, đúng đắn được!

Đáng tiếc, vụ Tiên Lãng không phải là trường hợp hãn hữu, cá biệt. Nhiều năm qua, trong cả nước đã nóng lên các cuộc khiếu kiện, biểu tình đông ngưòi liên quan đến vấn đề đất đai cùng nhiều vấn nạn khác, quan hệ bức thiết đến đời sống của dân, làm cho người dân phẫn nộ, bất bình. Nguyên nhân không chỉ do cán bộ, viên chức thiếu năng lực, kém đạo đức, mà sâu xa nằm trong kiến trúc thượng tầng, trong sự tha hóa khó tránh của sự độc quyền.

Cụ Hồ là một nhà chính trị dân chủ, đã từng sống nhiều năm ở các nước dân chủ, nên Cụ luôn cảnh giác với hiện tượng “ngủ say” trên cái gối “độc quyền”, luôn tìm cách hạn chế, khắc phục nó. Tháng 8 năm 1945, vừa từ Việt Bắc về tới Hà Nội, xem qua danh sách Chính phủ Lâm thời do Thường vụ TƯ dự kiến, Cụ nói ngay: “Chính phủ Lâm thời của các chú “đỏ” quá” và đề nghị rút một số thành viên của UBDTGP ra khỏi danh sách, mời thêm một số vị nhân sĩ, trí thức có danh vọng, tham gia Chính phủ – không phải chỉ để khi Đồng Minh vào ta dễ làm việc, mà chính là cách mạng đang rất cần đến những kiến thức, kinh nghiệm tổ chức quản lý hành chính theo pháp luật của họ, điều mà những nhà cách mạng mới từ nhà tù đế quốc ra, khi ấy chưa thể có được. Sự tham gia của họ làm cho chính quyền cách mạng mạnh lên, chứ không phải là yếu đi.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đầu các phiên họp HĐCP hoặc Bộ Chính trị, Cụ Hồ thường dành một thời gian ngắn, làm một “tour d’horizon” – như Cụ nói, để ai nắm được điều gì thì kịp thời thông báo, giúp chính phủ có cái nhin tổng quát về tình hình các địa phương, nếu có việc gì khẩn cấp, chính phủ có ngay chủ trương giải quyết, không để kéo dài, tác động xấu đến tình hình chung, nhất là đến đời sống của nhân dân. Trong một lần như vậy , được nghe phản ánh về “Vụ Châu Phà”, xảy ra ở miền núi Liên Khu 4 năm 1950, cán bộ địa phương đã làm sai đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, dẫn đến cưỡng bức, đàn áp, bắt bớ nặng nề, oan sai. Cụ Hồ lập tức có Thư gửi đồng bào Liên Khu IV: “Tôi phải thật thà xin lỗi những đồng bào vì những cán bộ sai lầm mà bị oan ức. Tôi thật thà tự phê bình khuyết điểm của tôi – là giáo dục và lựa chọn cán bộ chưa được chu đáo”. Sau đó, Cụ nhắc nhở: “Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm…Khi ai có điều gì oan ức, thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam. Đồng bào cần hiểu rõ và khéo dùng quyền ấy”[11].

Những lời tự phê bình, nhận lỗi trước dân như vậy của lãnh đạo chính quyền các cấp từ TƯ đến địa phương, khi để xảy ra sai lầm với dân, không hiểu sao ở thời nay, thật quá khó và cực kỳ hiếm thấy, hay là thừa nhận sai lầm sẽ làm mất “oai quyền” của người lãnh đạo, sẽ tạo lý do để đối thủ hạ bệ minh?

Như vậy, đi đôi với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cải cách thể chế kinh tế, muốn thành công, phải đẩy mạnh cải cách cả hệ thống chính trị, khi nó đã rơi vào trì trệ, quan liêu hóa, xa dân, không còn phù hợp với trình độ dân trí và yêu cầu dân chủ của xã hội hiện nay.

Cải cách chính trị không phải là để thay đổi sự lãnh đạo của Đảng hay thay đổi chế độ, mà là để nâng cao hiệu quả và hoàn thiện hơn nữa sự lãnh đạo ấy, theo hướng ngày càng dân chủ hơn, xứng với tên gọi của nó là “nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”. Đối với thế giới, cải cách chính trị không phải là cái gì xa lạ, mới mẻ, mà vốn là chuyện phải làm thường xuyên của mọi đảng cầm quyền trong một chế độ dân chủ đa đảng, nếu muốn được tiếp tục nắm chính quyền trong lần bầu cử sau. Ở các nước dân chủ thường có tổ chức thăm dò tín nhiệm đối với chính phủ của đảng cầm quyền, nếu uy tín giảm sút, họ sẽ lập tức thay đổi chính sách hay nhân sự để lấy lại lòng tin của dân. Như ở nước Nga vừa qua, sau những cuộc biểu tình phản đối Đảng Nước Nga thống nhất về tham nhũng và bầu cử gian lận, thấy khả năng thắng cử ở ngay vòng 1 của ông Pu-tin mong manh, thậm chí có thể thất cử, lập tức Đảng Nước Nga thống nhất và ông Pu-tin đã thực hiện ngay một chương trình cải cách chính trị và kinh tế để tranh thủ lòng dân, nhờ đó chỉ số tín nhiệm đang tăng dần lên. Cải cách là biểu hiện tính năng động chính trị của một chế độ dân chủ đa đảng.

Ở nước ta, từ cuộc đổi mới lần I năm 1986 đến nay đã 26 năm, đã hơn một phần tư thế kỷ. Cuộc sống đang đòi hỏi Đảng lãnh đạo phải dũng cảm và cấp bách thực hiện ngay cuộc đổi mới II, để giải quyết bài toán của Hamlet “to be or not to be”? Lịch sử sẽ ghi công cho thế hệ lãnh đạo hiện nay đã biết tựa vào lòng dân, sức dân để giành chiến thắng trong cuộc chiến “tồn tại hay không tồn tại” này.

Cải cách chính trị trước hết cần được khởi đầu bằng sửa đổi Hiến pháp, điều mà Quốc hội hiện đang bắt đầu thảo luận. Nếu chưa sửa được căn bản, thì hãy trở về với tinh thần, nội dung của Hiến pháp 1946 do Cụ Hồ là Trưởng ban soạn thảo cùng với các trí thức tân học có am hiểu nhiều nhất về luật học vào thời điểm ấy. Đó là bản Hiến pháp được coi là dân chủ và tiến bộ nhất ở Đông Nam Á lúc bấy giờ, vì nó kết tinh được những giá trị tư tưởng về một nhà nước dân chủ – pháp quyền:

– Hiến pháp 1946 được Quốc hội lập hiến thông qua. Nếu không có chiến tranh thì nó sẽ được đem ra trưng cầu dân ý, sau đó Quốc hội lập hiến sẽ giải tán để toàn dân bầu ra Nghị viện Nhân dân (tức Quốc hội) với nhiệm kỳ 3 năm. Nghị viện sẽ không được tự quyền sửa đổi Hiến pháp, mọi bổ sung, sửa đổi sau này (nếu có) phải được đưa ra toàn dân phúc quyết.

– Hiến pháp 1946 khẳng định quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, như đã viết rõ trong điều 1: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giầu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Điều 32 của Hiến pháp 1946 còn quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phán quyết”. Thực chất đó là chế độ trưng cầu dân ý, một hình thức dân chủ trực tiếp được đề ra khá sớm ở nước ta.

– Hiến pháp 1946 tuy chưa đề ra nguyên tắc “tam quyền phân lập” nhưng cũng đã đề cập đến các cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan cơ quan nhà nước:

điều 36 nói về “quyền kiểm soát và phê bình Chính phủ của Ban Thường vụ Nghị viện; điều 40 nói về quyền của “nghị viên không bị truy tố vì lời nói hay biểu quyết trong Nghị viện; điều 54 quy định “Thủ tướng có quyền nêu vấn đề tín nhiệm để Nghị viện biểu quyết, v.v..

– Về vai trò xét xử độc lập của toà án cũng được Hiến pháp 1946 bảo đảm theo hai cách: một là các tòa án được thiết lập không theo cấp hành chính (điều 43); và hai là khi xét xử, các thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp (điều 69).

Các bản Hiến pháp sửa đổi sau này đã có sự thay đổi rất lớn khi chuyển quyền lập hiến từ nhân dân sang Quốc hội. Hiến pháp 1959, hiến pháp 1980 và hiến pháp 1992 đều quy định: “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, …là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp, có quyền làm hiến pháp và sửa đổi hiến pháp”, nghĩa là nhân dân trao hết quyền lực của mình cho Quốc hội thông qua bầu cử. Bầu xong là dân hết quyền, vì không bản hiến pháp nào sau này đề cập đến quyền phúc quyết của nhân dân đối với hiến pháp sửa đổi cùng những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia; trong khi cơ quan hành pháp lại có quyền ban hành các văn bản dưới luật, thực chất là để hạn chế quyền của dân. Tuy các bản hiến pháp sửa đổi vẫn viết rằng “mọi quyền lực thuộc về nhân dân”, nhưng lại cũng viết thêm rằng: nhân dân chỉ có thể sử dụng quyền lực ấy thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện của mình, trên thực tế cũng là không có quyền gì.

Mục tiêu của việc sửa đổi Hiến pháp theo tư tưỏng Hồ Chí Minh là để nước ta có một Hiến pháp dân chủ, để nhân dân ta được hưởng các quyền tự do, dân chủ. Trên cơ sở bản Hiến pháp này, chúng ta sẽ xây dựng nên một hệ thống pháp luật có khả năng hạn chế tối đa sự lạm quyền của cán bộ, công chức nhà nước; để xây dựng thành công một “nhà nước nhỏ” (gọn nhẹ, nhưng hiệu quả, hiệu lực) trong “một xã hội lớn” (xã hội dân sự, tự quản rộng rãi) – một nhà nước phục vụ chứ không phải nhà nước cai trị, một nhà nước chỉ được làm những gì luật pháp cho phép, còn nhân dân có quyền làm tất cả những gì mà luật pháp không cấm

Ngoài ra, hiến pháp sửa đổi cũng phải luật hóa sự lãnh đạo của Đảng, phân định rõ ràng hơn chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng cầm quyền của Nhà nước, để không chồng chéo lên nhau, tránh dẫn đến “đảng hóa” nhà nước.

Đây là cả một chương trình lớn, phải vừa nghiên cứu, vừa làm từng bước. Tuy nhiên, định hướng cho nó đã có sẵn trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có điều là Đảng có quyết tâm làm, quyết tâm trở về với nền tảng tư tưởng của mình hay không?

Viết tới đây, tôi bỗng nhớ tới lời của Phật hoàng Trần Nhân Tông:

Gia trung hữu bảo, hưu tầm mịch,

Đối cảnh vô tâm, mạc vấn Thiền!

(nghĩa là: của báu đã có sẵn trong nhà, không phải đi tìm ở đâu nữa, nếu đứng trước cảnh -nhân dân điêu đứng – mà không động tâm, thì khỏi nói đến chuyện tu Thiền làm gì)./.

 


[1] Hồ Chí Minh:Toàn tập, t.1 xb lần 2 1995, tr.466-467.

[2] Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, t.7, tr. 127.

[3] Diễn văn khai mạc Hội nghi văn hóa toàn quốc lần thứ nhât, báo Cứu quốc, số ra ngày 25-11-1946.

[4] HCM TT, xb lần 2, t.5, tr.575.

[5] HCM TT, sđ d, t. 4, tr. 148.

[6] HCM TT, sđ d, t. 5, tr.641.

[7] Theo bài: Nhà nước có dám bỏ kinh doanh? (Nguồn: tuanvietnam.net, 29-10-2011)

[8] Phát biểu tại phiên họp HĐCP ngày 1-1-1953; biên bản lưu tại Văn phòng HĐCP.

[9] HCM TT, sđd, t. 9, tr. 267.

[10] HCM TT, sđ d, t. 5, tr. 528.

[11] HCM TT, sđ d, t..6, tr. 66.

Cụ Hồ, con người và phong cách

 

Ngô Trần Đức

 

          Sinh thời, trong một lần “tự bạch”, khi trả lời câu hỏi của con gái về  “câu cách ngôn mà cha thích nhất?”, Marx đã chọn câu của Térence – nhà thơ La mã cổ đại: Không có gì thuộc về con người lại xa lạ đối với tôi”.[1] Cũng có thể nói như vậy về Cụ Hồ. Cụ vĩ đại, siêu việt, hơn thường, nhưng Cụ không phải là ông thánh, một vì sao chỉ lấp lánh ở chân trời xa! Cụ là một con người trần thế với tất cả khát vọng về hạnh phúc và niềm vui được sống, được làm người trên thế gian này. Là một con người nhân hậu, giản dị, Cụ gần gũi, thân thiết với tất cả mọi người, không có gì thuộc về con người lại không vang vọng sâu xa trong tâm hồn của Cụ.

          Người Việt chúng ta không có truyền thống “tự bạch” như người phương Tây ở thế kỷ trước, để qua đó có thể bộc bạch công khai tâm hồn mình – những điều yêu ghét, mong mỏi, theo đuổi trong cuộc đời – như Marx trả lời con gái. Nhưng cũng có  lần, một phóng viên của tờ Frères D’Armes (Bạn chiến đấu) đã hỏi Cụ Hồ theo kiểu này:

   -Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất? – Điều ác.

   –Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất?  -Điều thiện.

   –Chủ tịch cầu mong gì nhất? -Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên hoàn cầu.

  –Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ gì nhất? -Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì.[2]     

          Số câu hỏi ít, nội dung trả lời ngắn, tuy vậy cũng đã cho ta thấy được điều cốt yếu nhất trong con người Cụ: theo đuổi những giá trị phổ quát, có ý nghĩa toàn nhân loại: yêu điều thiện, ghét điều ác, yêu nước mình đồng thời tôn trọng độc lập của tất cả các nước, đó là một người chân chính, vì vậy không có gì phải sợ và nhất thiết không được sợ gì! Từ điểm xuất phát này, chúng ta có thể từng bước khám phá để hiểu được con người và phong cách Hồ Chí Minh.

 

Một tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình.

          Xem xét tính cách, phẩm chất của một con người cũng như của một vĩ nhân, người ta thường bắt đầu từ xem xét đặc điểm tư duy của họ, xuất phát điểm của tư duy khác nhau sẽ dẫn đến những kết quả khác nhau. Trong đời sống, do địa vị xã hội, lợi ích giai cấp và xu hướng cá nhân, mỗi người thường theo đuổi những giá trị khác nhau. Cái mà anh cho là tốt đẹp, là lý tưởng chưa hẳn đã là tốt đẹp và lý tưởng đối với tôi. Tuy nhiên, bên cạnh cái riêng, cái giai cấp, vẫn tồn tại cái chung, cái nhân loại mà ở thời nào, dân tộc nào cũng đều thừa nhận. Cụ Hồ từng viết: “Tuy phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau: Ấy là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”[3]. Như vậy, lành – dữ, thiện – ác, chính – tà, tự do – độc lập, nhân ái – hòa bình, dân chủ – bình đẳng,…là những phạm trù chung, có giá trị toàn nhân loại, không ai có thể phủ nhận được.

Đặc điểm nổi bật của tư duy Hồ Chí Minh là Cụ luôn luôn xuất phát từ cái chung, cái nhân loại, từ những chân lý phổ biến, “những lẽ phải không ai chối cãi được”. Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, Cụ thường không mấy đề cập đến địa vị giai cấp, thành phần xuất thân,…của người dân, mà chỉ đưa ra những chuẩn mực chung nhất, như là yêu nước – bán nước, thiện – ác, chính – tà,…Cụ viết: “Trên quả đất có hàng muôn triệu người. Song số người ấy có thể chia làm hai hạng: người thiện và người ác. Trong xã hội, tuy có trăm công, nghìn việc, song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ: việc chính và việc tà. Làm việc chính là người thiện. Làm việc là người ác…Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”[4].

Để đàm phán, thuyết phục đối phương đi tới đồng thuận, Cụ Hồ luôn lập luận trên nguyên tắc về tính đồng nhất của nguyên lý. Cụ viết: “Quyền độc lập, tự do, ở nước nào cũng vậy, đều do xương máu của những nghĩa sĩ và đoàn kết của toàn quốc dân mà xây dựng nên. Vậy nên, những người chân chính ham chuộng độc lập, tự do của nước mình thì phải kính trọng độc lập tự do của các dân tộc khác”. Cụ nói với Thủ tướng Pháp G. Bidault (2-7-1946): “Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần: triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân. Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy, Hội nghị sắp tới sẽ đi đến những kết quả tốt đẹp[5]. “Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do… Chúng tôi cũng phải được yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi cũng phải được phép yêu đồng bào chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng, cũng phải là lý tưởng của chúng tôi[6].

Những chân lý này không có biên giới, nó là lương tri của loài người, không bị chi phối bởi một chủ thuyết nào cả. Việt Nam chiến đấu là để bảo vệ và góp phần thức tỉnh lương tri ấy.

Tháng 5-1947, Paul Mus, đại diện của E. Bolaert, lên Thái Nguyên gặp Cụ Hồ, đưa ra 3 điều kiện để ngưng chiến: 1.đòi ta phải nộp hết vũ khí cho họ ; 2. đòi quyền cho họ được tự do đi lại trên khắp nước Việt Nam; 3. đòi trao trả cho họ những người lính Pháp phản chiến đã gia nhập hàng ngũ của chúng ta. Thực chất, đó là một tối hậu thư đòi chúng ta phải đầu hàng! Cụ Hồ hỏi lại P.Mus: “Các bạn là những người đã chiến đấu oanh liệt để bảo vệ Tổ quốc, các bạn hãy đứng vào địa vị chúng tôi, các bạn có thể nào chịu nhận những điều kiện như thế không?”[7] Paul Mus phải thừa nhận rằng: nếu ở vào địa vị mình, ông cũng không thể chấp nhận.

          Một đặc điểm thứ hai của tư duy Hồ Chí Minh là Cụ rất dị ứng với mọi biểu hiện của lối suy nghĩ cạn hẹp, phiến diện, một chiều. Có một thời, thế hệ chúng tôi không tránh khỏi mang những nhược điểm của lối tư duy ấy: cách mạng là đoạn tuyệt với mọi cái cũ, chủ nghĩa xã hội hơn hẳn chủ nghĩa tư bản về mọi mặt, con người mới hơn hẳn con người cũ, v.v… Cách suy nghĩ đó một thời đã đi vào thơ ca, tiểu thuyết, đến mức nhiều người thành thật tin là như vậy:

                                          Thuở Anh chưa ra đời,

                                          Trái đất còn nức nở,

                                         Nhân loại chửa thành người,

                                        Đêm ngàn năm man rợ. 
                                       (Bài ca Tháng Mười)

           Khi ấy đâu có ai dám thắc mắc: chẳng nhẽ cha ông ta với mấy nghìn năm văn hiến, cũng đều là man rợ cả sao? Sau này, khi trưởng thành hơn, một nhà thơ khác đã “phản tỉnh” về hiện tượng tư duy “ngây thơ, ngờ nghệch” của một thời, khi cứ chân thành nghĩ rằng:            

                             Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ,

                            Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ? [8]

          Tất nhiên, lối suy nghĩ “ấu trĩ tả khuynh” này hoàn toàn xa lạ với phong cách tư duy của Cụ Hồ. Theo Cụ, lịch sử là một dòng chảy không ngừng, cách mạng là đột biến trong liên tục, cái mới sinh ra từ cái cũ, có khi lật ngược cái cũ, nhưng không vứt bỏ những yếu tố đúng đắn, hợp lý của cái cũ; chủ nghĩa xã hội không phủ định sạch trơn mà kế thừa và phát huy tất cả những giá trị văn hóa-văn minh của nhân loại từ các đời trước để lại. Không phải cứ cách mạng thành công rồi thì con người bỗng tự nhiên trở nên “thiên thần” và người đảng viên cộng sản được coi là những người “có tính cách đặc biệt riêng, được cấu tạo bằng một chất liệu đặc biệt riêng”- như một lãnh tụ của một Đảng cộng sản trước đây đã từng nói.[9]

          Cụ Hồ chống lại thói “kiêu ngạo cộng sản” ấy. Cụ nói: “Đảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta là con của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, chúng ta chỉ biết trung thành với giai cấp vô sản, quyết tâm đấu tranh cho nhân dân. Thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường nên Đảng ta rất vĩ đại. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”[10].

Tất nhiên, người cộng sản Việt Nam có quyền tự hào chính đáng vì họ đã đi tiên phong trong cuộc đấu tranh giải phóng lâu dài và gian khổ của dân tộc, bất chấp tù lao, máy chém, chiến trường. Nhưng người cộng sản cũng là con người, nên có ưu, có khuyết, có tốt, có xấu. Cụ nói: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra…Cũng như những người hàng ngày lội bùn mà trên mình họ có hơi bùn, có vết bùn…Cần phải tắm rửa lâu mới sạch”.[11]… “Quần chúng chỉ yêu mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước…Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”[12]. Như vậy, theo Cụ Hồ, “tính cách đặc biệt riêng” nếu có của người cộng sản, chính là phải có ý thức tự tu dưỡng, tự rèn luyện và nêu gương suốt đời.

Chính trị là lĩnh vực đầy thiên kiến, nên dễ phiến diện, cực đoan. Điều này hiếm thấy ở Cụ Hồ. Một nhà báo Mỹ của tờ Newsweek phỏng vấn Hồ Chí Minh về hệ thống một đảng có phải là tốt hay không, Cụ trả lời: “Đó là điều tốt, nếu đảng tốt. Nếu không, đó là không tốt”.[13]Cả trong cách nhìn về ông vua sáng lập triều Nguyễn cũng vậy, Cụ rất khách quan. Hãy nghe Cụ nói về vua Gia Long trong bài “ Lời than vãn của bà Trưng Trắc”: Với một tấm can trường vô song và một đức độ băng tuyết, giống như vàng mười óng ánh muôn tia đã qua ngàn lần thử lửa, ông tổ mi là Gia Long, tôn quý và tài ba bội phần, đã để lại, sau những cuộc thăng trầm và đau khổ không sao kể xiết, một đất nước giàu có, một nhân dân độc lập, một dân tộc được những kẻ mạnh kính nể, những kẻ yếu yêu mến, một tương lai đầy sức sống và đầy triển vọng”.[14]

          Theo Cụ Hồ, công việc chúng ta đang làm hôm nay – giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới, bảo vệ từng tấc núi, tấc biển của Tổ quốc, không phải là cái gì đặc biệt, nó chỉ là sự nối tiếp sự nghiệp cha ông đã mở ra từ mấy nghìn năm trước. Cụ nói: Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. “Cuộc chiến đấu hiện thời của chúng ta chỉ là kết tinh của cuộc trường kỳ đề kháng mà ông cha, anh em chúng ta đã tiếp tục trong tám mươi năm Pháp thuộc.”[15] Bản Tuyên ngôn Độc lập, theo Cụ, không phải chỉ là sự kế thừa các bản “Yêu sách” và “Chương trình Việt Minh” do Cụ Hồ đã viết vào năm 1919 và 1941 mà “còn là kết quả của những bản tuyên ngôn khác của tiền bối như các cụ Thủ khoa Huân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu và… của bao nhiêu sách báo, truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn tám mươi năm nay”. Nó “là hoa, là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh,…là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam[16], kể cả những ông vua yêu nước. Rõ ràng là không một chút biệt phái, không coi đó là công lao của riêng một bộ phận nào.

Tháng 12-1923, cuối buổi nói chuyện với O. Mandelshtam ở Maxkva, Nguyễn Ái Quốc đã không quên nhắc đến ông hoàng Duy Tân: Ở bên nước “chúng tôi còn có một cuộc “nổi dậy” nữa, do vua An Nam trẻ tuổi Duy Tân phát động, chống lại việc đưa những người nông dân của chúng tôi đến chiến trường của Pháp. Vua Duy Tân đã chạy, bây giờ ông ấy đang sống lưu vong. Hãy kể về ông ấy  nữa”.[17]

 Trong tư duy cuả Cụ Hồ luôn có sự kết hợp giưã dân và nước, giai cấp và dân tộc một cách hàì hoà, không chút thiên lệch. Trong một dự thảo kế hoạch phát động thi đua yêu nước trong kháng chiến chống Pháp của Ban Thi đua TƯ gửi lên Cụ, người viết có đề ra một khâủ hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Cụ gạch đi và bảo: không được chỉ nhìn thấy một phía, “ích nước nhưng còn phải lợi dân nữa”, rôì Cụ thay bằng: mục đích thi đua là “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Sau này, thi đua đã bị biến dạng vì người ta chỉ cốt sao có nhiều thành tích để báo cáo lên trên mà quên mất lợi ích thiết thân cuả ngườ dân.

          Vào cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, khi cuộc cách mạng ruộng đất bắt đầu được phát động, vấn đề thành phần xuất thân, quan hệ gia đình được đặt ra. Nhiều nhân sĩ, trí thức và không ít cán bộ, đảng viên có bố mẹ, họ hàng là địa chủ (hoặc bị quy là địa chủ) bắt đầu lo lắng, nhiều người hoang mang,…Hiểu được tâm trạng này, tại nhiều Hội nghị, Cụ Hồ đã đả thông hoặc viết bài đăng báo: “Trước khi ra đời, người ta không thể lựa chọn sinh ra ở giai cấp nào, gia đình nào. Thành phần giai cấp có ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng con người, nhưng không phải là ảnh hưởng quyết định, không khắc phục được…Điều quan trọng vẫn là do bản thân mỗi người cán bộ, đảng viên,…nếu có chí khí kiên cường, tư tưởng vững chắc, lập trường dứt khoát, quyết tâm phụng sự cách mạng, phục vụ nhân dân, thật thà thi hành chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, thì nhất định đánh tan được ảnh hưởng ấy và vẫn được Đảng, Chính phủ và nhân dân tin cậy”.[18]

          Rồi Cụ đưa ra dẫn chứng: nước ta cũng như các nước khác, vẫn có những người là đại địa chủ mà làm cách mạng, hồi bí mật có bao nhiêu tiền đem giúp cho cách mạng hết, cam chịu tù đày. Trước kia, K. Marx là con nhà quý phái, F. Engels là con nhà tư bản, nhưng hai ông đã hiến dâng đời mình cho cách mạng, trở thành những người sáng lập chủ nghĩa cộng sản. Hoặc như Bành Bái, người đầu tiên tổ chức và lãnh đạo nông dân tỉnh Quảng Đông kịch liệt chống lại giai cấp địa chủ, vốn xuất thân là con nhà đại địa chủ, đại phong kiến. Họ như những đóa hoa sen, gốc rễ từ bùn đen, vươn lên mặt nước trong trẻo, hấp thụ ánh sáng mặt trời, lại trở nên tươi đẹp, ngát hương. Con người ta cũng như vậy, thành phần giai cấp xuất thân không thể ảnh hưởng xấu đến những người thật thà cách mạng.

          Tiếc rằng những ý kiến chân tình, sáng suốt ấy đã không được cấp dưới quán triệt trong thực thi chính sách, để cho “chủ nghĩa thành phần” khuynh loát, gây ra bao sai lầm đáng tiếc. Cách thuyết phục của Marx-Lénine là thuyết phục bằng lý luận, theo con đường của văn hóa phương Tây đã hình thành ngay từ thời Aristote. Hồ Chí Minh đi theo con đường của các triết gia phương Đông, kết hợp lý trí với tình cảm, tạo được sự thông cảm, giao cảm với đối tượng. Marx nói: giai cấp vô sản đứng lên làm cách mạng, nếu mất, chỉ mất xiềng xích, còn được, được cả thế giới! Còn Hồ Chí Minh lại hiểu: các nhân sĩ, trí thức, viên chức cao cấp của chế độ cũ,…đi với cách mạng thì họ mất rất nhiều: mất địa vị, danh vọng, tài sản, sự an nhàn, hưởng thụ, có khi cũng phải hy sinh cả tính mạng (như các vị Nguyễn Văn Tố, Đặng Văn Ngữ, Phạm Ngọc Thạch và nhiều người khác). Cách mạng là sự nghiệp lâu dài, gian khổ, nếu đối xử kém chân tình, chu đáo, với mặc cảm sẵn có, họ rất dễ xao lòng, mà cách mạng lại đang rất cần đến uy tín, danh vọng và tài năng của họ. Ta mới hiểu vì sao Cụ Hồ lại có sự quan tâm đối với trí thức cũ một cách ân cần, đầy ưu ái đến như vậy.

          Một đặc điểm nữa rất dễ thấy ở Hồ Chí Minh là phong cách hài hoà, nhuần nhuyễn giữa văn hoá Đông – Tây: vừa thấu hiểu Nho- Phật- Lão phương Đông, vừa am hiểu sâu sắc văn hoá Âu Tây, nhưng luôn luôn giữ vững, yêu quý và tự hào về bản sắc văn hoá Việt Nam. Cụ Hoàng Đạo Thuý đã khái quát được phong cách đặc sắc ấy trong một đoạn hồi ký sau đây:

          “Mấy nhà nho cũ thấy Cụ ngồi cạnh cái hòm nhỏ như cái tráp, hí hoáy viết, bảo rằng Cụ là một ông đồ Nghệ. Đeo kính vào nữa thì rõ ràng là một ông đốc học. Những người đi nước ngoài về, hay quen đọc sách Tây, bảo Cụ cực kỳ văn minh, như người châu Âu lịch sự ấy. Nghệ sĩ nghe Cụ nói về một tác phẩm, thấy ngay rằng Cụ là một đồng sự của mình. Cụ tiếp cụ Võ Liêm Sơn, tặng quạt, làm thơ tiễn, thì Cụ là một nhà đạo đức văn chương bậc thầy. Léo Figuère nghe Cụ nói chuyện, cảm như là đến nhà một ông bác ở bên bờ sông Seine. Tay nâng chén rượu chúc mừng, rất trang trọng, mà vung cây đũa đánh nhịp cũng vô cùng là tự nhiên”.[19]Tuỳ theo mỗi đối tượng tiếp xúc mà Cụ Hồ có cách ứng xử thích hợp.

          Cụ Hoàng kể: Năm 1951, cụ được tham dự một lớp học chính trị. Chiều hôm đó, cụ đi sớm, qua một cánh đồng để được hưởng một chút nắng, tay xách theo một cái đèn để tối còn soi đường về. Bỗng nghe phía sau có tiếng hỏi: “Ông cụ đi tìm ai thế?”. Đúng là Cụ Chủ tịch rồi! Không ngờ Cụ đến thăm lớp học, mà cũng đi đường này. Tôi nghĩ ngay rằng: thấy tôi giữa ban ngày ban mặt mà lại xách một cái đèn nên Cụ Chủ tịch mới mượn một điển tích trong triết học cổ đại Hy Lạp để hỏi đùa tôi. Xưa nhà triết học Diogène thường giữa ban ngày mà đốt đèn đi ra đường, thấy lạ, có người hỏi, ông bảo “để đi tìm một con người”! Tôi bèn thưa: “Thưa Cụ, may hơn Diogène, người ấy tôi đã tìm thấy rồi!”.

Đúng là một cuộc đối thoại hóm hỉnh mà thâm thuý giữa hai trí thức Tây học!

Người ta cũng thấy trong Cụ Hồ có sự hài hoà giữa một ông Khổng và một ông Lão, một nhập thế, một xuất thế mà vẫn chung sống được với nhau. Xuất  thân trong một gia đình khoa bảng, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành hăm hở vào đời với lý tưởng “phò đời. giúp nước”của Nho giáo và không  phải nhà nho nào đi theo cách mạng cũng thực hiện được lý  tưởng “tu thân, trị quốc” như Cụ. Nhưng không như mọi  nho sĩ khác: học hành, đi thi để thực hiện mong ước thường tình “nhất tử thụ quan, toàn gia tề thiên lộc” (một người làm quan, cả họ được nhờ). Còn Cụ Hồ thì ngay sau Cách mạng thành công, trả lời các nhà báo nước ngoài năm 1946, Cụ đã nói: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào…Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui…Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm  bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì vào  vòng danh lợi”.[20]

Cũng theo hồi ký của cụ Hoàng, sau bữa cơm chiều ở chiến khu Tân Trào, các nhân viên CP thường ra ngồi nghỉ dọc bên Ngòi Thia, riêng Cụ Hoàng tìm đến một chỗ có nước chảy như thác. Một lát sau, Cụ Hồ cũng tìm đến ngồi bên, chỉ dòng Thia, nói với cụ Hoàng: “Tôi yêu chỗ này lắm!”, rồi hỏi:

– Cụ hay đi khắp đất nước, thế có thấy chỗ nào phong cảnh đẹp mà đất tốt không?

– Cụ định làm ruộng ư? Ai cho Cụ nghỉ đấy!

– Đến một lúc nào rồi cũng phải nghỉ chứ?

Tưởng cũng chỉ là một ước ao thôi, ai ngờ sau Hiệp định Genève, trên đường từ Việt Bắc về xuôi, nghỉ lại nơi một đồi thông xanh mướt dưới chân núi Ba Vì, giáp với bờ sông Đà cát trắng, Cụ đã tự tìm được cho mình một vùng “có non xanh, nước biếc” để sau này làm chỗ nghỉ dưỡng, “câu cá trồng hoa” và thực lòng cũng muốn được gửi hồn cốt tại vùng sông núi thanh tú vốn mang màu sắc huyền thoại này. Địa điểm đó nay đã trở thành một di tích lịch sử, một địa chỉ văn hoá, đang thu hút nhiều du khách đến thăm. Ngắm phong cảnh hữu tình, ai cũng thầm khen Cụ Hồ quả là có con mắt và tâm hồn của một bậc thi hoạ phương Đông.

          Vua Tự Đức có một nhận xét: “Lão giáo được một cái đúng là tôn tự nhiên”. Cụ Hồ chịu ảnh hưởng của triết lý “theo tự nhiên” này của Lão Tử: luôn chan hoà với thiên nhiên, không thích sống trong cảnh “gác tía, lầu son”, thích ở nhà sàn lộng gió bốn phương, phục sức giản dị, ăn uống đạm bạc. Những người được sống bên Cụ đều cho biết: chưa bao giờ thấy Cụ phàn nàn về thời tiết, mưa không bực, nắng không than, bình thản trước mọi diễn biến của đất trời, dung mạo lúc nào cũng vui vẻ, trán không nhăn, mày không nhíu, mát mẻ như mùa thu, ấm áp như mùa xuân, cứ thuận theo tự nhiên mà sống.

          Trong thơ của Cụ có trăng có hoa, có mai vàng, tuyết trắng, chim rừng về tổ, mây lượn tầng không, có hoàng hôn, nắng sớm,…Tất cả đều được nhân cách hoá, giao hoà với con người: Tiếng suối trong như tiếng hát xa, Trăng vào cửa sổ đòi thơ, Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm, Trần mà như thế khác gì tiên,…Nhưng vẫn có điều khác: là tiên mà không thoát tục, vẫn luôn gắn với dân, với nước, với cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân; vẫn theo đuổi lý tưởng nhân văn cao cả, theo triết lý sống trong sạch, cao thượng, không màng vinh hoa phú quý, coi tiền tài, quyền lực, danh vị như áng phù vân.

          Khi bước vào tuổi 70, sức khoẻ kém đi, tuy vẫn còn rất minh mẫn và đang ở đỉnh cao của quyền lực, Cụ đã chủ động từng bước chuyển giao nhiệm vụ cho lớp kế cận đã được Cụ đào tạo và chuẩn bị chu đáo. Tuy danh nghĩa vẫn là Chủ tịch đảng, Chủ tịch nước nhưng không trực tiếp điều hành nữa mà thường để Bộ Chính trị bàn bạc tập thể và quyết định, Cụ chỉ góp ý, nhắc nhở và điều chỉnh khi cần thiết.

          Không tham quyền cố vị, biết chuyển giao quyền lực đúng lúc, không bao biện, làm thay, nhưng Cụ không cho phép mình nghỉ ngơi, vẫn hoạt động không mệt mỏi cho dân, cho nước, nhưng đã siêu thoát khỏi vòng danh lợi. Giữ nguyên nếp sống giản dị, vẫn áo nâu, túi vải, dép lốp, Cụ dành thời gian đi xuống với dân, biểu dương người tốt, việc tốt, bàn chuyện trồng cây gây rừng, săn sóc bữa ăn của công nhân, xuống ruộng tát nước với bà con nông dân, đón tiếp các chiến sĩ từ mặt trận miền Nam ra thăm, tặng lụa cho cụ già, vui tết Trung thu với các cháu nhỏ,…Phơ phơ tóc bạc, vóc hạc mình gầy, Cụ hiện ra trong tâm trí của người dân không phải như một vị Chủ tịch nước mà như một “ông tiên” trong truyện cổ tích.

Từ thực tiễn nghiên cứu và khám phá về Hồ Chí Minh, nhà sử học Pháp G. Boudarel đã sớm nhận ra ảnh hưởng của Lão Tử trong nhân cách, đạo đức Cụ Hồ, nên đã mượn một câu trong Đạo đức kinh làm kết luận cho bài viết về chân dung nhà chính trị châu Á này: “Người tướng giỏi thì không dùng vũ lực, người chiến đấu giỏi thì không nổi giận, người khéo thắng địch thì không cần giao tranh mà vẫn thắng, người khéo dùng người thì đặt mình dưới người ta. Đó là cái đức của sự không tranh”.[21]

 

Một tấm lòng nhân ái, khoan dung, đại lượng

          Cụ Hồ nói: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình, bác ái” và chính Cụ là tinh hoa của tinh thần khoan dung, nhân ái Việt Nam. Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh biểu hiện ở lòng yêu thương sâu sắc đối với con người, ở cái nhin rộng lượng đối với những giá trị khác biệt với mình, ở sự tôn trọng niềm tin của người khác, không áp đặt quan điểm của mình lên người khác, xa lạ với mọi thái độ kỳ thị, cuồng tín, giáo điều. Khoan dung, nhân ái Hồ Chí Minh được xây dựng trên nguyên tắc công lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng, nên cũng không chấp nhận thỏa hiệp vô nguyên tắc với tội ác và bất công, với tất cả những gì chà đạp lên “quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” của mỗi con người và của các dân tộc.

Đối với thực dân xâm lược, khi họ đã dùng bạo lực của kẻ mạnh để xâm lược, đàn áp kẻ yếu thì không có cách nào khác là phải dùng bạo lực cách mạng của quần chúng để giành lại độc lập và bảo vệ đất nước. Làm sao có thể “xin giặc rủ lòng thương” mà có được độc lập? Đó là chân lý được đúc kết từ mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của cha ông truyền lại, từ các cuộc khởi nghĩa của Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học,… chứ đâu phải vay mượn từ học thuyết ngoại lai nào?

Do thiết tha với hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng ta càng nhân nhượng, kẻ thù càng lấn tới, buộc ta phải cầm súng đứng lên tự vệ theo tinh thần “thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”. Tuy nhiên, trong chiến đấu, Cụ Hồ luôn giáo dục nhân dân ta biết phân biệt bọn thực dân xâm lược Pháp với nhân dân Pháp, giữa bọn thực dân phản động Pháp với những người còn có lương tri trong hàng ngũ của họ, nhằm chĩa mũi nhọn vào bọn đầu sỏ hiếu chiến nhất. Cụ đã làm hết sức mình để tránh không gây ra mối hận thù đối với dân tộc Pháp – một dân tộc mà Cụ luôn yêu mến và kính trọng.

          Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, việc dụng binh cũng là việc nhân nghĩa, nên Cụ đã tìm mọi cách để hạn chế đến mức thấp nhất những thương vong trên chiến trường, cho cả quân ta và quân địch. Cụ nói: “Trước lòng bác ái, thì máu Pháp hay máu Việt đều là máu, người Pháp hay người Việt đều là người”. Để chiến thắng, ta phải từng bước tiêu hao sinh lực địch, nhưng mục tiêu của ta là đánh bại, đánh sập ý chí xâm lược của họ, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” chứ không coi việc đánh tiêu diệt hoàn toàn quân địch trên chiến trường là biện pháp duy nhất dể kết thúc chiến tranh. Ta hiểu vì sao Cụ không tán thành cách diễn đạt của một nhà thơ khi gọi trận đánh chết nhiều người là “một trận đánh đẹp”. Cụ từng nói: “Đánh mà thắng là giỏi, nhưng không đánh mà thắng lại càng giỏi hơn”. Theo tư tưởng binh pháp cha ông, Cụ chủ trương “đánh vào lòng người là hơn hết, đánh vào thành trì là thứ hai”, vì vậy Cụ rất coi trọng binh vận và địch vận, coi “khéo ngụy vận cũng là một cách tiêu diệt sinh lực địch”.

          Ngay sau Cách mạng tháng Tám, lợi dụng tình hình còn rối ren, tù trưởng dân tộc Mèo Vương Chí Sình ở Hà Giang nổi lên chống ta, giết hại một số cán bộ và người dân. Quân dân ta chuẩn bị tấn công vào sào huyệt của “vua Mèo”. Được tin, Cụ Hồ chỉ thị phải ngừng ngay lại, sau đó đích thân gửi thư mời Vương Chí Sình về Hà Nội, tiếp đãi tử tế, rồi kết nghĩa anh em, giới thiệu họ Vương ứng cử vào Quốc Hội khóa I. Kết quả là dẹp yên được cuộc nổi loạn mà không mất một viên đạn, một giọt máu nào.

          Ngày 10-6-1947, được tin tướng Raoul Salan – người đã từng tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến sang thăm nước Pháp năm 1946 – vừa được cử làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, thay cho tướng J.Valluy, Cụ Hồ liền gửi cho R. Salan một bức thư, trong đó có đoạn viết:

          “Chúng ta từng là những người bạn tốt…Nhưng hoàn cảnh ngoài ý muốn đã biến chúng ta thành hai kẻ đối địch. Điều đó thật đáng tiếc!…Về phần tôi, bổn phận thiêng liêng của một người dân yêu nước buộc tôi phải chiến đấu vì Tổ quốc và đồng bào mình. Còn về phía Ngài, trách nhiệm quân nhân cũng buộc Ngài phải làm những điều mà trái tim Ngài không muốn…Vì chúng ta buộc phải chiến đấu, thì các ngài hãy tỏ ra là những chiến binh hào hiệp, những đối thủ quân tử, trong khi chờ đợi chúng ta lại trở thành bạn hữu của nhau…Vì tình yêu thương con người, lòng nhân đạo và nhân danh tình bạn của chúng ta, tôi yêu cầu Ngài nghiêm cấm binh lính Pháp sát hại dân lành, hãm hiếp phụ nữ, đốt phá làng mạc, phá hủy nhà thờ, đền miếu như họ vẫn làm từ trước tới nay.

          Tôi bảo đảm với Ngài rằng binh lính và thường dân Pháp ở chỗ chúng tôi được đối xử rất tử tế. Tôi hy vọng người của chúng tôi trong tay các ngài cũng được đối xử như vậy”[22].

          Có lẽ, trên thế giới, hiếm có một bức thư nào gửi cho tướng giặc trước trận đánh lại được viết bằng một ngôn luận hòa ái, lịch thiệp, cao thượng và chính trực đến như vậy. Từ bạn hữu, buộc phải thành địch thủ, thì hãy chiến đấu một cách hào hiệp và quân tử, để sau chiến đấu sẽ trở lại là những người bạn. Đó mới thực sự là cuộc chiến đấu của những hiệp sĩ chân chính, vì những mục tiêu cao cả chứ không vì hận thù dân tộc hay cá nhân.

          Về phần mình, Cụ Hồ đã luôn nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ ta cần nêu cao lý tưởng chính nghĩa, nhân đạo, hòa bình, phải có sự đối xử khoan hồng với tù binh và kiều dân Pháp, để “làm cho thế giới biết rằng ta là một dân tộc văn minh, văn minh hơn bọn đi giết người, cướp nước[23]. Một lần, đến thăm trại tù binh sau Chiến dịch Biên giới, thấy một đại úy quân y Pháp ở trần, đang run lên vì cái lạnh của núi rừng Việt Bắc, Cụ đã cới chiếc áo ngoài đang mặc, trao cho anh ta. Tinh thần nhân đạo của Cụ Hồ có sức cảm hóa sâu sắc, đã có không ít sĩ quan và binh lính Pháp phản chiến, bỏ ngũ hoặc chạy sang chiến đấu dưới ngọn cờ đại nghĩa của Hồ Chí Minh.

 Đối với nhân dân ta, Cụ Hồ khuyên phải đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi: “Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài…Trong mấy triệu người cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta…Ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc…Đối với những đồng bào lạc lối, lầm đường, ta phải dùng tình thân ái mà cảm hóa họ”[24].Để làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ của kẻ thù, Cụ Hồ đã  thu phục và cảm hóa được nhiều nhân sĩ, trí thức, quan lại cao cấp của chế độ cũ tham gia chính quyền mới, như cựu Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, Thượng thư Bùi Bằng Đoàn, Bộ trưởng Thanh niên Phan Anh, Đốc lý Hà Nội Trần Văn Lai,… và nhiều người khác. Được tin ông Trần Trọng Kim – nguyên Thủ tướng Chính phủ bù nhìn do Nhật lập nên ngày 17-4- 1945, vừa từ Huế ra Hà Nội, Cụ Hồ liền cử ông Hoàng Minh Giám đi tìm gặp, tiếc rằng khi tìm được đến nơi thì họ Trần đã cùng với gia đình vừa rời bỏ ra nước ngoài.

Tưởng cũng cần nhắc lại rằng các cuộc Cách mạng dân chủ tư sản Anh, Pháp, Nga nổ ra ở châu Âu các thế kỷ trước, vua và hoàng hậu cùng nhiều người có vai vế trong hoàng tộc đã không thoát khỏi số phận lên đoạn đầu đài! Riêng cuộc cách mạng dân chủ ở Việt Nam, cựu hoàng Bảo Đại lại được Cụ Hồ mời ra Hà Nội làm Cố vấn tối cao cho Chính phủ. Ngày 5-9-1945, vừa tiếp Bảo Đại đến chào buổi sáng, ngay chiều hôm đó, Cụ Hồ đã đến thăm ông Cố vấn tại tư dinh ở 51 đường Gambetta. Hai con người, một cụ già cách mạng gày gò, sương gió, khoác tay một ông hoàng còn trẻ, đày đặn, phương phi cùng đi dạo, nói chuyện trong sân, tạo nên một hình ảnh tương phản mà đoàn kết, hòa hợp dân tộc hiếm có trong cách mạng. Sau một thời gian ở Hà Nội, Bảo Đại viết thư về cho mẹ, khoe: “Cụ Hồ tốt lắm! Con ra đây được Cụ thương lắm! Cụ thương như con! Ả cứ yên tâm. Không phải lo chi cho con cả”[25].

Ngày 16-3-1946, Cố vấn Vĩnh Thụy tham gia phái đoàn thân thiện của Chính phủ Việt Nam thăm Trùng Khánh. Kết thúc chuyến đi, Bảo Đại tuyên bố: tôi ở lại đi du lịch, không về nước. Cụ Hồ đã biết trước ý định ấy của ông Cố vấn, nhưng vẫn tỏ ý lấy làm tiếc về sự lựa chọn của Bảo Đại. Từ cuối 1946 đến đầu 1948, Cụ Hồ đã có vài lần cải tổ Chính phủ, nhưng trong danh sách Chính phủ mới, các bộ trưởng là thành viên cũ của Việt quốc, Việt cách không bỏ chạy theo quân Tưởng, như Chu Bá Phượng, Bồ Xuân Luật, vẫn được Cụ Hồ giữ lại, kể cả ông Cố vấn Vĩnh Thụy, vói chú thích bên cạnh: “Đang ở nước ngoài vì việc riêng”! Không muốn nhịp cầu bị cắt, Cụ Hồ đã nhiều lần thuyết phục Hội đồng Chính phủ vẫn cứ gửi cho Bảo Đại một số tiền, như là phụ cấp cho ông Cố vấn đang đi công tác! Theo ông Phạm Khắc Hòe kể lại, ông Phạm Ngọc Thạch và ông đã từng được cử mang vàng và ngoại tệ sang cho Bảo Đại chi tiêu. Có lẽ do đối xử quá tốt của Cụ Hồ nên Bảo Đại đã ngập ngừng nhiều năm, đến cuối 1948 mới nhận lời Bolaert ra làm con bài cho Pháp.

Ba mươi lăm năm sau, khi đã thất thế, phải sống lưu vong ở nước ngoài, được hỏi: ông có ân hận gì không khi nhận lời ra làm cố vấn cho Chính phủ Cụ Hồ, Bảo Đại trả lời: “Không có ân hận gì cả về quyết định này, bởi lúc đó chẳng có ai, chẳng có lực lượng nào đủ sức làm cho nước Việt Nam độc lập, vinh hiển, ngoài lực lượng của Cụ Hồ”[26].

Cũng thời gian đó, vào cuối năm 1945, Ngô Đình Diệm bị quân dân ta bắt ở nam Trung bộ, giải ra Hà Nội. Biết việc này, với tư cách Chủ tịch Chính phủ, Cụ Hồ quyết định trả lại tự do cho ông ta. Ngày 15-1-1946, Cụ tiếp riêng Ngô Đình Diệm tại Bắc bộ phủ, thuyết phục ông ta đi với nhân dân, tham gia vào việc nước, nhưng ông Diệm từ chối, tuyên bố: sẽ vẫn tiếp tục chống Pháp, nhưng không thể đi với Việt Minh! Nhiều cán bộ giúp việc quanh Cụ  không đồng tình, cho ông Diệm là người thân Nhật, rất nguy hiểm. Cụ Hồ đáp: Nếu ông ta thân Nhật, thì Nhật đã tan tành rồi, còn chỗ nào mà thân nữa! Còn ông ta nói vẫn chống Pháp, nhưng không đi với Việt Minh, thì cứ thả ông ta ra để ông ấy chống Pháp theo kiểu của ông ấy!

Cuộc tiếp kiến đã để lại cho ông Diệm một ấn tượng sâu sắc. Có lẽ vì vậy mà con người chống cộng cực đoan này chưa một lần nào có lời lẽ thất lễ với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau này, trong một cuộc trò chuyện thân mật với anh Hai Nhạ tại Dinh Gia Long, ông Diệm vẫn nhớ lại hình ảnh mảnh dẻ, giản dị, phong sương của Cụ Hồ trong buổi tiếp: Cụ mặc quần soóc, chân đi dép cao su trắng, với điếu thuốc lá trên môi, nhưng lời nói và cử chỉ thì rất mực lịch thiệp. Ông Diệm có thốt ra với Vũ Ngọc Nhạ một câu: “Cụ Hồ là bậc đại nghĩa, còn qua là người tiểu khí. Nhưng nếu qua nhận lời cộng  tác với cụ Hồ thì qua biết ăn nói thế nào với dòng họ Ngô về cái chết của anh tôi và cháu tôi bởi tay Việt Minh”?[27] Cũng có thể tin đó là một lời nói thực lòng.

          Đối với các tôn giáo, Cụ Hồ thành thật tôn trọng đức tin của người có đạo, khẳng định lẽ sống cao đẹp, những giá trị đạo đức- nhân văn của các vị sáng lập, không hề bài bác, phủ định mà biết tìm ra cái chung giữa lý tưởng của các tôn giáo với mục tiêu giải phóng dân tộc, mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân mà chúng ta đang theo đuổi. Về Đức Phật, Cụ viết: “Đức Phật là đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn; muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải hy sinh tranh đấu diệt lũ ác ma”[28].

          Về Chúa Giêxu, Cụ viết: “Gần 20 thế kỷ trước, một vị thánh nhân đã ra đời. Cả đời Người chỉ lo cứu thế, độ dân, hy sinh cho tự do, bình đẳng”. Cuối bức thư chúc mừng lễ giáng sinh, Cụ hô: “Thượng đế và Tổ quốc muôn năm!”[29]. Mùa hè năm 1946, tại Paris, Cụ Hồ tiếp môt nhóm linh mục công giáo đến thăm, trong đó có linh mục Cao Văn Luận – một tín đồ công giáo xác tín . Sau này, ông  đã thuật lại trong hồi ký của mình lời của Cụ Hồ trong buổi gặp: “Chính phủ bên nước nhà đang theo đuổi mục tiêu tranh thủ độc lập, đem hạnh phúc lại cho toàn dân. Nhưng muốn đem hạnh phúc cho toàn dân, thì phải thực hiện xã hội chủ nghĩa. Giả sử mà chúa Giêxu sinh ra vào thời đại này, trước sự đau khổ của người đời như lúc này, mà Chúa muốn cứu vớt, thì chắc là cũng phải theo xã hội chủ nghĩa”[30].  

Cụ luôn nêu cao tinh thần khoan dung tôn giáo, phấn đấu hết mình cho đoàn kết Lương – Giáo trong đại đoàn kết dân tộc.Tại cuộc họp mặt các đại biểu tôn giáo, đảng phái tại Chùa Bà Đá Hà Nội, mừng Chính phủ Liên hiệp Lâm thời vừa thành lập, do Cố vấn Vĩnh Thụy chủ trì, Cụ Hồ nói: “Nước Phật ngày xưa có những bốn đảng phái, làm ly tán lòng dân và hại Tổ quốc. Nhưng nước Việt Nam ngày nay chỉ có một đảng phái là toàn dân quyết tâm giành độc lập. Tín đồ  Phật giáo tin ở Phật, tín đồ Gia tô giáo tin ở Đức Chúa Trời, cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng. Đó là những vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng. Nhưng đối với nhân dân, chúng ta đừng có làm gì trái ý dân. Dân muốn gì, chúng ta phải làm nấy”[31] .

          Nói về khoan dung tôn giáo của Hồ Chí Minh, chính J. Sainteny thừa nhận: “Về phần tôi, phải nói rằng chưa bao giờ tôi có cớ để thấy nơi chương trình của Cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dù rất nhỏ, của sự công kích, đa nghi, hoặc chế diễu bất kỳ một tôn giáo nào”[32].

 

Một phong cách ứng xử chân thành, khiêm tốn, lịch lãm.

          Trong cuộc đời oanh liệt và phong phú của mình, Cụ Hồ đã trải qua bao bước thăng trầm của hoàn cảnh, với bao tình huống éo le, phức tạp phải giải quyết; đã gặp gỡ, tiếp xúc với đủ hạng người sang hèn trong xã hội, từ đồng bào trong nước đến bạn bè quốc tế năm châu, từ những lãnh tụ hàng đầu của cách mạng thế giới đến những tên thực dân cáo già quỷ quyệt,…qua đó Cụ đã để lại cho chúng ta một tấm gương quý giá về văn hóa ứng xử.

          Vĩ nhân, thật vĩ nhân, bao giờ cũng rất mực giản dị, khiêm tốn, lịch lãm. Cuộc đời cách mạng phi thường cùng tấm gương đạo đức vô song đã đưa Cụ Hồ lên hàng những nguyên thủ quốc gia có uy tín và danh vọng lớn trên thế giới. Tuy nhiên, trong những cuộc tiếp xúc, người ta lại thấy Cụ luôn nhã nhặn, khiêm tốn, không bao giờ đặt mình cao hơn người khác nhưng lại quan tâm rất mực tế nhị và chu đáo đến những người chung quanh.

          Linh mục Cao Văn Luận có đôi lần được dự các buổi tiếp tân của Cụ Hồ ở Paris năm 1946, phần đông thuộc lớp tinh hoa Pháp-Việt, kể lại: “Cụ Hồ bước ra, bắt tay mọi người, nói chuyện phiếm. Tôi phải công nhận Cụ Hồ là một người hiểu biết rộng rãi. Vấn đề gì Cụ cũng có thể nói chuyện sơ qua và tỏ ra hiểu biết…Dù mọi người kính nể Cụ Hồ, nhưng trong câu chuyện, đôi lúc cố ý, đôi lúc vô tình, họ không khỏi nêu lên những vấn đề khó khăn, có thể làm cho người được hỏi lâm vào thế kẹt. Tôi chưa lúc nào thấy Cụ Hồ bị kẹt như thế”. “Cụ Hồ nói chuyện thân mật với các thiếu phụ, đàn bà Pháp rất tự nhiên. Cụ tự tay hái những bông hồng đẹp nhất cài lên áo, lên tóc những bà mệnh phụ tham dự kèm theo những lời khen áo đẹp, những câu ca tụng nước Pháp… Người Pháp có cảm tình với Cụ nhiều lắm”[33].

          Sau Hiệp định Genève, ông Sainteny được Chính phủ Pháp cử làm Tổng Lãnh sự Pháp đầu tiên tại Hà Nội. Đối với ông, cuộc gặp lại đầu tiên sau mười năm với kẻ chiến thắng, là một việc khó khăn. Ông kể: “Chúng tôi cũng mất đến một phút nặng nề trôi qua, không, không đến một phút đâu…có lẽ chỉ vài giây thôi, rồi Cụ Hồ tiến lại phía tôi mà nói rằng: “Nào, chúng ta phải ôm hôn nhau đi chứ!”.Và chúng tôi đã ôm hôn nhau. Chính lúc đó, Cụ nói với tôi: “Chúng ta đã đánh nhau, đánh nhau quá nhiều, song rất trung chính. Bây giờ cần quên đi tất cả những cái đó, cần cùng nhau làm việc…”[34].Thật là một cách ứng xử tuyệt vời! Người chiến thắng không hề tỏ ra một chút vênh vang, kênh kiệu nào mà chủ động giơ tay ra trước, nhanh chóng xóa bỏ phút nặng nề cho đối phương bằng một cử chỉ chân thành, lịch lãm.

          Khách quốc tế từng một lần được tiếp xúc với Hồ Chí Minh đều có một cảm nhận chung: Cụ chủ động xóa bỏ mọi nghi thức, đến thẳng với trái tim con người bằng một tình cảm thân mật, gần gũi, tự nhiên, không chút gắng gượng. Chỉ một câu nói đùa, một cử chỉ thân mật, một lời hỏi thăm chân tình,…Cụ đã xóa đi ngay mọi ngăn cách, tạo ra một không khi thoải mái, ấm áp, như trong một gia đình.

          Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Cụ Hồ có cuộc gặp mặt với các nhà văn, nhà báo nước ngoài đã tham gia chỉến dịch. Cụ dùng tiếng Nga, tiếng Pháp hỏi thăm tình hình sinh hoạt, sức khỏe của các nhà báo phương Tây. Khi giới thiệu đến nhà văn Đới Hoàng, Cụ dùng tiếng Trung Quốc hỏi: – “Ở Điện Biên Phủ, làm sao đồng chí ngã ngựa thế, giờ đồng chí đã khỏi chưa?”. Nhà văn Đới Hoàng kể lại: “Khi nghe hỏi thế, tôi không hề ngạc nhiên, vì đối với ai, Người cũng có tấm lòng của người mẹ hiền. Nhưng tôi không khỏi không cảm động: một chuyện nhỏ như thế mà sao cũng đến tai Người và Người lại nhớ lâu đến thế!”[35].

          Mùa xuân 1969, Đoàn đại biểu Ủy ban Việt Nam của CHDC Đức thăm Việt Nam, được đến chào Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lúc này sức khỏe của Cụ đã yếu đi nhiều. Thấy các vị khách tỏ vẻ lo lắng, Cụ mỉm cười đôn hậu: “Các đ/c đừng lo, tôi vẫn ăn ngủ, làm việc bình thường”. Rồi Cụ hỏi một cách thân mật: -“Các chú có thấy lạnh không”? Tất cả đều trả lời “không”, vì với người Đức, tháng giêng ở Việt Nam quả là không lạnh. -“Không lạnh, nhưng rất nguy hiểm”. Nói xong, Cụ cởi chiếc khăn quàng của mình, quàng cho ông Mác Dêphrin – Chủ tịch Ủy ban Việt Nam, hôm ấy đang húng hắng ho. “Cử chỉ ấy làm cho ai nấy đều cảm động, nó thể hiện tình cảm của một người cha đối với những đứa con từ xa về”[36].

          Là một người hoạt động quốc tế lịch lãm nhưng Cụ Hồ không mấy câu nệ về hình thức, không để bị ràng buộc bởi những nghi lễ ngoại giao trang trọng, cứng nhắc mà thường có cách ứng xử linh hoạt, biến hóa, đem lại hiệu quả thú vị, gây ngạc nhiên cho tất cả mọi người.

          Năm 1959, Cụ Hồ sang sân bay Gia Lâm đón Tổng thống Ấn Độ, khi đó Ấn Độ đang giữ vai trò quan trọng là chủ tịch Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế ở Việt Nam. Vị tổng thống cao tuổi này đã đọc một bài diễn văn không được hấp dẫn lắm trước quần chúng đón tiếp tại sân bay. Bỗng người ta thấy Cụ Chủ tịch gạt người phiên dịch sang một bên và nói: “Tổng thống phát biểu thì Chủ tịch phiên dịch mới hợp”. Rồi bằng một cách khéo léo kỳ lạ, Cụ đã dịch những câu tiếng Anh tẻ nhạt kia thành những câu tiếng Việt hấp dẫn, gây hào hứng, sôi nổi cho người nghe. Tiếng hoan hô, vỗ tay nổi lên như sấm. Buổi đón tiếp đã thành công mĩ mãn. Vị tổng thống nước bạn tỏ ra rất xúc động trước nhiệt tình, mến khách của nhân dân Việt Nam .

          Một nét đặc sắc trong văn hóa giao tiếp, nó cắt nghĩa sự thành công và khả năng chinh phục của Cụ Hồ, là Cụ luôn xuất hiện với một nụ cười, trong ánh mắt hoặc trên đôi môi. Ai đã đọc văn thơ Cụ đều từng biết đến những nụ cười nhiều cung bậc trong Ngục trung nhật ký. Trong ứng xử đời thường, sự hóm hỉnh, năng khiếu hài hước ấy càng được thể hiện đa dạng, phong phú hơn, để đùa vui, để nhắc nhở, châm biếm, giáo dục và nhất là để xóa đi cái cách bức, cái trịnh trọng không cần thiết, nhằm tạo ra không khí giao hòa, gần gũi giữa lãnh tụ với quần chúng.

          Cụ Hồ rất thich vui với quần chúng. Phải nói Cụ là người vui tính và dí dỏm nữa. Vì vậy, thường thấy mỗi khi Cụ Hồ xuất hiện ở đâu là ở đó rộn lên niềm vui và tiếng cười hồ hởi không dứt. Những năm kháng chiến ở Việt Bắc, để tạo ra không khí vui vẻ trong sinh hoạt kháng chiến nơi “u tì quốc”, Cụ Hồ nói với cụ Hoàng Đạo Thuý tổ chức một đêm lửa trại, vì cụ Hoàng vốn là một huynh trưởng Hướng đạo sinh biết nhiều trò chơi. Cụ Hoàng ngần ngại: chỉ có mấy cụ già và mấy ông bộ trưởng bận bịu, lửa trại khó vui lắm. Cụ Hồ đáp: sẽ vẫn vui đấy. Cụ Hoàng nảy ý tinh nghịch: nếu tôi làm “trùm lửa” thì ai cũng phải nghe tôi đấy!- Nhất định rồi! Cụ Hồ tủm tỉm cười, chắc đã hiểu được ý cụ Hoàng.

          Lửa trại bùng lên. Ngồi quanh Cụ Hồ là các cụ Tôn Đức Thắng, Phan Kế Toại, Phạm Bá Trực,…vài chục ông bộ, thứ trưởng và các nhân viên CP. Khai mạc lửa trại, cụ Hoàng đến trước mặt cụ Hồ, chắp tay: Xin mời Cụ Chủ tịch hát mở đầu lửa trại! Thấy Cụ Hồ bị “bỏ bom”, mọi người vừa thích thú, vừa lo ngại. Không chút ngần ngừ, Cụ nhẹ nhàng đứng dậy, vừa đi quanh lửa trại, vừa lên tiếng hát: “Anh hùng xưa, nhớ hồi là hồi niên thiếu, dấy binh lấy lau làm cờ, quên mình là mình giúp nước…”. Già trẻ ai nấy con mắt long lanh, âu yếm nhìn Cụ Chủ tịch của mình. Thế là cuộc lửa trại bắt đầu vui lên.

          Một lần khác, bác sĩ Trần Duy Hưng được cử làm “trùm lửa”, cũng muốn thử    trêu Cụ một cách trìu mến, xem Cụ có bí không. Ông giang hai tay giả làm máy bay, miệng kêu “ù ù’ rồi “hạ cánh”, chụm tay bắc loa: Alô, alô! Thưa đồng bào tp Hồ Chí Minh, Cụ Chủ tịch bay vào thăm đồng bào, xin mời Cụ Chủ tịch ra nói chuyện…Cụ nhổm dậy, nói ngay: “Thưa đồng bào, tôi đi máy bay vào, hơi bị mệt, xin để bác sĩ Trần Duy Hưng thay tôi nói chuyện với đồng bào!” Lúc đó, đâm ra chính ông trùm lửa bị bí chứ không phải là Cụ Hồ.

Năm 1955, Hà Nội vừa giải phóng được ít lâu, Cụ Hồ đến thăm NHA MAY CO KHI GIA LAM. Tấm biển trên cổng ra vào sơn chữ to nhưng không có dấu. Vào nhà máy, mở đầu câu chuyện với anh chị em công nhân, bỗng Cụ hỏi: “Nhà máy các cô, các chú ʻcó khỉʼ à?” Mọi người ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu thế nào mà Cụ lại hỏi về chuyện “khỉ” thế này! Không ai trả lời được. Cụ giục: “Thế nào, trên biển nhà máy đề ʻcó khỉʼ cơ mà?”.- Dạ thưa, có đâu ạ. Cụ cười: “Có đấy! Biển nhà máy cơ khí Gia Lâm của các cô, các chú viết bằng chữ quốc ngữ mà không có dấu, nên Bác đọc nhầm là “nhà máy có khỉ” mà khỉ lại… “già lắm”! Cuộc gặp gỡ đã được mở đầu rất vui. Ai cũng được hưởng một trận cười sảng khoái và nhận được một lời phê bình nhẹ nhàng mà thấm thía.

          Mùa hè năm 1957, trong chuyến đi thăm Quảng Bình, Cụ Hồ và những người cùng đi dùng bữa cơm trưa tại Đồng Hới. Bữa cơm có những món đặc sản miền Trung: mắm tôm chua, rau muống chẻ, cá thu kho,…Mọi người ăn uống một cách ngon lành, thích thú. Cụ Hồ chỉ tay sang bác sĩ Nhữ Thế Bảo – bác sĩ riêng của mình – nói đùa: “Bác sĩ khuyên mọi người nên ăn chín, uống sôi, còn bản thân mình thì ăn rau sống hơi nhiều đấy”! Mọi người cười vang, bữa ăn càng thêm vui vẻ.

          Không chỉ đùa vui người khác, đôi lúc Cụ cũng nói đùa về bản thân mình. Những bài thơ “tự trào” trong Nhật ký trong tù cho thấy Cụ đã đứng cao hơn mọi đau khổ, bệnh tật mà kẻ thù cố tình đày đọa Cụ như thế nào, ta đã biết. Trong kháng chiến chống Pháp, có lần Cụ đội mưa to, đi bộ hàng mấy cây số, đến thăm và động viên một lớp học chính trị của trí thức. Giữa lúc mọi người đang thất vọng vì thấy mưa rừng to quá, chắc Cụ không đến được, thì trong chiếc áo mưa sũng nước, quần sắn quá đầu gối, nón lá đội đầu, Cụ hiện ra trong niềm ngạc nhiên, hân hoan và vui sướng của tất cả mọi người. Tiếng hô “Hồ Chủ tịch muôn năm” rộn vang cả rừng núi.. Cụ bước lên diễn đàn, giơ tay bảo ngừng, nói: “Muôn năm làm cái gì? Trăm năm đã là quá. Còn bây giờ, Bác chỉ “muốn nằm” một tí thôi!”.

          Năm 1946 tại Paris, sau khi đặt vòng hoa viếng mộ “người chiến sĩ vô danh”, xe đưa Cụ qua đại lộ Champs – Élysées, trở về khách sạn. Vị quan chức tháp tùng Cụ, nói: “Thưa Chủ tịch, đã có rất đông người đang đứng xem Ngài đi qua!”.Cụ Hồ bật cười đáp: “Chắc hẳn là thế ông ạ! Người ta muốn xem hề Charlot Việt Nam đấy mà!”.[37]

          Chính ở đây bộc lộ một nét cao thượng trong nhân cách Hồ Chí Minh, điều mà giới trí thức và chính khách phương Tây rất hâm mộ: ở Hồ Chí Minh tuyệt nhiên không hề có một vết gợn nào của tệ sùng bái cá nhân. Không ít người cầm quyền làm cho người dân bình thường khi được dịp đến gần có cảm giác như bị nghẹt thở, nhưng với Hồ Chí Minh thì, như một nhà thơ đã khái quát  trong một câu thơ để đời: “Đến bên Người, ta thở dễ dàng hơn”![38]Cụ Hồ đã đem lại hình ảnh mới về một vị Chủ tịch thực sự của nhân dân.

          Sau những ngày được đến Việt Bắc, được gặp gỡ, tiếp xúc với Cụ Hồ vào thời gian cuối cuả cuộc kháng chiến chống Pháp, kết thúc bàì bút ký của mình, nhà báo Mỹ R. Shaplen đã viết: “Trong rừng Việt Bắc, Cụ Hồ như một ông tiên. Nêú có ai bảo đây là một ngườì cộng sản thì tôi có thể nói Cụ là một ngườì cộng sản khác với quan niệm mà ta vẫn thường nghĩ và theo tôi có thể dùng một từ mới : một người cộng sản phương Đông, một ngườì cộng sản Việt Nam”[39]./.

 

 

 


[1] Térence ( 190-159 TCN), nhà thơ, nhà viết hài kịch Lamã cổ đại. Nguyên văn chữ la tinh: “Nihil humani a me alienum puto”.

[2] Hồ Chí Minh TT, xuất bản lần 2, 1995-1996, t.5, tr. 428. Các trích dẫn của Hồ Chí Minh, đều lấy từ lần xuất bản này.

[3] Hồ Chí Minh TT, sđd,  t.4, tr. 350.

[4] Hồ Chí Minh TT, t. 5, tr. 643-644

[5] Hồ Chí Minh TT, t. 4, tr. 357 và  267. Trong Kinh Cựu ước cũng như trong Tân ước và cả trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền, sau trở thành Hiến pháp 1793 của nước Pháp, ở điều 6, đều có một câu mang nội dung  tương tự: “Ne fais pas autrui ce que tu ne veux  pas  qu’il te soit fait”(Chớ làm cho người khác điều ta không muốn người khác làm cho mình).

[6] Hồ Chí Minh TT, t.4, tr. 65.

[7] Hồ Chí Minh TT, t. 5, tr. 129.

[8] Việt Phương: Cửa mở, Nxb Văn Học, H,.1970, tr. 58.

[9] “Chúng ta, những người cộng sản, chúng ta là những người có một tính cách đặc biệt riêng. Chúng ta được cấu tạo bằng một chất liệu đặc biệt riêng. Chúng ta họp thành đạo quân của nhà chiến lược vô sản vĩ đại- đạo quân của đồng chí Lênin…” (Điếu văn của Staline đọc trong lễ truy điệu Lênin, tháng 1-1924 tại Maxkva).

[10] Hồ Chí Minh TT, t. 9, tr.555.

[11] Hồ Chí Minh TT, t. 5, tr. 263.

[12] Hồ Chí Minh TT, t. 5, tr. 552.

[13] Bài đăng trên Newsweek ra ngày 25-04-1959. Dẫn lại theo P. Brocheux : “Ho Chí Minh, a biography”, tr. 185.

[14] Nguyên văn tiêng Pháp: “Avec un courage invincible et une vertu immaculée, qui furent comme le vrai or qui brille avec mille éclairs après avoir subir mille épreuves du feu, ton aïeul Gia Long, plusieurs fois noble et valeureux, vous a laissé, après des péripéties et des souffrances inocalculables, un pays riche, un peuple indépendent, une nation respectée par les forts et aimée par les faibles, un avenir plein de vie et d’évolution”. (Les lamentations de Trung Trac, đăng trên L’Humanité, ngày 22-06-1922 ). Bài này do Phạm Huy Thông dịch, lần đầu tiên in trong  “Truyện và Ký” của Nguyễn Ái Quốc, nhưng dịch giả hay NXB Văn học, đã lược đi 2 đoạn, trong đó có đọan này. NXB Sự Thật đã đưa nguyên văn bản dịch cuả Phạm Huy Thông vào Hồ Chí Minh TT, t.1,  xb lần thứ nhất, năm 1980.

[15] Hồ Chí Minh TT, t.4, tr. 87.

[16] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Văn Học, 1970, tr. 110.

[17] Hồ Chí Minh TT, t. 1, tr. 479.

[18] Xem bài Hoa sen, Hồ Chí Minh TT, t.8, tr. 139-140.

[19] Hoàng Đạo Thuý: Hồi ký “Theo Bác”, viết năm 1985, lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh .

[20] Hồ Chí Minh TT, s đ d, t. 4, tr. 161.

[21] Hommes d’état d’Asie et leur politique, bài viết về Ho Chi Minh của G. Boudarel, Académie de Paris, Université René Descartes,  2 – 1980, p. 129. Lời dịch tiếng Việt, tôi dựa theo bản dịch của Thu Giang Nguyễn Duy Cần.

[22] Hồ Chí Minh TT,t. 5. tr. 141-142.

[23] Hồ Chí Minh TT, t. 4, tr. 28.

[24] Hồ Chí Minh TT,t. 4. tr. 246.

[25] Dẫn lại theo Phạm Khắc Hòe: “Từ triều đình Huế đén chiến khu Việt Bắc”, Nxb Thuận Hóa, Huế,1987, tr. 117.

[26] Trả lời phỏng vấn của GS Ngô Vĩnh Long, trong phim “Việt Nam, một thiên lịch sử truyền hình”.

[27] Câu chuyện này do ông Trần Quốc Hương (tức Mười Hương, nguyên Bí thư TƯ Đảng, người trực tiếp chỉ đạo mạng lưới tình báo chiến lược ở Miền Nam thời chống Mỹ, trong đó có Vũ Ngọc Nhạ), nói với tác giả trong một buổi làm việc tại nhà riêng của ông ở tp Hồ Chí Minh, đầu năm 2004.

[28] Hồ Chí Minh TT, t.5, tr.197.

[29] Sđd, t. 4, tr. 490

[30] LM Cao Văn Luận: “Bên giòng lịch sử 1940-1965”, Hồi ký, chương 8 “Ba lần gặp gỡ Hồ Chí Minh”

(Theo bản trên mạng vantuyen.net/).

[31] Hồ Chí Minh TT, t. 4, tr. 148.

[32] J. Sainteny : “Đối diện với Hồ Chí Minh “, Seghers, Paris, 1970, tr. 155-156.

[33] LM Cao Văn Luận: “Ba lần gặp gỡ Hồ Chí Minh “, trong Hồi ký đã dẫn.

[34] J. Sainteny: “Un accord sans lendemain”, Planète Action, Mars 1970, p.100.

[35] Đới Hoàng: Ấn tượng về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Thông tục độc vật, Bắc Kinh, 1956, tr.90 (Trung văn).

[36] Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, H, 1985, tr.188-189.

[37] Dẫn theo Hữu Ngọc: Phác thảo chân dung văn hóa Pháp, Nxb Ngoại văn, H, 1991, tr..23.

[38] Việt Phương, Cửa mở, sđd, tr. 96.

[39] Robert Shaplen : “The enigma of Ho Chi Minh”, The Reporter, số ra ngaỳ 27-01-1955, từ trang 11 đến 20.

 

Tác giả gửi ngày 7-5-12

 

Nhìn nhận của Hồ Chí Minh về Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa Tam DânNgày đăng tin : 6/5/2012 12:00:00 AMMặc dù không cùng ý thức hệ tư tưởng, nhưng giữa “Tôn Trung Sơn và Hồ Chí Minh lại có mối đồng cảm lịch sử và thời đại sâu sắc”(1). Nghiên cứu quá trình hoạt động cách mạng và tư tưởng của Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ nhận thấy dấu ấn tương đối sâu đậm của Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa tam dân. Học giả Đặng Thanh Tịnh đã khẳng định: “Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ảnh hưởng sâu sắc nhất trong các nhà cách mạng dân chủ tư sản đối với Người đó chính là Tôn Trung Sơn. Trong các bài viết và lời kể của các nhà lão thành cách mạng Việt Nam không chỉ một lần nói về Hồ Chí Minh đã nghiên cứu chủ nghĩa tam dân và có tình cảm sâu sắc với Tôn Trung Sơn” (2). Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết trong Hồ Chí Minh – Lãnh tụ của chúng ta rằng: “Lâu nhất trong đời hoạt động hải ngoại của Người, Hồ Chủ tịch ở Trung Quốc có cảm tình nồng nàn với Tôn Văn, với cách mạng và nhân dân Trung Quốc” (3). Còn Trần Dân Tiên thì nhận xét: “Ông Nguyễn để hết tâm lực nghiên cứu chính trị Trung Quốc. Ba nguyên tắc của bác sĩ Tôn Dật Tiên: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, vừa nghiên cứu vừa làm việc để sống” (4).

Tuy vậy, nhiều công trình viết về tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh chưa đánh giá về vấn đề này một cách đầy đủ. Giới Sử học đã có một số bài viết nhưng cũng chỉ có tính chất gợi mở (5). Trên cơ sở nguồn tư liệu (Việt và Trung) và kế thừa kết quả đi trước, chúng tôi cố gắng trình bày tỉ mỉ vấn đề này. Song, vì khuôn khổ bài báo nên ở đây chúng tôi chỉ tóm tắt những ý chính qua 4 giai đoạn sau:

1. Từ Cách mạng Tân Hợi đến Quốc – Cộng hợp tác: Hồ Chí Minh bước đầu để ý đến cách mạng của Tôn Trung Sơn

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Ái Quốc rời Tổ quốc Việt Nam ra đi tìm đường cứu nước. Mục tiêu đầu tiên mà Người hướng đến chính là nước Pháp để tìm hiểu bản chất của những từ “tự do, bình đẳng, bác ái”. Bốn tháng sau, khi cách mạng Tân Hợi nổ ra thì Người đang ở Pháp, sau đó sang Mỹ, đến Anh, rồi trở lại Pháp. Mặc dù cách mạng do Tôn Trung Sơn lãnh đạo tác động đến phong trào cách mạng châu Á, đặc biệt là Việt Nam, nhưng mãiĐến đầu những năm 20 mới có một ít tờ báo xuất bản ở Trung Quốc lọt đến Paris theo chân những người du học và sinh sống ở đây… Có lẽ nhờ đó mà Nguyễn Ái Quốc biết được những gì đang diễn ra trên đất Trung Quốc đầu thập kỷ 20 của thế kỷ XX, đặc biệt là hoạt động của Chính phủ cách mạng Quảng Châu và những tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn” (6).

Hồ Chí Minh biết đến cách mạng của Tôn Trung Sơn sau khi đã lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Dấu vết sớm nhất về những tư tưởng đẹp đẽ của Tôn Trung Sơn trong di sản của Hồ Chí Minh, có lẽ là trong những bài viết của Người đầu năm 1921 khi còn hoạt động ở Paris chứa đựng thiện cảm to lớn của Người đối với cuộc cách mạng dân tộc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo và đặc biệt trong đó chứa đựng sự dự báo về khả năng phát triển của cuộc cách mạng này (7). Đó là hai bài đăng trên Tạp chí La Revue Communiste, số 14 và 15, tháng 4 và 5/1921. Trong đó Người đã viết: “Dù đầu độc có hệ thống, bọn tư bản thực dân cũng không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ Ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương” (8)“Trung Quốc, trước kia và hiện nay vẫn là con bò sữa của tư bản Âu – Mỹ. Nhưng sự thành lập chính quyền của nhà cách mạng Tôn Dật Tiên ở phía Nam đã hứa hẹn với chúng ta một nước Trung Hoa được tổ chức lại và vô sản hoá. Có thể hy vọng một cách không quá đáng rằng, trong một tương lai gần đây, hai chị em – nước Trung Hoa mới và nước Nga công nhân sẽ nắm tay nhau trong tình hữu nghị để tiến lên vì lợi ích của nền dân chủ và nhân đạo” (9). Đó là một dự báo chính xác về sự liên minh giữa cách mạng của Tôn Trung Sơn với cách mạng của Lênin trong một tương lai gần. Tiên đoán đó đã trở thành hiện thực – khi mà từ cuối năm 1923, Chính phủ Quảng Châu và nước Nga XôViết xích lại gần nhau, rồi từ tháng 1/1924, Tôn Trung Sơn cải tổ Quốc dân Đảng, giải thích mới về chủ nghĩa tam dân, tạo cơ sở cho Quốc – Cộng hợp tác lần thứ nhất, thúc đẩy phong trào cách mạng Trung Quốc phát triển lên một bước.

Tiếp đó, Người viết nhiều bài như: Chính sách thực dân Anh (Báo La Vie Ouvrière, ngày 9/11/1923); Tình hình ở Trung Quốc (Báo L’ Humanité, ngày 4/12/1923); Tình cảnh nông dân Trung Quốc (Báo La Vie Ouvrière, ngày 4/1/1924); Các nước đế quốc chủ nghĩa và Trung Quốc (Tập san Inprekorr, số 67, ngày 24/9/1924)… Trong đó khẳng định: “Bọn đế quốc nhằm hai mục đích: trước hết, giành thêm những nhượng bộ mới, sau nữa tôi cho rằng đây là điều chủ yếu – lật đổ Tôn Dật Tiên. ...Tôn Dật Tiên – người cha của cách mạng Trung Quốc, người đứng đầu chính phủ Quảng Châu thì luôn luôn trung thành với những nguyên lý của mình, ngay cả trong những lúc khó khăn nhất. Cương lĩnh của đảng ông – Quốc dân Đảng là một cương lĩnh cải cách… gồm những điều khoản chống đế quốc và chống quân phiệt một cách rõ ràng. Đảng đó lớn tiếng đoàn kết với các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địavà với giai cấp vô sản quốc tế… Chính vì thế mà ngày nay, người ta tìm cách thanh toán Tôn Dật Tiên và đảng của ông cũng giống như trước đây người ta tìm cách bóp chết nước Nga cách mạng vậy” (10).

Theo Người, Cương lĩnh cách mạng Quốc dân Đảng của Tôn Trung Sơn là một cương lĩnh cải cách, Bao gồm những nội dung hết sức tiến bộ: Một là, chống đế quốc và chống quân phiệt một cách rõ rệt; Hai là, đoàn kết các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa và giai cấp vô sản quốc tế; Ba là đồng tình với cách mạng Nga” (11). Đó chính là tinh thần của chủ nghĩa tam dân mới. Người bước đầu nhận thấy trong tư tưởng của Tôn Trung Sơn có những điểm phù hợp với xu thế thời đại và có thể vận dụng được vào hoàn cảnh Việt Nam. Vì thế, Người rất mong sớm có cơ hội đến Quảng Châu để được tiếp xúc với Tôn Trung Sơn, tận mắt chứng kiến sự phát triển của cách mạng quốc dân dưới quá trình Quốc – Cộng hợp tác, học hỏi thêm kinh nghiệm cách mạng. Tất nhiên, Người đến Quảng Châu còn có những lý do khác nữa như ở đây gần với Tổ quốc Việt Nam, “một mặt chú ý cách mạng trong nước, mặt khác có điều kiện tham gia vào công tác của Đảng Cộng sản Trung Quốc” (12)

2. Hơn hai năm ở Quảng Châu: Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc hơn về chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn

Ngày 11/4/1924, Nguyễn Ái Quốc có thư gửi Quốc tế Cộng sản, trong đó viết: “Chuyến đi sẽ là một chuyến đi để khảo sát và nghiên cứu… Trước hết tôi phải đi Trung Quốc… (13). Ngày 11/11/1924 Người đến Quảng Châu (14) – khi chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn đã chuyển sang chủ nghĩa tam dân mới với nội dung dân tộc, dân quyền, dân sinh đã được mở rộng theo chiều hướng có lợi cho cách mạng vô sản, nên mặc dù đã lựa chọn con đường cách mạng Lênin nhưng Người vẫn quan tâm tìm hiểu tư tưởng của Tôn Trung Sơn. Như Trần Dân Tiên viết: “… Lời kêu gọi của bác sĩ Tôn Dật tiên bắt đầu truyền bá. Một phong trào dân tộc vĩ đại bắt đầu… Ông Nguyễn tìm vào cuộc vận động này… Ông để hết tâm lực nghiên cứu chính trị Trung Quốc. Ba nguyên tắc của bác sĩ Tôn Dật Tiên: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, ông vừa nghiên cứu vừa làm việc để sống” (15).

Thực ra lúc bấy giờ, lý luận cách mạng của Tôn Trung Sơn đã thu hút sự chú ý của các nhân sĩ châu Á, đặc biệt là nước Việt Nam đồng bệnh. Quảng Châu được mệnh danh là “Mátxcơva của phương Đông” nên Nguyễn Ái Quốc tìm đến làm phiên dịch cho Bôrôđin cũng là muốn có nhiều cơ hội được tiếp xúc với chính tác giả của chủ nghĩa tam dân. Tiếc thay là cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào (cả tiếng Trung và tiếng Việt) viết về việc tiếp xúc giữa Nguyễn Ái Quốc với Tôn Trung Sơn. Theo chúng tôi thì nhiều khả năng là Nguyễn Ái Quốc chưa một lần tiếp xúc với Tôn tiên sinh. Vì ngày 11/11/1924, Người vừa đến Quảng Châu thì ngày 12/11/1924, Tôn Trung Sơn bận tiếp xúc các chính giới ở Quảng Châu để bày tỏ quyết tâm lên phía Bắc; ngày 13/11/1924 cùng Tống Khánh Linh rời Quảng Đông; ngày 17/11/1924 thì đến Thượng Hải; ngày 23/11/1924 đến Nagasaki của Nhật Bản; ngày 4/12/1924 trở về Thiên Tân; ngày 31/12/1924  đến Bắc Kinh rồi vì lâm bệnh nặng đã qua đời ở đây (16).

Song qua thực tiễn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc hiểu biết sâu hơn về chủ nghĩa tam dân mới của Tôn Trung Sơn và nhận thấy nó thích hợp với thực tế Việt Nam: “…Trong tất cả các lý luận cách mạng thì chủ nghĩa Tôn Dật Tiên là phù hợp nhất với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Chủ nghĩa tam dân của bác sĩ Tôn Dật Tiên có thể tổng kết là: Chủ nghĩa dân tộc: độc lập cho mọi dân tộc; Chủ nghĩa dân quyền: tự do của nhân dân;Chủ nghĩa dân sinh: hạnh phúc và hưởng thụ của nhân dân. Đây là cái mà Việt Nam cần. Đây là cái mà dân tộc Việt Nam đòi hỏi và là cái mà Nguyễn Ái Quốc tìm kiếm…(17). Không những thế, Người còn chuyển hoá “ba chủ nghĩa” thành “ba nguyên tắc” – “ba chính sách” rồi sử dụng tên gọi này nhiều lần. Chính Người đã bổ sung các từ độc lập, tự do, hạnh phúc để thành: Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc – điều mà Tôn Trung Sơn chưa bao giờ viết như vậy (18).

Trên đất Quảng Châu, năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam thanh niên cách mạng, triển khai các lớp huấn luyện chính trị. Không phải ngẫu nhiên mà bên cạnh treo các bức ảnh của Mác, Lênin, Xitalin, thì trong lớp huấn luyện này còn treo ảnh Tôn Trung Sơn và Phạm Hồng Thái (19). Người còn đưa nội dung tiến bộ trong chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn vào giảng dạy cho thanh niên học một cách có phê phán (20). Trước khi Tôn Văn qua đời, Người có bài “Những vấn đề Châu Á” đăng trên Tập san Inprekorr (số 19 năm 1925), đánh giá cao chính sách dân tộc của Tôn Trung Sơn trong việc phản đối chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Người cho rằng, chính sự cứng rắn của Tôn tiên sinh và Quốc dân Đảng trong việc đòi hỏi sự bình đẳng dân tộc khiến Tôn Dật Tiên đã trở thành “một trong những nhà chính trị mà bọn đế quốc ghét nhất và gờm nhất” (21).

Ngày 12/3/1925, Tôn Trung Sơn qua đời, thì cuối tháng đó Nguyễn Ái Quốc có bài “Sự kiện Tôn Dật Tiên tạ thế” đăng trên báo Người cùng khổ ở Paris: “… Tôn Dật Tiên qua đời làm cho châu Á mất đi một người bạn tốt, cách mạng Nga mất đi một người tiếp sức. Tôn tiên sinh qua đời nhưng Di chúc của ông đang hô hào cả nước Trung Hoa tiếp tục đấu tranh chống kẻ thù chung. Cũng như hôm nay, những người Việt Nam yêu nước đang lưu vong trên đất Quảng Châu, họ đã hi sinh mọi hưởng thụ cũng là để làm cho dân tộc mình được thoát khỏi sự nô dịch đế quốc phong kiến. Như hiện nay đã lấy quê hương của Tôn Dật Tiên để làm nơi tôi luyện cách mạng, từ đó mà càng giữ vững lòng tin và ý chí quyết tâm cứu nước(22). Tiếp đó là bài “Những sự biến ở Trung Quốc” được Người viết ngày 13/11/1925 tại Quảng Châu đăng báo L’Annam số 118 ngày 2/12/1925 ở Việt Nam, trong đó có đoạn: “Chúng tôi không thể không nói đến tình cảm của nhân dân Quảng Châu và cả tỉnh Quảng Đông kỷ niệm ngày sinh của Tôn Dật Tiên. Sự ân cần của nhân dân chứng tỏ người Trung Hoa biết ơn vị lãnh tụ cách mạng quá cố đến nhường nào, biết ơn người đã thức tỉnh họ ý chí tự giải phóng khỏi mọi sự áp bức về ngoại giao mà không gì bào chữa nổi hiện nay ” (23). Trong Đại hội lần thứ hai Quốc dân Đảng Trung Hoa đầu năm 1926, Nguyễn Ái Quốc tham dự và phát biểu “…Chính sách vĩ đại của Tôn Tổng lý (tức Tôn Trung Sơn) để cùng với các dân tộc bị áp bức phấn đấu… lúc Tôn Trung Sơn tạ thế, toàn Trung Quốc cố nhiên đều truy điệu, mà các nước trên thế giới cũng rầm rộ truy điệu. Nhân dân An Nam chúng tôi đương nhiên cũng muốn làm lễ truy điệu như người Trung Quốc, nhưng bọn Pháp không cho phép làm… (24). Cũng từ Quảng Châu, ngày 12/3/1927, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Kỷ niệm lần thứ hai ngày Tôn Dật Tiên qua đời” gửi về Việt Nam đăng trên báo L’Annam (số 150 ngày 31/3/1927) với những lời lẽ rất xúc động: “Ngày hôm nay cả nước Trung Hoa tỏ lòng tôn kính tưởng nhớ Bác sĩ Tôn Dật Tiên… Con người làm việc lột xác nước Trung Hoa vĩ đại đã cống hiến cả nghị lực và cuộc đời mình cho thắng lợi của sự nghiệp cả dân tộc… Bác sĩ Tôn Dật Tiên lên án sự tồn tại của các Hiệp ước bất bình đẳng, nhân nhân các địa phương đều nghe thấy… Chính những người Trung Quốc tôn kính, biết ơn Bác sĩ Tôn Dật Tiên – người phục sinh cho Tổ quốc, đã tưởng niệm ngày qua đời của người anh hùng dân tộc vĩ đại” (25).

Suốt hai năm rưỡi hoạt động trên đất Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc nhận được sự giúp đỡ cách mạng Tôn Trung Sơn đứng cũng như Đảng Cộng sản Trung Quốc, hiểu biết thêm về Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa tam dân, tổ chức huấn luyện được hàng trăm cán bộ cách mạng và đang chuẩn bị thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam thì đột nhiên, “bầu trời chính trị Quảng Châu ngày càng bị mây đen bao phủ” (26). Ngày 12/4/1927, Tưởng Giới Thạch đảo chính ở Thượng Hải, rồi Lý Tế Thâm đảo chính ở Quảng Châu ngày 15/4/1927. Tiếp đến, bọn phản cách mạng bắt bớ, khủng bố những người cộng sản, cánh tả trong Quốc dân đảng và người bị nghi ngờ có mối liên hệ với cộng sản. Nguyễn Ái Quốc cũng bị lọt vào vào tầm kiểm soát của bọn Tưởng phản cách mạng. Người phải bí mật rời Quảng Châu đi Hồng Kông, lên Thượng Hải và trở lại đất nước Liên Xô.

3. Giai đoạn 1927-1945: Hồ Chí Minh tiếp tục tìm hiểu và khéo léo vận dụng tinh hoa của chủ nghĩa tam dân vào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam

Sau khi trở lại Mátxcơva, tháng 11/1927, Nguyễn Ái Quốc được cử đi Pháp, rồi sang Bỉ, Italia. Mùa thu 1928, Người từ châu Âu đến Thái Lan và cuối năm đó thì trở lại Trung Quốc. Để chuẩn bị cho việc hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành một chính đảng cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã bàn với các đồng chí của mình: “Chúng ta phải đoàn kết giai cấp, đoàn kết nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Để đạt mục đích ấy phải thống nhất tổ chức. Tổ chức ấy có thể lấy tên Thanh niên cách mạng hoặc là Đảng Cộng sản, nhưng chính cương của nó phải là: 1) Dân tộc độc lập; 2) Nhân dân tự do; 3) Dân chúng hạnh phúc; 4) Tiến tới chủ nghĩa xã hội” (27). Như thế, trong 4 nội dung của chính cương theo gợi ý của Người thì có đến 3 nội dung mang màu sắc của chủ nghĩa tam dân. Sau này trong Cương lĩnh chính trị của Đảng tháng 2/1930 do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, vấn đề dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc đều ít nhiều đề cập tới, nhưng đã vượt lên so với Tôn Trung Sơn về tinh thần chủ nghĩa vô sản quốc tế và đặt cách mạng Việt Nam làm “một bộ phận của cách mạng thế giới”. Như Trần Dân Tiên viết : “Trên thực tế, ông Nguyễn trung thành với chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên. Cương lĩnh của ông Nguyễn đã làm theo mô hình của Tôn Dật Tiên, tức: chủ nghĩa dân tộc – dân tộc độc lập; chủ nghĩa dân quyền – nhân dân tự do; chủ nghĩa dân sinh – cải thiện cuộc sống nhân dân. Thậm chí để đạt được mục đích ấy thì ông Nguyễn đã khéo léo vận dụng phương pháp đấu tranh ở lãnh tụ vĩ đại cách mạng Trung Quốc Tôn Trung Sơn…(28).

Ngoài ra, Người cũng vận dụng nội dung tư tưởng của Tôn Trung Sơn vào các mục đích giáo dục tinh thần cách mạng cho các chiến sĩ thanh niên… Trong bài “Nhân dân Việt Nam với báo chí Trung Quốc” (ngày 2/12/1941, bút danh Bình Sơn), đăng trên “Cứu vong nhật báo”, Người viết: “Phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam là đội quân đồng minh trong kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc… Quốc phụ Tôn Trung Sơn từng dạy chúng ta giúp đỡ các dân tộc nhỏ yếu cùng nhau phấn đấu giành lấy tự do độc lập. Nay cơ hội để thực hiện lời di huấn đó đã đến” (29). Còn trong bài nói chuyện buổi bế mạc lớp huấn luyện cán bộ Việt Nam tại Liễu Châu (Quảng Tây) vào mùa xuân năm 1944, Người căn dặn: “Tôn Trung Sơn tiên sinh vĩ đại có một câu danh ngôn: An nguy tha nhật chung tu trượng/ Cam khổ lai thời yếu cộng thưởng. Câu danh ngôn này đối với nhân dân hai nước chúng ta mà nói là lời hiệu triệu vĩ đại và có ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Nhân dân 2 nước Việt Trung sẽ thực hiện điều đó, mãi mãi không quên” (30).

Rồi khi đang bị ngồi trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, Người vẫn nghiên cứu chủ nghĩa tam dân. Hầu Chí Minh – người đã trực tiếp thả tự do cho Hồ Chí Minh theo lệnh Tưởng Giới Thạch, cho biết: “trong thời gian quản lĩnh Hồ Chí Minh, chủ nhiệm Hầu đã tặng Hồ Chí Minh cuốn chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn, sau này Hồ Chí Minh dịch ra tiếng Việt” (31). Vì vậy, mà bàithứ 128 của Nhật ký trong tù đã ghi lại cảm xúc của Người khi đọc chủ nghĩa tam dân và biết ơn chủ nhiệm Hầu. Bài thơ có nhan đề là “Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư” (Ơn chủ nhiệm Hầu tặng một bộ sách). Sau khi Người ra tù, Trương Phát Khuê (Thượng tướng quân đội Trung Hoa dân quốc) báo cáo: “Hồ Chí Minh đang nghiên cứu và viết một cuốn sách mỏng về chủ nghĩa tam dân tại Cục chính trị Đệ tứ chiến khu” (32). Chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm ở một số thư viện tại Bắc Kinh để tìm cuốn sách ấy, nhưng vẫn chưa có kết quả.

Ngày 18/2/1945, trong công hàm gửi chính phủ các nước Trung Quốc, Hoa kỳ, Liên Xô và Anh, Hồ Chí Minh đã nói về mục đích làm cách mạng dân tộc là: “Chúng tôi dựa vào và tìm thấy nguyên tắc thứ nhất trong ba nguyên tắc của Tôn Dật Tiên” (33) (tức là dân tộc độc lập) thì đến ngày 23/2/1945, khi trả lời phỏng vấn báo chí, Người lại khẳng định: “Nước Trung Hoa bây giờ cũng như Tôn Trung Sơn ngày trước, chủ trương tam dân chủ nghĩa là dân tộc, dân quyền và dân sinh. Trung Quốc phấn đấu kháng chiến tám, chín năm nay cũng vì ba chủ nghĩa ấy. Chúng ta phấn đấu trước hết cũng là vì dân tộc” (34). Mấy tháng sau, dân tộc Việt Nam đã được độc lập thông qua cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

4. Giai đoạn sau năm 1945: Chính phủ cố gắng làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc

Ngày 12/10/1945, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh về việc lấy quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên các công văn, điện văn, đơn từ… thì sau đó không lâu chúng ta thấy dưới Quốc hiệu ấy lại xuất hiện ba tiêu ngữ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Theo PGS. Chương Thâu thì ba tiêu ngữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” của Hồ Chí Minh hẳn là có nguồn gốc từ ba chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn, được người tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo ở Việt Nam trong cả quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc (35). Tuy vậy, cho đến nay vẫn còn ý kiến chưa hoàn toàn đồng tình với suy luận ấy nhưng nếu đặt ba từ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc vào cách dùng từ Hồ Chí Minh về ba nguyên tắc của chủ nghĩa tam dân là Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc thì rõ ràng giữa chúng có mối liên hệ rất gần gũi.

Đáng chú ý hơn cả là trong phiên họp bế mạc kỳ họp thứ II Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 9/11/1946, Người đã nói: “Chính phủ cố gắng làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc(36). Điều đó cho thấy, nội dung dân tộc, dân quyền dân sinh đã hoá thân vào thực tiễn, trở thành mục tiêu xây dựng đất nước của chính phủ Hồ Chí Minh. Nếu như trước đây, Người thường viết “dân tộc”, “dân quyền” và “dân sinh”, thì lúc này lại viết “dân sinh, dân quyền, dân tộc”. Hẳn đây không phải là một sự ngẫu nhiên! Vì rằng cách mạng tháng Tám thành công, độc lập dân tộc đã giành lại được (tuy sau đó không lâu, giặc ngoại xâm lại kéo vào nước ta); Nhà nước dân chủ nhân dân đã được thiết lập; nhân dân Việt Nam đã bắt đầu được hưởng tự do dân chủ dưới chế độ xã hội mới. Về lý luận thì vấn đề dân tộc và dân quyền coi như đạt mục đích, nhưng nhân dân vẫn còn đói, còn rét, do vậy phải tập trung nhiều giải quyết vấn đề dân sinh, tạo đời sống ấm no cho dân để họ phấn khởi tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nếu như Tôn Trung Sơn quan niệm: “Trong chủ nghĩa dân sinh, vấn đề quan trọng thứ nhất là ăn, vấn đề quan trọng thứ hai là mặc(37), thì Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (38).

Trong “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” viết ngày 11/6/1948, Hồ Chí Minh đã coi sự nghiệp cách mạng của Việt Nam là quyết tâm hoàn thành ba mục tiêu tương tự ba chủ nghĩa mà Tôn Trung Sơn đã đề ra: “…Trong cuộc thi đua ái quốc, chúng ta: vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Kết quả đầu tiên của thi đua ái quốc sẽ là: Toàn dân đủ ăn, đủ mặc; Toàn dân biết đọc, biết viết; Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới để giết giặc ngoại xâm; Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn. Thế là chúng ta thực hiện: Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc. Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra” (39). Ở đây cũng cần lưu ý rằng, Hồ Chí Minh thực hiện vấn đề đó là để làm cơ sở vững chắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, chứ không như Tôn Trung Sơn thực hiện tam dân chủ nghĩa để thiết lập một xã hội có bản chất tư bản. Cho nên ở đây có sự kết hợp hữu cơ giữa việc khái quát của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc của chủ nghĩa tam dân với phương hướng, mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

Những tinh hoa của chủ nghĩa tam dân mới để lại dấu ấn khá sâu sắc ở Hồ Chí Minh. Không phải ngẫu nhiên mà “Có người hỏi Nguyễn Ái Quốc: ông là người thế nào? Người cộng sản hay là người theo chủ nghĩa Tôn Dật Tiên?”. Hồ Chí Minh đã trả lời rằng: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó: sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó: lòng nhân ái cao quý. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó: phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó: chính sách của nó thích hợp với điều kiện quốc gia chúng tôi. Khổng Tử, Giê su, Mác, Tôn bác sĩ, họ chẳng có điểm chung đó sao? Họ đều muốn vì mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Nếu như ngày nay họ còn sống trên đời, nếu như họ tụ tập lại một chỗ, tôi tin tưởng rằng nhất định họ phải là những người bạn chung sống với nhau rt hoàn mĩ. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy. Tôi vẫn là tôi trước đây: một người yêu nước(40).

Cuối cùng cần khẳng định là, mặc dù nhận thấy “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên là thích hợp nhất với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam…” (41)  nhưng trước sau thì Người đều khẳng định “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin(42). Điều đó chứng tỏ giá trị lớn lao của chủ nghĩa Lênin cả về phương diện khoa học lẫn thực tiễn. Tuy nhiên ở Hồ Chí Minh, sau khi phân tích các điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Hán như Việt Nam lúc bấy giờ, thì muốn giải quyết được cái hoàn cảnh cụ thể đó, hẳn là phải có sự kết hợp khéo léo chứ không thể vận dụng riêng lẻ một chủ nghĩa nào cả./.

 

 

“Hồ Chí Minh nhận thấy trong tư tưởng của Tôn Trung Sơn có những điểm phù hợp với xu thế thời đại và có thể vận dụng được vào hoàn cảnh Việt Nam.”

 

Chú thích

 (1), (2), (35) Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Trung Quốc: Tôn Trung Sơn – cách mạng Tân Hợi và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.90, tr.84, 108-109.

 (3)  Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh lãnh tụ của chúng ta, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1969, tr.20.

(4), (15), (27) Trần Dân Tiên: Những mu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970, tr.62, 61- 62, 75.

(5) Ví như GS. Phan Ngọc Liên, PGS.TS. Chương Thâu, PGS. Nguyễn Văn Hồng, tác giả Đặng Thanh Tịnh, tác giả Nguyễn Huy Hoan (Bảo tàng Hồ Chí Minh), PGS TS. Phạm Xanh, PGS. Phan Văn Các, TS. Đỗ Tiến Sâm…

(6), (7) Theo Phạm Xanh: “Tôn Dật Tiên trong tâm tưởng Hồ chí Minh”, (32) Theo Phan ngọc Liên: Hồ Chí Minh với Tôn Trung Sơn, Kỷ yếu Hội thảo khoa học 80 cuộc Cách mạng Tân Hợi (10/101911-10/10/1991), lưu tại Khoa lịch sử – Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội, số hiệu LS-TL 1466.

(8) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2000, bản điện tử, Tập 1, tr. 28;

(9) T.1, tr. 34; (10) T.1 tr. 319-320; (12) T.10- tr.367; (13) T.1- tr.251-252; (21) T.2, tr.197; (24) T.2, tr.282, 287; (29) T.3, tr.185; (33) T.4, tr.180; (34) T.4, tr.185; (36) T.4, tr.978; (37) T.4, tr.260; (39) T.5, tr.913-914; (42) T.2,  tr.352.

 (11) Trung tâm Khoa học xã hộiNhân văn Quốc gia, Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc: Cách mạng Tân Hợi 90 năm sau nhìn lại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tr.279.

 (14) Các tài liệu viết khác nhau về ngày Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu. Chúng tôi lấy ngày 11/11/1924 dựa vào 4 bức thư Người viết tại Quảng Châu vào ngày 12/11/1924, trong đó bài “Thư từ Trung Quốc, số 1” có đoạn viết: “chỉ có một dòng chữ để báo cho đồng chí biết rằng tôi đến đây hôm qua và đang ở nhà đồng chí Bôrôđin với 2 hoặc 3 đồng chí Trung Quốc. Tôi chưa gặp ai cả. Mọi người ở đây đều bận về việc Bác sĩ Tôn lên phương Bắc”.

 

 (16) Thượng Minh Hiên: Tôn Trung Sơn truyện, NXb Bắc Kinh, 1979, bản Trung văn, tr.208-209.

(17), (28),(40), (41)Trần Dân Tiên (tác giả), Trương Niệm Thức (dịch sang Trung văn): Hồ Chí Minh truyện, Thượng Hải bát nguyệt xuất bản xã, ấn hành tháng 6/1949, Bản Trung văn, tr.81, tr.90, 91, 81.

(18) Tôn Trung Sơn chỉ viết Chủ nghĩa dân tộc; Chủ nghĩa dân quyền và Chủ nghĩa dân sinh. Theo tôi, chúng ta không nên lẫn lộn ở chỗ này.

(19), (26) Ép-ghê-nhi Ca-bê-lép (tác giả), Nguyễn Minh Châu và Mai Lý Quảng (dịch tiếng Nga sang Việt): Đồng chí Hồ Chí Minh, Tập1, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1985, tr.189, tr.209-210.

(20) Hoàng Quốc An: Tư liệu lịch sử quan hệ Trung Việt thời cận đại, quyển hạ, Quảng Đông nhân dân xuất bản xã, 1988, bảnTrung văn, tr.821. Trong Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.156 cũng viết: ...học lịch sử cách mạng Mỹ, Pháp, Tàu, Nhật; học tiểu sử nhà cách mạng Mác, Lênin, Tôn Dật Tiên; học chính trị và chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tam dân, chủ nghĩa Gandhi…

(22)  Lý Gia Trung: Cuộc đời Hồ Chí Minh, Nxb Tri thức thế giới, Bắc Kinh, 2010, bản Trung văn, tr.50-51.

(23), (25) Trung tâm Khoa học xã hộiNhân văn Quốc gia, Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc: Cách mạng Tân Hợi 90 năm sau nhìn lại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tr.260, 260-261. 

(30)Ôn Kỳ Châu: Mới phát hiện bài diễn thuyết của Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, Tạp chí Đông Nam Á tung hoành, số 3, năm 2000, bản Trung văn, tr.55. Câu ấy chúng ta có thể hiểu là: những ngày cái sống cái chết kề bên nhau thì phải dựa vào nhau, lúc đắng cay ngọt bùi cũng phải cùng nhau san sẻ.

 

(31) Viện văn học Việt Nam: Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.597.

(37)  Tôn Trung Sơn: Chủ nghĩa tâm dân, Nxb Cửu Châu, 2011, bản Trung văn, tr.186.

 

■  Ths. Lê Đức Hoàng

 

Từ một câu trả lời nghĩ về một quan điểm lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Có người hỏi ông Nguyễn: Ông là người thế nào? Theo Chủ nghĩa Cộng sản hay Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên? Ông Nguyễn trả lời: Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm là lòng bác ái. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước chúng tôi (…). Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ. Tôi chính là tôi ngày trước: một người yêu nước”(1). Câu trả lời này của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nhiều sách, báo trích dẫn, tuy nhiên một sự giải thích cụ thể các lớp ý nghĩa thì chưa thấy có. Trong khi, theo tôi, câu trả lời này của Chủ tịch Hồ Chí Minh như một sự thâu tóm những đặc điểm cốt yếu tư tưởng của Người về văn hóa dân tộc và quan điểm phát triển nền văn hóa.

Câu trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hiểu trên hai bình diện: bình diện thứ nhất là cách nhìn nhận của bản thân tác giả về các học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa và về bản thân; bình diện thứ hai cách nhìn nhận về văn hóa dân tộc, quan điểm phát triển văn hóa dân tộc. Bình diện thứ nhất là bình diện ngoại diên, cái bên ngoài, tạm gọi là nghĩa trên bề mặt câu chữ; bình diện thứ hai là cái mạch ngầm trong tư tưởng của Người, tạm gọi là nghĩa ẩn đằng sau câu chữ. Ở bình diện thứ nhất, Người sàng lọc những tinh hoa của các học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa, nói được cái cốt yếu, cái hạt nhân của mỗi học thuyết, chủ nghĩa ấy: tu dưỡng đạo đức, lòng bác ái, phương pháp biện chứng, chính sách phát triển. Dĩ nhiên, khi Người đã phát biểu như vậy về các học thuyết, các chủ nghĩa là Người đã nghiên cứu kỹ, và bằng phương pháp loại suy, Người đã chắt lọc những gì tinh hoa nhất để học tập. Mỗi học thuyết, mỗi chủ nghĩa luôn chứa trong nó nhiều đặc điểm, nội dung, không phải chỉ một nội dung thuần túy, dù đó là cái cốt yếu. Vậy nên, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận diện những đặc điểm này phải hiểu là Người vừa (đọc rất nhiều) hiểu các học thuyết, chủ nghĩa, vừa đã chọn lọc để tiếp thu làm giàu cho tư tưởng của mình. Đấy là điều chỉ xảy ra đối với những bộ óc siêu việt, mà với trường hợp Hồ Chí Minh, GS. Mai Quốc Liên đã gọi cho cái tên là “một bộ lọc vĩ đại”(2). Tất nhiên ở đây tôi chỉ mới giới hạn về việc tiếp thu cái cốt yếu của 4 học thuyết, tôn giáo, chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nói ra ở câu trên, chứ trên thực tế, việc tiếp thu và thông qua hành động loại suy của Người còn được thể hiện rất nhiều như: đối với việc tiếp thu Phật giáo (tư tưởng từ bi bác ái, tinh thần bình đẳng, nếp sống giản dị, coi trọng lao động (Phật giáo Thiền tông: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”)), triết học và tư tưởng phương Tây (tư tưởng dân chủ và tiến bộ, coi trọng tự do con người: Tuyên ngôn 1776 của nước Mỹ, tư tưởng của Rút xô, Môngtexkiơ) vv… Từ chỗ nhìn nhận về 4 học thuyết, chủ nghĩa, Người nói về mình: “tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của họ”. Đây là lời nói có tính khiêm nhường, nhưng không hoàn toàn, bởi xem xét ở khía cạnh khác, phẩm chất trung thực của Hồ Chí Minh lại nổi lên. Trong khoa học, một thực tế khách quan là, một nhà khoa học lớn suốt đời theo đuổi chân lý, cố nhiên phải phát biểu chân lý ấy bằng nhiều công trình, Người ấy sẽ đào tạo ra các học trò theo trường phái của mình, phát triển tư tưởng của mình lên tầm cao mới. Nhưng, trong khoa học lại không thể có một người nhận mình là học trò của một người vĩ đại trong khi đã không tuân theo tôn chỉ khoa học của người đó. Vậy nên, ở đây khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là muốn làm người học trò nhỏ thì cũng là rất trung thực (bởi vì mục đích của Người là tìm con đường tư tưởng để cứu nước chứ không phải làm khoa học). Hơn nữa, nếu phân tích kỹ câu nói của Người ta lại thấy Người nhìn nhận rất đúng bản thân: Người một mặt tự nhận là học trò, mặt khác lại không thừa nhận là học trò trung thành của một học thuyết, chủ nghĩa nào, hiểu theo nghĩa thuần túy tiếp thu. Người chọn lọc cái ưu điểm của mỗi học thuyết để phát triển tư tưởng của mình. ở đây có vấn đề nhạy cảm đó là học thuyết Mác – Lê nin, tôi xin giải thích để tránh hiểu nhầm. Người là học trò của Mác, Ăng ghen, Lê nin, nhưng không phải là học trò thuần túy tiếp thu máy móc tư tưởng của họ. Người nhìn nhận học thuyết Mác xít rồi đối chiếu với thực tiễn cách mạng Việt Nam để tìm ra hướng đi. Riêng luận điểm, “Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước” đã là một đóng góp vĩ đại cho học thuyết Mác xít thời hiện đại (bởi vì học thuyết Mác xít chỉ nghiên cứu đấu tranh giai cấp, và cho rằng, giải phóng dân tộc chỉ thành công khi giải phóng giai cấp, các dân tộc bị áp bức chỉ giải phóng được mình khi cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp ở chính quốc thắng lợi). Như vậy có thể thấy, ở đây một mặt, Người khiêm nhường nhận là học trò (tức tầm tư tưởng, trí tuệ không sánh bằng Khổng Tử, Giê su, Mác, Ăng ghen, Lê nin, Tôn Trung Sơn), một mặt Người đã trung thực với bản thân. Nếu nói Hồ Chí Minh là ai khi học tập các học thuyết, chủ nghĩa ấy, thì theo tôi, Hồ Chí Minh là một người khác – khác so với học trò của các vị tiền bối đó và vì… “vô tiền khoáng hậu”.
Bình diện thứ hai, Người nói về văn hóa dân tộc: đó là một nền văn hóa có bề dày lịch sử. Khi Người nói “tôi chính là… một người yêu nước”, thì ẩn đằng sau câu nói ấy, chúng ta phải hiểu là đất nước chúng ta có truyền thống tốt đẹp, có bề dày văn hóa (không phải đất nước nào cũng có bề dày văn hóa, kể cả những đất nước nền kinh tế, khoa học phát triển). Nói tôi là người yêu nước nghĩa là đứng trên lập trường dân tộc, lấy dân tộc làm gốc, trên cơ sở cái dân tộc tiếp thu cái bên ngoài để làm giàu thêm. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải liên hệ với phát biểu của Người ở những câu kế trên để thấy tại sao chúng ta cần phải tiếp thu bên ngoài và tại sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại phải ra đi tìm đường cứu nước vào những năm đầu thế kỷ XX?
Có thể nói rằng, trước khi thực dân Pháp vào Việt Nam, đất nước chúng ta vẫn chỉ quen thuộc với tâm tính á Đông, trong đó đất nước có quan hệ mật thiết nhất với chúng ta là Trung Hoa. Vì chúng ta gần gũi với Trung Hoa (ở đây hiểu về khía cạnh tâm tính, thế giới quan), nên dân tộc chúng ta không bị xáo trộn nhiều khi Trung Hoa xâm lược, đặc biệt là về cấu trúc xã hội. Cũng vì thế nên chúng ta đánh thắng các cuộc xâm lược của Trung Hoa trong khi vẫn dùng những tiềm lực cũ (như phương pháp đấu tranh, phương tiện thiết bị quân sự, lực lượng quân đội… ). Nhưng đến khi người Pháp vào nước ta thì nước ta bị xáo trộn nhiều, các chí sĩ nhiệt thành bế tắc trong lựa chọn con đường cứu nước (bởi vì một lí do cơ bản là chúng ta không thể cứu nước theo con đường và cách thức cũ được nữa). Giữa lúc bế tắc đó, Nguyễn ái Quốc đã lựa chọn con đường đến với đất nước kẻ thù để tìm hiểu họ. Đây là một hành động vĩ đại vì Nguyễn ái Quốc vốn quen với Nho học, lại nhỏ bé trước những bậc cha anh như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…, tìm một con đường đi, trong khi tương lai thì chưa thể hình dung được. Nhưng cần phải chỉ ra cho rõ ràng rằng, Nguyễn ái Quốc ra đi đến đất nước kẻ thù không phải chỉ là việc đi để tìm hiểu họ, biết họ phục vụ cho riêng mình, hay nói là “cứu nước” nhưng đang rất mơ hồ, chung chung, chưa xác định được đường hướng (vì lúc này Người mới hai mươi tuổi). Cái vĩ đại của Nguyễn ái Quốc ở đây là muốn ra đi để đưa cái mới, cái tốt đẹp về cho dân tộc trên cơ sở nền văn hiến và lịch sử văn hóa dân tộc đã hun đúc từ ngàn đời. Nghĩa là phải chọn cái dân tộc làm gốc, tiếp thu những cái tốt đẹp bên ngoài là để làm giàu thêm bản sắc, làm nên những người Việt mới (tâm thức vẫn mãi mãi là tâm thức người Việt) chứ không phải những người Việt khác (khác với truyền thống, quay lưng với truyền thống). Đây là một tư tưởng lớn. Có tìm hiểu được nền văn hóa, văn minh mới, có làm cho người dân nước Việt bấy lâu bị che kín tầm nhìn thấy được khoảng trời khác để tiếp thu, chuyển hóa thành con người mới thì người Việt mới tự giải phóng được cho mình. Dĩ nhiên là nếu tiếp thu mà trở thành con người khác với truyền thống thì chúng ta sẽ gần với kẻ thù, là anh em với kẻ thù, có nghĩa là chúng ta không cần phải giải phóng dân tộc nữa.

Thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh có câu trả lời trên là sau Cách mạng Tháng 8 – 1945, lúc chúng ta đã có Đảng Cộng sản lãnh đạo, chúng ta đã có chính quyền, nhưng tại sao Người vẫn không nói mình là người cộng sản? Ngoài việc để giữ hòa khí với Tàu Tưởng, trong khi Tàu Tưởng có khả năng hợp tác với quân Pháp, lại trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động bất lợi cho cách mạng Việt Nam, thì theo tôi, bởi vì hơn hết, Người hiểu được dân tộc (và hiểu được chính bản thân mình, bản thân là một người ái quốc, đứng trên lập trường chủ nghĩa yêu nước, không trở thành một người của trường phái nào), Người tự hào về truyền thống của dân tộc (trong đó nổi bật là truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết cộng đồng), Người phân biệt được sự khác biệt giữa dân tộc với cái bên ngoài, kể cả với Chủ nghĩa Cộng sản. Chủ nghĩa Cộng sản do Mác – Ăng ghen sáng lập, Lê nin kế thừa và phát huy, dựa trên cơ sở học thuyết thặng dư và lí luận về đấu tranh giai cấp, chỉ áp dụng trước hết cho chính quốc. Mác cũng nói, cách mạng ở các nước thuộc địa chỉ thành công khi đấu tranh giai cấp ở các nước tư bản đã hoàn thành. Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở hiểu dân tộc – hiểu văn hóa, tâm thức dân tộc kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử, khác với phương Tây, nên đã phát biểu một luận điểm hết sức quan trọng đó là các nước bị áp bức, bóc lột cũng có thể tự giải phóng mình khỏi ách thống trị của thực dân và Người đã đưa ra quan điểm: cách mạng ở Việt Nam sẽ tiến hành giải phóng dân tộc kết hợp với giải phóng giai cấp. Phương Tây trên cơ sở coi trọng cá nhân, cá nhân là trung tâm luận, người Việt và á Đông nói chung lại coi trọng cộng đồng, gia tộc, coi trọng nhân cách. Vì coi trọng nhân cách, trọng cộng đồng nên người Việt coi cách mạng cũng là một bộ phận tạo thành nhân cách (hành đạo), tức xét chính trị trong đạo đức, coi đạo đức có vai trò cải tạo thế giới (Phương Tây lại đặt chính trị ngoài đạo đức, chính trị là một hoạt động tổ chức xã hội). Điều này lí giải tại sao ở Việt Nam lại có những bà mẹ như Mẹ Thứ hy sinh 10 người con cho cách mạng mà không nghĩ bất cứ điều gì, lại có hàng vạn người tình nguyện ra chiến trường biết là ra đi khó có ngày trở lại,… làm cho kẻ thù phải kinh ngạc mà thốt lên là không thể hiểu được con người Việt Nam. Đây có thể cũng là nguyên nhân cơ bản để Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm: làm chính trị là thực hành đạo đức, “học chủ nghĩa Mác – Lê nin để sống với nhau có nghĩa có tình” (3), cho nên ở Việt Nam mới có chuyện là giáo dục bằng tấm gương, một tấm gương sáng còn hơn vạn kinh sách. Đó cũng là một trong những lí do Chủ tịch Hồ Chí Minh âm thầm cắt dán trên một ngàn tấm gương “người tốt, việc tốt” giữa lúc mối quan hệ anh em XHCN không đồng thuận.

Từ quan điểm, văn hóa phải luôn tiếp biến với bên ngoài, phải lấy cái dân tộc làm gốc, ta mới lí giải vì sao hai kẻ thù xa lạ với ta là Pháp và Mỹ lại phải chịu đầu hàng một dân tộc nhỏ bé, nền kinh tế yếu kém, lạc hậu, khoa học – kỹ thuật chưa phát triển. Chúng ta chiến thắng hai kẻ thù đế quốc khi chúng ta có Đảng Cộng sản lãnh đạo. Chỉ có Đảng Cộng sản lãnh đạo chúng ta mới thực hành được cách mạng giải phóng dân tộc. Nhưng, Đảng chỉ là vạch ra đường lối, Đảng chỉ chỉ đường (đấy là cái mà trước đây chúng ta chưa có), cái quyết định thắng lợi là tinh thần dân tộc, là tâm thức trong mỗi người con Việt Nam (Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được tự do độc lập – “câu chuyện” chỉ có ở Việt Nam). Đó là cái bất diệt. Mỹ không thể hiểu vì sao một cường quốc đứng đầu thế giới, vũ khí tối tân lại thua trận tại Việt Nam trong khi Mỹ rất hiểu về chế độ Cộng sản chủ nghĩa. Điều này có thể giải thích là do Việt Nam không chỉ đánh Mỹ bằng chế độ Cộng sản mà bằng truyền thống lịch sử hàng ngàn năm. Chủ nghĩa Cộng sản chỉ là cái cư trú, cái mới đến, cái hòa vào tâm thức dân tộc suốt hàng ngàn năm ở Việt Nam, làm tốt đẹp thêm con người Việt Nam. Nếu có thể nói về Chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam thì chỉ có thể nói Chủ nghĩa Cộng sản – Việt Nam mà thôi, nghĩa là vẫn là tâm thức người Việt Nam, giống như ngày nay người Việt Nam có sang Âu, sang Mỹ thì cốt tủy vẫn là người Việt Nam: cách đi đứng, kiểu tư duy, kiểu lựa chọn…

Những lí giải trên giúp ta hiểu được vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại nhận mình là người yêu nước, và suốt đời Người vẫn là một người yêu nước nhiệt thành. Người yêu nước và hiểu dân tộc đến nỗi Người luôn chuyển hóa kinh sách, lý luận thành cách nói hàng ngày của người Việt.(4). Năm 1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước chỉ với hành trang là VĂN HóA, khi trở về lãnh đạo đất nước, người thanh niên năm ấy, với tên gọi Hồ Chí Minh, cũng luôn yêu cầu phải thực hành văn hóa, vì văn hóa. Điều này chứng tỏ một quan điểm quan trọng trong tư tưởng của Người đó là: lấy văn hóa làm gốc, văn hóa là mục đích, là động cơ để thực hành chính trị, chính trị và tổ chức xã hội nói chung là để phục vụ cho văn hóa. Sau này có một người đã hiểu Chủ tịch Hồ Chí Minh và đã viết công trình Văn hóa và đổi mới. Đó là Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Công trình xuất bản vào những năm cuối đời, như một di huấn quan trọng. Cố Thủ tướng viết: “Đổi mới phải bắt nguồn và bắt rễ từ mảnh đất văn hóa, truyền thống văn hóa của dân tộc, tinh hoa văn hóa của thời đại… Từ mảnh đất văn hóa đó, sự nghiệp đổi mới, bao quát mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến chính trị và hệ thống chính trị của nước ta, ngày càng mở rộng và phát triển theo chiều cao và bề sâu”(4). Theo tôi đây là những đóng góp, bổ sung quan trọng cho học thuyết Mác xít vì học thuyết Mác xít chưa nhìn nhận thực đúng vai trò của văn hóa. Đấy cũng là lí do khiến triết gia Pháp Jean Paul Sartre không tán thành chủ nghĩa Mác về quan điểm văn hóa mặc dù ông tán thành quan điểm phát triển.

Nguyễn Mạnh Hà

 

 

Đâu là sự thật trong bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh”?

 

Nhật Minh

 

Mới đây, Phong trào Quốc dân đòi trả tên Sài Gòn lại có chủ trương thực hiện bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh”.

Các bạn tôi xem xong, mọi người đều có chung nhận xét, đó vẫn là những luận điệu cũ rích, tài liệu bị bóp méo phục vụ cho luận điệu xuyên tạc của “các nhà nghiên cứu”. Họ đề nghị tôi xem và cùng bình luận ý kiến với anh em. Tôi lắc đầu, vì không muốn mất thì giờ với cái thứ vô bổ ấy. Với lại tôi không có phận sự gì lên tiếng về bộ phim này mà đó là của những người có trách nhiệm trong các cơ quan hữu quan.

Nhưng anh em nhất định không đồng ý với tôi, gặp bãi phân ngoài đường, người đi đường trông thấy không phải chỉ bịt mũi chạy nhanh qua mà cần phải thò tay vào bốc nó vứt đi cho phong quang sạch sẽ đường đi lối lại. Đừng để những điều bậy bạ đó, nó như những bộ phim Sex đồi trụy làm hại các thế hệ thanh niên mới lớn, hay tò mò. Mỗi công dân hãy tự mình lên tiếng khi gặp điều trái tai gai mắt chứ đâu cần phải đợi đến ai. Vậy thì tôi cứ mạo muội mà có mấy thu nhận sơ sài sau khi rất kiên nhẫn bỏ thời gian để ngồi xem cho hết cái tấn tuồng mà các con rối thi nhau bày trò trong bộ phim nói trên.

Xét một cách toàn diện nhất thì toàn bộ bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” do Phong trào Quốc dân đòi trả tên Sài Gòn chủ trương thực hiện là một sự bịa đặt, vu khống trắng trợn và cố tình bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng một thứ sảo thuật chính trị, “lập lờ đánh lận con đen” trong khi đưa ra các tư liệu. Có câu, nửa sự thật không phải là sự thật.

Dưới đây, tôi sẽ chỉ ra những cái trò “ma cô” đó để các bạn thấy trong những “phát kiến lịch sử vĩ đại” của họ. Thưa các “nhà nghiên cứu” người Việt Nam ở Hải ngoại! “Các ngài” chắc hẳn sẽ “vui lòng” khi được tiếp nhận thông tin nhiều chiều phản hồi, trong đó có tôi một khán giả “hâm mộ” bộ phim này!

Đầu tiên, tôi muốn gửi lời tới nhà điều hành: Trần Quốc Bảo và nhà ráp nối của bộ phim: Chu Luynh. Hai vị (cũng như các vị cố vấn cố véo khác), các ông chưa sạch nước cản trong khi làm khoa học lịch sử. Trình độ của các ông trong khâu xử lý tư liệu chỉ đáng xếp vào hạng một anh học trò loại tồi. Khi phỏng vấn ông Minh Võ – nhà biên khảo – Hoa Kỳ dẫn tên ba người cán bộ là Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì ảnh chân dung Võ Nguyên Giáp đó là tướng Văn Tiến Dũng đấy nhé. Không chỉ một lần, mà đoạn ông Vũ Thư Hiên nói về Cải cách Ruộng đất, dẫn chùm ảnh 4 người: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, các ông vẫn tiếp tục đưa ảnh tướng Văn Tiến Dũng thay vào tên Võ Nguyên Giáp (!).

Tôi có thể dẫn nhanh những chú thích ngớ ngẩn tiếp theo của các ông như miệng các ông thuyết minh Chính phủ Liên hiệp năm 1946, nhưng trên ảnh là năm 1945; Cải cách Ruộng đất ở Việt Nam được thực hiện bắt đầu vào năm 1953 thì các ông gán lên màn hình đó là năm 1951 (?), phỏng vấn nhà văn Trần Mạnh Hảo thì hình ảnh lại là khuôn mặt nhà thơ Hoàng Trần Cương đã bị biến dạng… Một người – một cơ quan làm việc nghiêm túc và có trình độ thực sự không bao giờ lại có những sai sót trong những chi tiết lịch sử phổ thông nhất như vậy, các ông chớ bảo tôi “bới lông tìm vết”. Với những sự kiện đơn giản nhất các ông còn không nhận chân được nói gì tới chuyện giải mã những bí ẩn xung quanh cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh mà đòi tìm ra “sự thật”!

Đoạn trên tôi có dẫn câu: Nửa sự thật không phải là sự thật. Trong đoạn phim về Nhật ký trong tù, các ông chỉ đưa ra bút tích trang đầu tập thơ ghi ngày 29/8/1932 – 10/9/1933 mà không dám đưa trang cuối cùng của tập, cũng bút tích ghi ngày 29/8/1942 – 10/9/1943. Các ông có hiểu những dòng này có ý nghĩa gì không? Hay chỉ là sự bóp méo của các ông?

Đặng Thai Mai trong bài “Đọc lại Ngục trung nhật ký” (1970) đã viết: “Cuốn sổ tay của Bác, hiện còn lưu trữ, có ghi trên bìa 2 con số: 1932 – 1933. Trong thời gian Viện Văn học hiệu đính bản dịch Ngục trung nhật ký (1959 – 1960), chúng tôi đã đề đạt lên Bác câu hỏi về điều này, qua Ban Tuyên giáo, và đã được trả lời: hai con số trên là sai; đúng ra là 1942 – 1943”. (Tư liệu này có thể tìm đọc trong sách “Trên đường học tập và nghiên cứu” của Đặng Thai Mai – nhà xuất bản Văn học năm 1971, hoặc mới đây được in lại trong Đặng Thai Mai toàn tập, tập II, nhà xuất bản Văn học năm 2006).

Để biết được hành trình của tập Nhật ký trong tù, các ông vui lòng tìm cuốn sách của nhà văn Hoàng Quảng Uyên: “Nhật ký trong tù số phận và lịch sử” (khảo cứu – tái bản lần thứ 1, có sửa chữa) – nhà xuất bản Thanh niên 2007. Trong cuốn sách này, phần phụ lục có bài viết của cụ Trần Đắc Thọ: “Những điều ta chưa biết về “Ngục trung nhật ký” cũng như về quá trình dịch thơ “Ngục trung nhật ký” của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Cụ Trần Đắc Thọ đã trực tiếp hỏi chuyện cụ Hồ Đức Thành (năm đó 85 tuổi) nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng, nguyên Chủ nhiệm Biện sự xứ Việt Nam tại Trung Quốc, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa I (1946 – 1960) là người sớm tiếp xúc với tập Nhật ký trong tù từ trước Cách mạng tháng Tám 1945: “Đọc hết tập Ngục trung nhật ký, cụ Thành có hỏi Bác Hồ vì sao ở bìa tập Nhật ký lại ghi: 29/8/1932 đến 10/9/1933. Bác đáp: Mình muốn đánh lạc hướng, ai hiểu thế nào thì hiểu”. (Hoàng Quảng Uyên – sđd, tr 208). Nay có vị nào thắc mắc, xin mời cứ tới 23C phố Tôn Đản – Hoàn Kiếm – Hà Nội để được cụ giải đáp.

Ngoài ra tôi không muốn dẫn thêm những hình ảnh cố tình cắt xén, xuyên tạc khác khi xem bộ phim này.

Ông Lê Hữu Mục lảm nhảm những điều về Nhật ký trong tù, đã làm tôi nhớ đến nhà nghiên cứu Phan Ngọc. Trong bài Câu chuyện tác giả Ngục trung nhật ký, giáo sư Phan Ngọc viết:

…Vào cuối tháng X-1992, Viện Văn học cho tôi xem bài viết của Lê Hữu Mục Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục trung nhật ký. Mục đích của đời tôi là chỉ tìm phương pháp làm việc có lợi cho nhân dân nước tôi. Tôi không xét động cơ. Nhân bài này, tôi xin nêu lên những lỗi về hình thức (vice de forme) mà người cầm bút nào cũng phải đề phòng. Chỉ cần phạm một lỗi như thế là toàn bộ lập luận bị vứt bỏ. Ông Lê Hữu Mục trong bài viết của mình phạm đến tám lỗi về hình thức đủ cho pháp luật tư sản kết ông về tội vu cáo…”.

Trong bài viết của mình, tôi không dẫn ra toàn bộ tám lỗi của ông Lê Hữu Mục (bạn đọc quan tâm đến vấn đề này có thể tìm thấy dễ dàng trong cuốn Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù – nhà xuất bản Giáo dục 1993, bài Câu chuyện tác giả Ngục trung nhật ký từ tr 619 đến tr 630). Với sự nghiêm túc của một nhà khoa học, với tinh thần tranh luận giữa hai vị giáo sư giảng dạy văn học, giáo sư Phan Ngọc vừa chỉ dẫn vừa khuyên răn ông Lê Hữu Mục:

“…Ông không thể trách tôi thiếu nghiêm chỉnh. Tôi chỉ cần dẫn một người là ông thấy ngay mình phạm cái điều mà Ăngđơrê Git (André Gide) nói: Ignorance qui s’ignore invite à de grandes affirmations (Sự ngu dốt không tự biết mình đẩy người ta đến những sự liều lĩnh).

 …Tôi biết ông muốn phủ nhận Hồ Chí Minh là tác giả Ngục trung nhật ký. Nhưng cách làm của ông là sai lầm. Tôi xin bày cho ông một mẹo. Ông hãy tìm những bài chắc chắn là thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh, thí dụ những bài làm ở Việt Bắc, thơ tặng các cụ Võ Liêm Sơn, Bùi Bằng Đoàn v.v… rồi chứng minh đó là thơ dở. Sau đó mới chứng minh Ngục trung nhật ký là của người khác, bởi vì nó rất hay, như ông đã thừa nhận. Làm thế “kín võ” lại thỏa mãn được cái tâm địa của ông. Chắc chắn ông biết mẹo này, nhưng dù có ba đầu sáu tay, ông cũng không dám làm. Bởi vì ông ngu dại gì chứng minh những bài thơ ấy là dở. Kết quả ông phạm lỗi thứ năm về hình thức: dựa trên cái võ đoán để chứng minh cái võ đoán.

… Phật dạy: “Buông dao xuống có thể thành Phật”. Đó không phải lời nói suông. Thánh Phao-lồ đã từng nổi tiếng là người sát hại người Thiên chúa giáo. Nhưng ông đã buông dao để trở thành một trong những người có công nhất với Thiên chúa giáo. Tôi không dám dạy ai. Tôi lo dạy tôi còn chưa kịp dám đâu nói chuyện dạy đời. Quyển sách ông Lê Hữu Mục viết ra thực tế là hành động giơ dao. Tôi đang chờ đợi ông sẽ làm gì với con dao ấy? Nên buông dao thì hơn”.

Sau bài viết này của giáo sư Phan Ngọc, ông Lê Hữu Mục như bị đánh đúng tử huyệt, một thời gian dài nhiều người tưởng ông đã chết. Nay ông thấy còn điều gì chưa tâm phục khẩu phục xin mời ông có ý kiến lại.

Đây tôi muốn nhắc tới ông Vũ Ngự Chiêu, người được các nhà làm phim gọi là Tiến sĩ Sử học, nhà biên khảo, mà sao ông ăn nói càn rỡ thế. Sau những luận điệu bịa đặt về chuyện Hồ Chí Minh có vợ, ông nói thêm một câu, dù các cộng sự của ông trong bộ phim có cố tìm cách cũng không xóa được: Ông nói Nguyễn Thị Minh Khai là vợ Võ Nguyên Giáp. Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong. Còn vợ Võ Nguyên Giáp là bà Nguyễn Thị Quang Thái, em gái bà Minh Khai. Chẳng lẽ điều này phải đợi đến những đứa trẻ Việt Nam dạy lại cho ông sao?

Vẫn ông Vũ Ngự Chiêu nói, Hồ Chí Minh lấy nguyên văn trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ làm câu đầu tiên trong Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Để ông được “sáng mắt sáng lòng”, tôi xin dẫn cho ông tìm đọc tài liệu này nhé:

Tạp chí Xưa và Nay số 81B, tháng 11 năm 2000, trang 3 và trang 22, có bài của nhà văn người Hoa Kỳ, bà Lady Borton “Hồ Chí Minh & Tuyên ngôn Độc lập Mỹ”. Là người giỏi tiếng Việt Nam, nữ văn sĩ Lady Borton viết:

“Các nhà sử học Mỹ luôn nói (có phần nào không đúng) rằng Hồ Chí Minh đã mở đầu bản “Tuyên ngôn Độc lập” của Việt Nam bằng việc trích dẫn “Tuyên ngôn” của Mỹ. Cụ Hồ có kiểm tra lại trích dẫn của mình không? Nếu có thì thế nào nhỉ? Trả lời được câu hỏi ấy, chúng ta có thể đoán được chính xác rằng liệu Cụ Hồ có ngẫu nhiên hoặc cố ý sửa đổi trích dẫn từ bản Tuyên ngôn của Mỹ…

Bản Tuyên ngôn của Mỹ viết: “… Chúng tôi coi đây là chân lý hiển nhiên, rằng mọi đàn ông (tôi gạch dưới) sinh ra đều bình đẳng”.

“… We hold these truths to be self-evident, that all men (emphasis mine) are created equal…”

Khi Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ viết năm 1775, “mọi người đàn ông” (all men) là “đàn ông da trắng có sở hữu”, mà “sở hữu” lúc đó thường là nô lệ da đen. Đàn ông da đen có quyền được đi bầu 95 năm sau đó; phụ nữ Mỹ được đi bầu 50 năm sau nữa.

Khác với Tuyên ngôn của Mỹ, “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh bắt đầu bằng câu:

Tất cả mọi người (tôi gạch dưới) đều sinh ra có quyền bình đẳng…”

All people (emphasis mine) are created equal…”

… “Tuyên ngôn Độc lập” của Cụ Hồ bao hàm ngôn ngữ tổng hợp như “dân” (people, common people); “nhân dân” (citizens) và “dân tộc” (nation, the people) cũng là từ chính thức để chỉ bất kỳ dân tộc nào trong năm mươi tư dân tộc của Việt Nam. Từ tiếng Việt để chỉ “đàn ông” (men) không hề xuất hiện ở đây.

… Hồ Chí Minh rất giỏi tiếng Anh: cụ phân biệt được “đàn ông” (men) với “mọi người” (people). Với việc chỉ sửa một từ trong bản dịch của mình, Cụ Hồ đã khôn khéo nhưng cuối cùng cũng thông báo được cho nhân dân của Cụ và thế giới một cuộc cách mạng thứ hai: đó là Hồ Chí Minh đã tuyên bố độc lập cho phụ nữ Việt Nam”.

Tôi e bút danh của ông Vũ Ngự Chiêu là Chính Đạo thì nên đổi thành Tà Đạo sẽ đúng hơn.

Ông Vũ Ngự Chiêu vừa lải nhải ở phần trên rằng: “Hồ Chí Minh muốn giành quyền lực bằng mọi giá” thì phần dưới ông Minh Võ – nhà biên khảo – Hoa Kỳ lại tát cho ông một cái vào mặt: “Chính ông Bảo Đại đã thuật chuyện ông Hồ Chí Minh đến thú thực với ông Bảo Đại rằng, người ta coi tôi quá đỏ, cho nên tôi điều khiển Chính phủ không nổi. Bây giờ tôi đề nghị ngài đứng ra điều khiển đất nước thay tôi”. Chỉ một câu trên của ông Minh Võ, tôi không cần phải dẫn thêm ra đây chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh cử cụ Hoàng Minh Giám đi tìm cụ Trần Trọng Kim để mời ra làm Thủ tướng. Đáng tiếc cụ Lệ Thần quá thận trọng, đã đi Singapore từ trước (Hồi ký cụ Hoàng Minh Giám).

Ông Trần Gia Phụng – nhà nghiên cứu sử – Canađa được các nhà làm phim “ban” cho cái quyền uy là “người mở đầu trả lời phỏng vấn về diễn biến cuộc tắm máu kinh hoàng tại miền Bắc”? Lúc đó ông Trần Gia Phụng (sinh năm 1942 tại Duy Xuyên, Quảng Nam) hãy còn mặc quần thủng đít mà lại nói chuyện được về “diễn biến” của cuộc Cải cách Ruộng đất như người trong cuộc vậy?

Ông Nguyễn Ngọc Bích – giáo sư – đã dẫn ra “năm 1951 Hồ Chí Minh nói trước Đại hội Đảng Lao động Việt Nam là không có tư tưởng, nay có Minh triết Hồ Chí Minh”. Là nhà sử học, hẳn ông biết rõ, sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ đề cao mình. Người luôn sống giản dị như một lão nông tri điền, như một bậc túc nho nơi thôn dã. Chỉ sau khi Người mất trong nhiều năm về sau, các nhà nghiên cứu mới phát lộ được những di sản Hồ Chí Minh để lại nằm sâu thành tầng, thành vỉa. Và những người tiên phong nhìn ra tư tưởng Hồ Chí Minh đó là hai nhà văn hóa Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Phạm Văn Đồng đánh giá “Hồ Chí Minh là tinh hoa nhân loại”. Còn Võ Nguyên Giáp nhận định “Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi”.

Ông Nguyễn Ngọc Bích “sợ rằng dân tộc mình sẽ thành dân tộc cuội”, thì tôi mạn phép ông, nếu Kiều bào ta ở Hải ngoại ai cũng như ông, xin lỗi những người chung giọt máu đào, dù có nói nhịu thành “tồng pào” thì vẫn chung một bọc trứng mẹ Âu Cơ, chắc thế giới nghĩ dân tộc Việt Nam là đại bợm.

Ông Trương Nhân Tuấn (tên thật Ngô Quốc Dũng, sinh năm 1956 tại Bạc-Liêu) – nhà biên khảo biên giới Việt – Trung – dẫn lời “ông Hoàng Tranh qua một bài phỏng vấn thì ông có nói rằng trước khi ông Hồ Chí Minh mất thì có ước muốn nghe một bài hát Trung Quốc và một cô y tá Trung Quốc đã hát bài hát đó cho Hồ Chí Minh nghe. Nghe xong thì ông Hồ Chí Minh thiếp đi và không bao giờ tỉnh lại nữa”.

Tôi cảm ơn những điệu nhạc Trung Hoa đệm cho phần trả lời phỏng vấn của ông Trương Nhân Tuấn và tôi cũng xin cảm ơn “phát hiện” của ông. Ông hẳn hiểu câu ngồi lê đôi mach, kiếm chuyện làm quà chứ? Đã là nhà biên khảo biên giới thì ông cứ nói chuyện núi non, sông suối, việc gì ông phải “đớp” vào chuyện Cụ Hồ làm chi. Các cụ người Việt Nam chúng ta xưa vẫn dạy, “biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Ông mượn mồm ông Hoàng Tranh (hay ông để mồm mình làm cái loa cho ông Hoàng Tranh cũng được), ông lục tìm lại tất cả các tư liệu xem, những ngày Hồ Chí Minh ốm nặng, chăm sóc Người có ai ngoài nhân dân Việt Nam hay không? Cô y tá Trung Quốc hát bài hát Trung Hoa ấy mọc ở khe nẻ ra hay các ông giàu trí tưởng tượng?

Những ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh sắp lâm chung, Viện Quân y 108 đã cử một tổ cán bộ đặc biệt chăm sóc Bác gồm có: Bác sĩ Nguyễn Thế Khánh – Đại tá, Viện trưởng Viện Quân y 108; bác sĩ Lê Đình Mẫn – người được mang trọng trách sang Liên Xô học khoa ướp thi hài Bác (mà vị bác sĩ này không hề hay biết được giao nhiệm vụ này)… Về phía nữ có ba người là bác sĩ Hàn Thị Nguyệt – Chủ nhiệm khoa Dược Viện Quân y 108; cô Ngô Thị Oanh – y tá Viện Quân y 108; cô Trần Thị Qúy – y tá Viện Quân y 108.

Có dịp về Việt Nam xin mời ông đến Bệnh viện tư nhân Tràng An trên đường Tôn Đức Thắng – Đống Đa – Hà Nội để nhìn tận mắt cô y tá Nguyễn Thị Oanh, sinh năm 1949, người Việt “trăm phần trăm”, quê ở xã Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc là người đã hát khúc dân ca quan họ Bắc Ninh – cũng Việt Nam “trăm phần trăm” – mang tên “Người ơi, người ở đừng về” ru Bác Hồ vào giấc ngủ vĩnh hằng nhé.

Soi sáng những vùng tối lịch sử, thấu đáo những biến cố của cuộc chiến tranh ở Việt Nam vừa qua, không thể không tìm hiểu sự thực về con người Hồ Chí Minh. Đánh giá chính xác con người Hồ Chí Minh chính là góp phần nhận định trước những diễn biến của thực tế xã hội Việt Nam hôm nay. Rất tiếc Hồ Chí Minh không nằm trong số những nhân vật lịch sử mà toàn bộ cuộc sống và con người là trang sách luôn mở rộng cho bất kỳ con người nào mà ai muốn tìm đọc. Cuộc sống và con người của ông luôn lẩn khuất sau những màn che với những mờ ảo của một thứ huyền thoại”. Vâng, những lời bình trên đây của bộ phim, nửa trước thật cảm động, nửa sau đúng là lập lờ. Đúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người huyền thoại, vì Người vĩ đại đến bình thường nhất mà ít người hiểu nổi. Người như con rồng vàng ẩn hiện trong mây. Vì vậy đến hôm nay các nhà làm bộ phim này mới có đất mà diễn tuồng chứ.

Tôi muốn gửi lời chào tới ông Bùi Tín, “văn kỳ thanh” đã lâu, nhờ bộ phim này mới được “kiến kỳ hình” ông. Ông Bùi Tín vốn là Đại tá quân đội, Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, sang Pháp dự Lễ kỷ niệm thành lập báo Nhân đạo của Đảng Cộng sản Pháp, rồi ở luôn bên đó không về. Với tội đào nhiệm ấy, Nhà nước Việt Nam dư sức truy tố và đề nghị nước bạn cho dẫn độ ông về để lập tòa án. Nhưng với chính sách khoan hồng của Nhà nước, mong muốn của nhân dân Việt Nam chờ đợi ông ngày đó không ai “đánh kẻ chạy lại”. Đáng tiếc rằng ông vẫn ngoan cố.

Ông hẳn đã được biết trong kháng chiến chống Pháp, Tòa án Quân sự đã mở tại Liên khu III khoảng năm 1950 – 1951 để truy tố cố vấn tối cao Vĩnh Thụy vì tội đào nhiệm ở Hồng Kông chứ? Kết quả là ông Vĩnh Thụy bị kết án tử hình vắng mặt. Còn trước đó, hẳn ông vẫn nhớ, trong phiên họp Chính phủ bàn về chuyện ông Vĩnh Thụy đào nhiệm, khi biểu quyết giơ tay, chỉ riêng mình cụ Bùi Bằng Đoàn – Chủ tịch Uỷ ban Thường trực Quốc hội là không giơ tay. Cụ nói tội ông Vĩnh Thụy đáng bị truy tố, nhưng cụ không nỡ. Quốc hội, Chính phủ ai cũng cảm động trước cốt cách của cụ, vì họ biết cụ đã từng làm Thượng thư Bộ Hình trong chính quyền Bảo Đại.

Cốt cách của người cha như vậy, sao ông chẳng học được chút nào? Lẽ ra thời kỳ đào nhiệm bên Pháp ông nên im lặng mà sống cho nốt quãng đời còn lại, rồi gửi nắm xương tàn ở bên đó cũng được. Đằng này ông lại bịa ra bao chuyện thật giả lẫn lộn làm hậu sinh không biết đâu mà lần. Nếu không im lặng được, ông không nên dùng tên cũ nữa, tín mà bội, hoặc ông dùng ngay tên mình mà đưa vào ruột một liều thạch tín, chắc chắn hiệu quả cao nhất.

Còn ông Vũ Thư Hiên, con cụ Vũ Đình Huỳnh – Bí thư duy nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông hẳn không quên cha mình vẫn được các đồng chí gọi bằng cái tên thân mật: Vũ Đàng Hoàng. Là con, nối chí cha, lẽ ra ông không nên làm cụ phải xấu mặt dưới suối vàng chứ!

Người xưa vẫn dạy: “Đêm về khuya biết sao nào sáng nhất/ Người về già biết ai thật hiền nhân”. Về già mọi điều thiện ác đều cứ hiện hết ra khuôn mặt ấy mà. Việc làm cộng với “trông mặt mà bắt hình dong” đủ để thấy các vị Bùi Diệm, Bùi Tín, Nguyễn Minh Cần, Vũ Thư Hiên… đã không chịu cảnh “lão giả an chi” mà vẫn nuôi trong lòng tâm địa đen tối của mối hận thù. Đáng tiếc thay, ở vào tuổi 80 – 90 các vị cứ thung dung an nhàn không muốn, lại muốn “ôm rơm rặm bụng”. Việc gì mà khi trả lời phỏng vấn các vị cứ phải phùng mang trợn má, cố gom nốt chút sức tàn lực kiệt ấy để phều phào vậy. Hãy để dành hơi mà sống nốt quãng đời còn lại, rồi khi nhắm mắt xuôi tay, có muốn về làm phân bón ruộng thì đất Việt Nam vẫn sẵn sàng nhận.

Tôi xin chịu tội bất kính vì là bậc hậu sinh mà dám múa bút trước mặt các ông, nhưng quả thật, dân gian Việt Nam có câu: “Làm sao bì phấn với vôi”. Còn câu tám chữ tôi mời các cụ luận ra, tôi không dám làm ô uế trang giấy trắng này, các cụ thứ lỗi…

Ông Nguyễn Ngọc Bích – giáo sư – Hoa Kỳ ơi, cám ơn ông đã có lời phát biểu kết thúc bộ phim: “Trả lại cho Ce’za những gì của Ce’za. Trả lại cho Hồ Chí Minh những gì đích thực thuộc về Hồ Chí Minh. Cuối cùng trả lại sự thật đích thực cho lịch sử”. Tôi xin mạn phép gửi tặng lại ông và đoàn làm phim đã công phu dựng lên bộ phim “Sự thật về Hồ Chí Minh” một câu của đại văn hào Pháp J.J. Rousseau viết trong sách Khế ước xã hội ra đời từ năm 1762 nhé: “…Những tâm hồn thấp kém không thể hiểu thấu các bậc vĩ nhân, cũng như kẻ nô lệ nhe răng cười khi nghe hai tiếng tự do”.

Đây tôi lại xin có vài lời nhắn gửi tới ba bạn trẻ có lời phát biểu trong bộ phim. Tôi tưởng rằng, như các bạn nói, ở Việt Nam các bạn bị tuyên truyền một phía, nghe bằng một tai, khi ra nước ngoài các bạn được nghe nhiều chiều thông tin, hẳn phải tiến bộ hơn chúng tôi trong nước chứ? Ai ngờ ở ra nước ngoài lại thêm cái bệnh đui, chột, nghe mấy kẻ lòng đầy hận thù để tự bôi đen trái tim mình. Đất nước thống nhất đã 34 năm rồi. Vết thương của dân tộc đã liền sẹo. Những người một thời đã từng cầm súng ở hai chiến tuyến nay cũng bắt tay nhau, ôm lấy nhau cùng chung tay xây dựng Tổ quốc Việt Nam hòa bình, phát triển. Là những người có học thức, là lớp thanh niên, các bạn phải tiên phong trong việc xóa bỏ mọi quá khứ đau thương chứ. Vết thương đau của dân tộc ấy, những người con chung của mẹ Việt Nam không ai muốn. Đó là chuyện dĩ vãng của lịch sử một thời. Tôi không muốn biết tên các bạn là gì, khuôn mặt các bạn ra sao, vì khi xem đến đoạn các bạn đại diện cho tuổi trẻ phát biểu, tôi đã nhắm mắt lại. Tôi nhìn các bạn từ trái tim. Các bạn cũng hãy thử nhắm mắt lại, nhìn mọi việc xảy ra xung quanh bạn bằng trái tim mà xem. Và khi nhìn bằng trái tim, các bạn thử nhẩm đọc câu Kiều của Nguyễn Du sau: “Thiện căn ở tại lòng ta/ Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”.

Lời cuối cùng tôi muốn nhắn gửi tới tất cả bạn đọc, các nhà làm phim bóp méo sự thật. Mở đầu bộ phim các ông đưa ông Tổng Bush lên nói tới tội ác của Cộng sản giết chết 100 triệu người trên thế giới. Vậy tội ác của người Mỹ gây ra trên đất nước Việt Nam này trong thời gian ném bom miền Bắc, tàn sát miền Nam ai có trách nhiệm? Các vị hẳn biết rõ hai sự kiện ngày 6/9/1945 và ngày 9/8/1945 Mỹ thả hai quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Nhật Bản chứ? Di chứng tội ác đó, 64 năm đã trôi qua, vẫn còn đấy. Nhưng chuyện nước Nhật cũng là quá xa xôi, các nhà làm phim và các bạn hãy nhìn bức ảnh dưới đây được tôi chụp tại Trung tâm Phục hồi chức năng trẻ em khuyết tật Thụy An – Ba Vì – Hà Nội: Bà cụ này đang đẩy xe cho đứa cháu nội phải hứng chịu hậu quả chất độc màu da cam (Dioxin). Mầm xanh hy vọng của bà, giờ héo rũ mà chưa biết sẽ vuột khỏi tay bà khi nào. Người có lương tri hẳn phải suy nghĩ : Những đứa trẻ này có tội tình gì ? Còn bao nhiêu và biết đến bao giờ hậu quả đau thương này mới chấm dứt trên đất nước Việt Nam chúng ta?

(bài của Nhật Minh gửi blog: http://tamtay.vn/home/kieumaison)

 

Sự thật: Người là Hồ Chí Minh-Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam 21:16′ 20/9/2009

 

 

(TCTG)- Đối lập hoàn toàn với đĩa DVD: Sự thật về Hồ chí Minh do linh mục Nguyễn Hữu Lễ và Phong trào “Quốc dân đòi trả tên cho Sài Gòn” thực hiện tháng 7/2009, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh vẫn hiển hiện, ngời sáng trong lòng nhân dân Việt Nam và bè bạn quốc tế.

Chỉ có một sự thật, và sự thật đó chính là Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam như Nghị quyết 24C/18.65 phiên họp Đại hội đồng lần thứ 24 (20/10 – 20/11/1987) của UNESCO đã tôn vinh nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người. Và 40 năm, cũng vẫn chỉ có một sự thật, đó là Hồ Chí Minh – Một tượng đài cách mạng như nhận định, đánh giá của những học giả nghiên cúư về Hồ Chí Minh, viết về Hồ Chí Minh và điều đó cũng đúng như bài viết của Hellmut Kapfenberger đăng trên chuyên mục Lịch sử thế giới, báo Neues Deutschland (Nước Đức mới), số ra ngày 5/9/2009.

1. Sau 40 năm đi xa (1969-2009), cuộc đời hoạt động cách mạng đầy thăng trầm nhưng rất đỗi vinh quang và những trước tác của Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam vẫn hiển hiện trong trái tim, khối óc những người dân đất Việt, trong lòng nhân dân các dân tộc yêu chuộng hoà bình, tự do, công lý. Có thể nói rằng: “Những người trên thế giới này, ngay trong một nước cũng như từ nước này sang nước khác, có bao nhiêu điều không giống nhau, thậm chí trái ngược nhau về cảnh ngộ sống, về trình độ hiểu biết, về xu hướng chính trị, xã hội hay tôn giáo; nhưng miễn là không phải bọn áp bức bóc lột, bọn xâm lược và tay sai của chúng, thì mỗi người đều có thể thấy ở cuộc chiến đấu và cuộc sống của Hồ Chủ tịch, những điều mà mình hàng ngày mong mỏi, những giá trị tinh thần mà mình thiết tha, những mục tiêu mà mình khao khát muốn vươn tới[1].

Khác với những nguồn sử liệu, những đoạn phim tư liệu được linh mục Nguyễn Hữu Lễ cắt ghép, sử dụng một cách khiên cưỡng, những lời trả lời phỏng vấn có chủ đích hận thù của những thành phần chống cộng, của Bùi Tín, Trần Ngọc Thành, của Dương Thu Hương, Minh Võ, Trần Gia Phụng,.v.v.nhằm xuyên tạc, bôi nhọ những sự kiện lịch sử liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các nguồn tư liệu được công bố rộng rãi trong Tiểu sử Hồ Chí Minh, xuất bản 1960; Hồ Chí Minh Tiểu sử, xuất bản 1970; Hồ Chí Minh Tiểu sử, xuất bản 2006, Hồ Chí Minh Tiểu sử, xuất bản 2008, đặc biệt là cuốn Hồ Chí Minh một cuộc đời của Williams.J.Duke, Hồ của Davit Halberstam,v,v..cùng những nhận xét, đánh giá của các nguyên thủ quốc gia, những vị chính khách, các nhà nghiên cứu quốc tế về Hồ Chí Minh, chúng ta hiểu sâu sắc hơn về thiên thần thoại Hồ Chí Minh. Vì vậy, dù có bóp méo, xuyên tạc sự thật hay phủ nhận công lao, thì Hồ Chí Minh vẫn là người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do và hạnh phúc của nhân dân Việt Nam và nhân dân các dân tộc bị áp bức, nhằm thực hiện một sự giải phóng hoàn toàn. Đúng như tiến sĩ M.At-mét (Modagat Ahmet), Giám đốc UNESCO khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã khẳng định Hồ Chí Minh là một trong “ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này[2].

2. Từ các nguồn tư liệu ngày càng được bổ sung, thẩm định một cách chính xác, có thể khẳng định rằng: Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, có nguồn gốc nông dân. Cha của Người sau khi đỗ Phó bảng đã bị thúc ép nhiều lần, mới ra làm quan. Song với tinh thần yêu nước, không ưa xu nịnh, thường chống đối lại bọn quan trên và thực dân Pháp, vì vậy sau một thời gian làm quan, ông bị chúng cách chức và thải hồi. Gia đình, quê hương và những truyền thống tốt đẹp trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc đã góp phần hình thành nhân cách cao đẹp, góp phần hình thành tư tưởng của Người.

Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất, nhân dân đói khổ lầm than, được nuôi dưỡng bởi những truyền thống tốt đẹp của một đất nước có hàng ngàn năm văn hiến, Hồ Chí Minh rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước. Đến nước Pháp, Hồ Chí Minh khi đó là Nguyễn Tất thành từng viết thư gửi Tổng thống Pháp xin học ở trường Thuộc địa, với mục đích học một nghề chuyên môn, giống như anh từng xi học ở trường Kỹ nghệ thực hành Sài gòn trước đó. Quyết định xin học, nội dung được viết trong lá đơn xin học ngày 15/9/1911 cũng chính là một cách để Người “muốn làm quen với nền văn minh Pháp”, muốn “xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng tôi”[3]. Từ khát vọng đó, có thể thấy: quyết định xin học đó hoàn toàn phù hợp, nhất quán với tư tưởng của Người. Và như vậy, dù được viết theo khuôn mẫu của một lá đơn xin học, dù lời lẽ nhã nhặn, khiêm nhường, thì hàm chứa trong đó, và lớn lao hơn cả vẫn là dụng ý của Người: mong muốn đóng góp sức mình cho đồng bào tôi và “đồng thời giúp cho họ hưởng thụ được những lợi ích của học thức”.

Hồ Chí Minh là một người yêu nước, nhưng đã sớm trở thành một người cộng sản. Trong hành trình vạn dặm, bôn ba tìm đường giải phóng dân tộc và nhân loại cần lao, Người đã thấu hiểu, tìm kiếm và đoàn kết những người bị áp bức. Trong trái tim Người có “lòng nhân ái cao cả” của Đức Chúa Giêsu, có tinh thần cao cả Tự do, Bình đẳng, Bác ái của Đại cách mạng Tư sản Pháp 1789, và ngời sáng phẩm chất đạo đức cách mạng cần kiêm liêm chính, chí công vô tư, mình vì mọi người của những người cộng sản. Để đạt được khát vọng của cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã sử dụng báo chí, các phương tiện truyền thông, các diễn đàn quốc tế để thực hiện mục đích đấu tranh của mình. Đầu tiên là các bài báo đăng trên báo Nhân đạo, Đời sống công nhân, trên Tạp chí Thư tín quốc tế, Tạp chí Cộng sản, trên báo Người cùng khổ,v.v.., là thay mặt Hội những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, ký tên Nguyễn Ái Quốc vào bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi đến Hội nghị Vecxây, là viết tác phẩm lớn như Bản án chế độ thực dân Pháp tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp. Ban đầu vì tiếng Pháp chưa thành thạo, Người nhờ luật sư Phan Văn Trường viết. Sau đó, Người trực tiếp viết bằng tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Nga,v.v…

Tiếp đó, cùng với nhiều bài báo khác, những bài bài phát biểu của Người tại Đại hội Tua, tại Hội nghị Quốc tế nông dân, Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Đại hội quốc tế cộng sản Thanh niên, Đại hội III Quốc tế công hội đỏ, v.v.. Người kêu gọi nhân dân ở các thuộc địa đoàn kết lại và đoàn kết với giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở chính quốc, đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng. Với mục tiêu đấu tranh đòi phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột, giải phóng triệt để cho giai cấp vô sản và nhân dân lao động bị áp bức trên toàn thế giới, xây dựng một xã hội mới “dân chủ ngàn lần hơn dân chủ tư sản”, Hồ Chí Minh đã trở thành người khởi xướng phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân.

Cũng trong hành trình hoạt động cách mạng bí mật giữa vòng vây của kẻ thù, Hồ Chí Minh từng bị bắt, bị giam cầm trong nhà ngục ở Hồng Kông (1931-1933), bị giam trong nhà giam của Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây, Trung Quốc (1942-1943). Hai lần bị giam cầm, gắn với hai câu truyện truyền kỳ về Người. Lần thứ nhất bị bắt, trải dài gần 20 tháng (6/1931-1/1933), tên tuổi của Hồ Chí Minh khi đó là Tống Văn Sơ gắn liền với những thông tin thời sự của Vụ án Hồng Kông nổi tiếng trong đời sống chính trị Hồng Kông những năm 30 của thế kỷ trước, gắn với sự giúp đỡ tận tình của gia đình luật sư Lôdơbi, luật sư Jen Kin, luật sư Denis Noel Pritt và Stafford Cripps, v.v..Lần thứ hai bị bắt ở Quảng Tây, trong thời gian khoảng hơn 13 tháng (29/8/1942- 10/9/1943), Người để lại một tác phẩm thơ nổi tiếng, đó là Ngục Trung Nhật ký. Hành trình của cuốn Nhật ký cũng gian truân như cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Song những điều Người viết về địa danh: Túc Vinh, Long Tuyền, Điền Đông, Nam Ninh; hoặc Quảng Tây đi khắp mười ba huyện; về những sự kiện: tin W. Willkie đại biểu Mỹ đến Trùng Khánh, hai bài thơ gửi Nêru, Việt Nam có bạo động,v..v..đều diễn ra trong hai năm 1942-1943. Đặc biệt, những nhân vật: Nêru, Dương Đào, ông Quách, Trung tướng Lương Hoa Thịnh, Thiếu tướng Hầu Chí Minh,v.v..trong Ngục Trung Nhật ký đều gắn liền với Quảng Tây, với Trung Quốc chứ không phải Hồng Kông như Lê Hữu Mục cố tình lờ đi, cố tình xuyên tạc.

Vì vậy, sau khi sáng lập Đảng Cộng sản – Đảng của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam, đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán, sáng lập mặt trận dân tộc thống nhất, sáng lập lực lượng vũ trang cách mạng, đồng thời là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn đoàn kết, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giành thắng lợi trong cách mạng tháng Tám 1945, lập ra nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận một người nô lệ trở thành người chủ của một quốc gia độc lập.

Tuy nhiên, khi thực dân Pháp và sau đó là đế quốc Mỹ với dã tâm xâm lược, đã không từ mưu mô, thủ đoạn nhằm thôn tính Việt Nam, biến Việt Nam trở thành thuộc địa, biến người dân Việt Nam trở lại thân phận những người bị áp bức, với lòng yêu chuộng hoà bình, khát khao tự do, độc lập và thống nhất, không muốn chiến tranh, không muốn đầu rơi máu chảy, Hồ Chí Minh đã từng nhân nhượng để cứu vãn hoà bình, đẩy lùi chiến tranh. Song khi kẻ thù đã có những hành động vượt quá giới hạn cho phép, thì Hồ Chí Minh – Người bắt nhịp bài ca Kết đoàn, bài ca đồng lòng, đồng sức, đồng tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam với tinh thần và quyết tâm “nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” đã buộc phải ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946). Sau 9 năm gian lao kháng chiến và kiến quốc (1946-1954); sau khi thực hiện Cải cách ruộng đất (dù cũng còn những sai lầm tả khuynh trong quá trình tổ chức thực hiện), song nhiệm vụ dân chủ và khẩu hiệu “người cày có ruộng” đã được giải quyết, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.Tiếp đó, khi đế quốc Mỹ can thiệp sâu vào miền Nam, leo thang đánh phá miền Bắc XHCN, với tinh thần và quyết tâm Không có gì quý hơn độc lập, tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước (17/7/1966). Từng bước đánh bại Chiến lược chiến tranh đơn phương, Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Việt Nam hoá chiến tranh, từ Đồng khởi đến Tổng tấn công Mậu Thân 1968, tiếp đó là Điện Biên Phủ trên không 12 ngày đêm 1972 và cuối cùng là Tổng tấn công mùa xuân 1975, cuộc chiến tranh kéo dài gần 30 năm của nhân dân Việt Nam đã thắng lợi.. Miền Nam đã được giải phóng, đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và đi lên CNXH, đang hội nhập cùng bạn bè quốc tế.

Đồng hành cùng dân tộc, lãnh đạo nhân dân tiến hành hai cuộc trường chinh trường kỳ gian khổ, đầy mất mát, hy sinh chống thực dân Pháp (1946-1954) và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng thời xây dựng CNXH ở miền Bắc (1954-1969), cuối cùng cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam đã thắng lợi. Những thành công đó gắn liền với đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Người lãnh đạo, góp phần to lớn vào sự nghiệp xoá bỏ ách thống trị của chủ nghiã thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới trên hành tinh của chúng ta. Hồ Chí Minh là Người đã dành cả cuộc đời mình, gắn bó chặt chẽ với lý tưởng cao đẹp: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Như vậy, Hồ Chí Minh không phải là tội đồ, gây ra bao đau thương mất mát cho nhân dân Việt Nam như bộ phim từng bóp méo, mà Người là vị lãnh tụ của dân tộc Việt Nam, lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì sự nghiệp thống nhất nước nhà, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến bộ.

3. Đã có rất nhiều những lời ngợi ca, song hàm chứa trong những lời ngợi ca đó, chính là sự khẳng định: Dường như tất cả những gì tốt đẹp của dân tộc trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đều hội tụ nơi Hồ Chí Minh, nơi tinh hoa của dân tộc được kết hợp với chủ nghĩa Mác – Lênin, đỉnh cao của tư tưởng loài người trong thời đại mới. Cuộc đời Hồ Chí Minh thực sự là một tấm gương đạo đức và nhân cách thanh cao của người chiến sĩ cách mạng, hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân. Không chỉ chiến thắng mọi kẻ thù, chiến thắng mọi gian truân, khổ ải, Hồ Chí Minh còn chiến thắng cả sự thinh vắng quanh mình. Con người “vì nước quên thân, vì dân phục vụ” dân đã không có một gia đình riêng, “gia đình của Người là Nhân dân, là Đảng và Tổ quốc[4]. Vì vậy, “Người được yêu mến, khâm phục và kính trọng trên toàn thế giới”[5], bởi vì “tuy thuộc nhân dân Việt Nam, Người vẫn thuộc vào gia tài của nhân loại, cái gia tài của mọi dân tộc yêu tự do, giải phóng đã phải tiến hành đấu tranh chống lại ách thực dân hay đế quốc[6].

Cuộc đời Hồ Chí Minh và đức độ của Người là hiện thân của sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc gắn liền với phẩm chất cao quý của người cộng sản trong thời đại mới, mà biểu hiện rực rỡ nhất là tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Hồ Chí Minh không chỉ yêu Tổ quốc và nhân dân mình, Người còn luôn mơ ước, phấn đấu cho một xã hội tốt đẹp, hoà bình và hạnh phúc cho tất cả những người cùng khổ. Vạch đường, chỉ lối, đoàn kết họ, Hồ Chí Minh đã kiên định thực hiện khẩu hiệu nổi tiếng: Vô sản các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại!, và sau khi sang thăm Việt Nam năm 1961, được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp, nhà thơ Rơ-Nê Đơ- Pê-Tơ- Rô (Ha-i-ti) đã viết về Người như sau: “Những ai được biết thế nào là một người thực sự, vẻ đẹp của thế giới ở đâu, sự chiến thắng của chân lý trên trái đất ở đâu, ở đâu có mùa xuân, xin hãy đến thăm cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự tồn tại điển hình của một anh hùng của thời đại chúng ta[7]. Trái tim Người, cho đến hơi thở cuối cùng, vẫn dành để cống hiến cho mọi người, cho dân tộc và cho nhân loại. Tạp chí Những người bạn Mỹ, từng thừa nhận: “Loài người sẽ mãi mãi nhớ đến nhà yêu nước vĩ đại Hồ Chí Minh, đó là một trong những chiến sĩ vĩ đại nhất đã bảo vệ tự do và phẩm cách con người trong một thế giới đầy lo âu và biến động[8].

Jean Lacouture– người từng viết cuốn Tiểu sử Hồ Chí Minh bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu năm 1967, và sau đó được dịch ra bằng nhiều thứ tiếng – một cuốn viết về Hồ Chí Minh thành công nhất của phương Tây nhận định về Hồ Chí Minh: “Trong đời tôi, có lẽ chưa gặp một người nào lại tìm mọi cách để tránh đổ máu như ông…Tôi nghĩ rằng, ông vừa là một nhà cách mạng vừa là một người yêu chuộng hòa bình”. Giáo sư W. Duiker cũng từng viết trong cuốn sách: Hồ Chí Minh – một cuộc đời rằng: “Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng có tầm vóc quốc tế. Theo tôi, ông đã xây dựng tư tưởng của mình trên nhiều nền văn hoá và cách ông nhìn nhận thế giới mang tính toàn cầu”. Còn Staley Karnow, người gắn với bộ phim nổi tiếng: Việt Nam – một thiên lịch sử truyền hình nhấn mạnh rằng, “Hồ Chí Minh là nhân vật quan trọng của thế kỷ XX.. Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. Lần đầu tiên trong lịch sử, nước Mỹ đã thua trận và chính ông đã tìm cách đánh bại nước Mỹ- đất nước được coi là hùng mạnh nhất thế giới”, mở ra một thời kỳ “hậu chiến tranh Việt Nam” trong đời sống chính trị của nước Mỹ.

Với những gì Hồ Chí Minh đã nói, đã làm, đã cống hiến và để lại trong cuộc đời 79 mùa xuân của mình (19/5/1890 – 2/9/1969), cuối cùng, có thể nói như nhà sử học Alain Rucio rằng, giá trị tư tưởng đạo đức và giá trị chính trị trong con người Hồ Chí Minh luôn gắn kết với nhau, vì tất cả đều xoay quanh vấn đề tôn trọng nhân dân, vì nhân dân và Người “không có những mối bận tâm nào khác ngoài bận tâm chăm lo cho nhân dân”. Bởi vậy, thế giới dù có đổi thay, dù kẻ xấu có cố tình xuyên tạc sự thật, thì chừng nào con người còn tồn tại, chừng nào mà ký ức của loài người còn, chừng đó vẫn còn hiển hiện chân dung một Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam, một trong những vĩ nhân của thế kỷ XX. /.

  • TS. Văn Thị Thanh Mai (Bảo tàng Hồ Chí Minh)

[1] Phạm Văn Đồng: ”Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa khí phách của dân tộc, lương tri của thời đại”, Báo Nhân dân, 19-5-1970

[2] M.At-mét, Hồ Chí Minh, một nhân vật vĩ đại đã cống hiến trọn đời mình cho sứ mệnh tự do và độc lập, Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh, UNESCO và Uỷ ban khoa học xã hội Việt Nam, Nxb.KHXH, H.1990, tr.37

[3] Ôxip Manđenstam, Nguyễn ái Quốc- Thăm một đồng chí hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, Báo Ngọn lửa nhỏ, số 39, ngày 23/12/1923

[4] Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Trích tham luận của đại biểu quốc tế), NXB KHXH,H, 1990, tr 130

[5] Sđd, tr 41

[6] Sđd, tr 42

[7] Viện Hồ Chí Minh, Sđd, tr.40

[8] Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch , NXB Sự Thật, H, 1976, tr. 339

 

Bác Hồ kể chuyện Tây du ký

Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn đánh lớn, đánh tập trung. Thấy cán bộ chưa nhận thức đầy đủ tình hình, nhiệm vụ. Bộ Chính trị quyết định triệu tập cán bộ, mở lớp học ngắn ngày. Nội dung lớp học là “Quán triệt tình hình, nhiệm vụ, chống tham ô lãng phí, quan liêu, quân phiệt”.

Học viên là cán bộ cao cấp các ngành quân, dân, chính, đảng trên mọi chiến trường trong cả nước. Lớp học được tổ chức giữa khu rừng đại ngàn khá đẹp, cạnh cơ quan Trung ương, gần nơi Bác ở và làm việc.

Ông Lê Văn Lương, Chánh văn phòng Trung ương Đảng được Bác chỉ định phụ trách lớp. Bác trực tiếp biên soạn giáo án, làm giáo viên hướng dẫn học tập, kiểm điểm. Công việc dạy và học được tiến hành rất thuận lợi, kết quả khả quan, Bác rất vui. Hôm làm kiểm thảo Bác nói:

– Các chú học đã thông lý thuyết, tranh luận cũng đã nhiều. Vận dụng lý luận đã học vào kiểm thảo là rất cần thiết. Bác bận không có thời gian xem hết lý luận của các chú. Tình hình, nhiệm vụ, các chú đã quán triệt, không cần thiết phải trình bày. Các chú đi vào kiểm điểm cá nhân, viết cụ thể xem mình tham ô, lãng phí bao nhiêu? Tất cả quy thành tiền. Quan liêu, quân phiệt bao nhiêu lần? Hành động thô bạo với nhân dân, với chiến sĩ bao nhiêu lần? Bao nhiêu người? Vậy thôi, không cần dài dòng.

Hôm trả bài, mọi người vừa có mặt đông đủ ở hội trường thì Bác bước vào. Nét mặt của Bác hôm đó không được vui. Cán bộ trực ban hô “Nghiêm!” rồi báo cáo Bác. Bác vừa ra hiệu cho mọi người ngồi xuống thì một đồng chí đứng lên hô to:

– Đả đảo tham ô, lãng phí, quan liêu, quân phiệt!

Bác giơ cao tập kiểm thảo của học viên lên nói:

– Lý thuyết! Lý thuyết! Thực tế đây này. Nhiều đồng chí sợ địch, ngại gian khổ, ngại hy sinh, ngại kháng chiến lâu dài. Nhiều đồng chí thiếu trách nhiệm để kẻ địch đốt hàng trăm tấn gạo, đổ xuống sông hàng trăm tấn muối, phá hủy hàng chục tấn súng đạn. Có đồng chí tham ô hàng vạn, hàng triệu đồng…, đánh đập, chửi mắng chiến sĩ, nhân dân.

Bác phân tích tác hại của hành động, làm ảnh hưởng xấu tới chính sách đại đoàn kết dân tộc, tới chính sách mặt trận, tới tài sản của nhân dân, ảnh hưởng tới thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Cả hội trường im phăng phắc nghe Bác nói.

Trưa hôm đó, một trưa hè oi nồng, vì không ngủ được nên một số anh em rủ nhau ra suối tắm. Giữa rừng sâu nên anh em tha hồ vừa thoải mái ngâm mình dưới dòng nước, vừa trao đổi về bài tổng kết của Bác. Ngay lúc đó, Bác từ trên nhà sàn bước xuống. Ai cũng đoán Bác đi sang khu Trung ương.

Người thoăn thoắt đi về phía anh em đang tắm. Mọi người hoảng, chưa biết xử trí ra sao, thì một cán bộ nhanh nhẹn mặc quần áo lên hướng dẫn Bác đi lối khác. Bác gạt đi:

– Bác cùng tắm với các chú cho vui!

Thế là Bác cháu cùng ngâm mình xuống dòng nước trong mát. Đàn cá con luồn lách trong khe đá, lượn lờ chung quanh mọi người. Cán bộ Lương Tuấn Khang cọ lưng cho Bác, xúc động thưa với Bác:

– Thưa Bác, Bác gầy quá!

Bác im lặng một chút, rồi hỏi đồng chí Khang:

– Kiểm thảo vừa rồi, chú có khuyết điểm gì không?

– Thưa Bác có chứ ạ! Cháu tham ô một vạn tư.

– Chú một vạn tư, chú kia một vạn tư, chú này một vạn tư thì Bác làm sao béo được!

Anh em tắm quanh đó lặng người, chú ý theo dõi câu chuyện của hai Bác cháu.

Cán bộ Khang lại hỏi Bác:

– Thưa Bác, không phải cháu tham ô, mà vì cháu đã có áo mưa, quân nhu không biết lại phát cho cháu một chiếc nữa. Cháu lãnh, rồi đem cho đồng chí khác chưa có (chiếc áo mưa hồi đó trị giá một vạn tư). Thưa Bác, như vậy có phải khuyết điểm không ạ?

Bác quay lại:

– Thôi chú cọ lưng cho Bác sạch rồi. Ta đổi công cho nhau.

Bác cọ lưng cho Khang, rồi nói:

– Phải xem xét động cơ. Chú cho anh em không có sự đòi hỏi gì, cho với tinh thần vô tư thì việc cho của chú là tốt. Còn, chú cho bạn với động cơ có đi, có lại hoặc có điều kiện nào đó, thì việc cho áo mưa của chú cần phải xem xét.

Thời hạn lớp học sắp kết thúc. Hôm đó, Bác giải đáp để hôm sau các học viên trở về đơn vị. Bác yêu cầu anh em kể Tây du ký cho mọi người nghe… Câu chuyện cần phù hợp với nội dung bài học.

Bác Hồ với các chiến sĩ tại khu di tích Đền Hùng năm 1954

Ông Tôn Quang Phiệt được Bác chỉ định kể đầu tiên. Suy nghĩ một hồi, ông Phiệt kể cho anh em nghe đoạn Tôn Hành Giả ba lần đánh Bạch Cốt Tinh. Một lần Tôn đánh chết ông cụ, một lần đánh chết bà cụ, một lần đánh chết cô gái, nên bị Tam Tạng đuổi về Hoa Quả Sơn.

Ông Tôn Quang Phiệt tóm tắt:

– Tôn Hành Giả biết phân biệt kẻ thù. Đã phân biệt chính xác kẻ thù thì tấn công quyết liệt, gặp bất cứ trở ngại gì cũng vượt qua.

Bác chỉ định một người khác kể. Cán bộ đó kể đoạn Bát Giới xin ở lại làm con rể phú ông. Cán bộ đó kết luận:

– Làm cách mạng là phải triệt để đừng như Bát Giới ham phú quý, giàu sang giữa đường định bỏ dở sự nghiệp.

Một cán bộ nữa xin Bác cho phép kể đoạn Đại Thánh đại náo thiên cung. Cán bộ kết luận:

– Đã là người anh hùng nắm chắc chân lý, thì ông trời cũng không sợ.

Bác cười khen:

– Các chú nhớ cả đấy. Chuyện nào cũng vậy, đều có thiện, có ác, có chính, có tà. Chuyện nào cũng dạy người ta ăn ở nhân nghĩa, bỏ điều ác, làm điều thiện. Có gian khổ mới có vinh quang thắng lợi. Thầy trò Đường Tam Tạng từ Đại Đường sang tận Tây Trúc lấy kinh, trải qua không biết bao nhiêu gian khổ, thử thách, gặp bao nhiêu yêu quái mới thỉnh được kinh đem về cho vua Đường. Thầy trò Đường Tăng đã vượt qua ba điều cấm: Một là không ham tiền tài, hai là không ham địa vị, ba là không ham gái đẹp.

Khi gặp Phật tổ Như Lai, lấy được kinh, Đại Thánh thưa với sư phụ: “Thưa thầy, chúng ta đã thành chính quả”. Tam Tạng nói với Đại Thánh: “Chưa đâu, đây mới là thành công bước đầu của thầy trò ta, đạt đến chính quả còn gian khổ lắm”.

Cuộc kháng chiến của chúng ta mới chỉ là những bước giống như những bước đi đầu tiên trên chặng đường thầy trò Tam Tạng sang Tây Trúc thỉnh kinh mà thôi. Kháng chiến thành công, nước nhà độc lập cũng mới chỉ là bước đầu. Bác cháu ta còn phải kiến quốc làm cho dân giàu, nước mạnh, nhân dân hạnh phúc, ấm no. Điều đó mới thực vất vả, khó khăn.

Bác cháu ta hiện nay mới chỉ bước những bước đầu tiên trên con đường kháng chiến, mà đã có nhiều đồng chí ham tiền tài, địa vị, gái đẹp thì kháng chiến ta làm sao thành công được. Xưa cũng như nay, muốn thành chính quả thì phải tránh ba điều răn. Muốn kháng chiến thắng lợi phải tránh ba điều cấm. Vì cuộc kháng chiến của Bác cháu ta còn phải trải qua muôn vàn gian khổ, có nỗ lực vượt qua được thì mới thành công, thắng lợi. Kết luận của Bác có thế thôi.

Sau đó, Bác cho phép mọi người nêu thắc mắc để Bác giải đáp. Đồng chí Nam Long đứng lên xin phép Bác được nêu thắc mắc:

– Thưa Bác, Bác nói trong con người ta có ông Thiện, ông Ác. Ông Thiện bảo ta làm những điều tốt lành. Ông Ác xúi ta làm những việc độc ác. Thưa Bác, trong Bác có ông Thiện, ông Ác không ạ?

Bác cười tủm tỉm:

– Có chứ! Bác cũng như mọi người đều có ông Thiện ông Ác. Từ nơi Bác ở tới lớp học phải qua một cái đèo cao. Leo tới đỉnh đèo thì Bác đã mệt. Phong cảnh tuyệt đẹp, trời trong xanh, mây bay vượn hót, chim kêu, nước chảy.

Ông Ác nói với Bác: “Dừng chân nghỉ một chút cho đỡ mệt, ngắm mây trôi, nước chảy, nghe vượn hót chim kêu, hút một điếu thuốc cho sảng khoái rồi lại lên đường. Kháng chiến còn lâu dài gian khổ, nghỉ một chút có sao đâu”.

Ông Thiện lại nói với Bác: “Không được! Hàng trăm người đang chờ đợi Bác. Chỉ cần chậm một phút là lãng phí hàng trăm phút. Mình là giảng viên, lại càng cần phải gương mẫu”.

Ông Ác nói cũng phải – mệt ngồi nghỉ một chút là lẽ thường tình, có chi phương hại. Ông Thiện nói cũng đúng – bắt hàng trăm con người chờ đợi, hao phí thời gian, đành tâm sao được.

Biết nghe ai bây giờ? Nghe ai và không nghe ai? Khó thật đấy! Song, cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình. Suy nghĩ một hồi, Bác quyết định nghe theo ông Thiện. Bác nhét điếu thuốc lá vào bao, cất bật lửa vào túi. Bác đi tới lớp học.

Đó, ai dạy mình điều phải. Ai xui mình làm điều sai. Cái quyết định cuối cùng vẫn là ở mình.

Mỗi khi gặp khó khăn, các học viên lớp học ngày ấy lại nhớ tới lời dạy của Bác qua các câu chuyện trong Tây du ký.

( tổng hợp )

 

Từ câu trả lời phỏng vấn nhà báo Mỹ ngày 11 – 9 – 1946 tại Pari

Tháng 310

Trong chuyến thăm nước Pháp với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1946, Hồ Chủ tịch đã có nhiều cuộc tiếp xúc với giới báo chí thế giới đang tập trung “săn tin” về Hội nghị Phôngtennơbơlô.

Ngoài 26 tờ báo với màu sắc chính trị tả hữu khác nhau của Pari và miền Tây nước Pháp, một số tờ báo lớn của nước Mỹ, Anh, Trung Quốc cũng có mặt quanh khu vực Hội nghị Phôngtennơbơlô. Một số nhà báo tên tuổi thế giới và khu vực châu Âu vào thời kỳ đó rất có cảm tình với Hồ Chủ tịch, họ đã gặp Bác và Thủ tướng Phạm Văn Đồng phỏng vấn những vấn đề liên quan đến thái độ, lập trường chính trị của phái đoàn Việt Nam. Đáng chú ý là nhà báo Mỹ Đêvítsơnbrum, một nhà báo có ảnh hưởng rất lớn đối với Tổng thống Mỹ Aixenhao, Tổng thống Pháp Đờgôn. Trong cuốn sách của ông được dịch ra tiếng Pháp, tái bản tại Pari năm 1984 đã dành những trang sinh động ghi lại nội dung cuộc phỏng vấn Bác Hồ ngày 11-9-1946 tại Xanh Cờlu (Pari) vào thời điểm nóng bỏng không khí chính trị do phía Pháp kéo dài Hội nghị Phôngtennơbơlô, dây dưa trả lời những đòi hỏi chính đáng về quyền lợi độc lập dân tộc của phái đoàn Việt Nam. Trước khi Bác ký Hiệp ước 14 – 9, nhà báo Đêvítsơnbrum đã bằng mọi cách gặp và xin được phỏng vấn Bác. Dưới đây là cuộc phỏng vấn.

Đêvítsơnbrum: “Chủ tịch nghĩ thế nào mà tính đánh lại người Pháp trong khi chưa có quân đội, chưa có vũ khí hiện đại?”

Bác trả lời: “Chắc chắn sẽ là gay go, nhưng cuối cùng chúng tôi sẽ thắng. Chúng tôi có một đạo quân ít ra cũng mạnh bằng xe tăng, đại bác. Đó là chủ nghĩa dân tộc. Ông chớ nên đánh giá thấp, nhất là người Mỹ các ông. . .”. Rồi Bác điềm tĩnh lý giải sức mạnh đoàn kết của cuộc chiến tranh toàn dân: “. . . Đầm lầy có hiệu quả hơn súng chống tăng. Rừng rậm thì máy bay, bom đạn làm gì được. Có hang trên núi thì chỉ một người nấp bắn có thể cự hàng trăm người và chúng tôi có hàng triệu túp lều tranh, mỗi túp lều đều là một con ngựa thành Tơ roa đặt sẵn đó, sẵn sàng đánh quật lại bất cứ quân xâm lược nào”. Câu trả lời phỏng vấn một nhà báo Mỹ của Bác tại Thủ đô Pari đã được minh chứng sau 9 năm kháng chiến gian khổ, quyết liệt và đã giành được thắng lợi.

Trong lịch sử thông tin báo chí trên thế giới, ít có một nhân vật được báo chí phía đối lập chế độ chính trị phản ánh với một thái độ trân trọng, khách quan như Bác Hồ của chúng ta. Tổng kết về sự thất bại cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương và Việt Nam, riêng ở Mỹ đã có hàng nghìn đầu sách. Và cuốn sách nào cũng đề cập vai trò quyết định của Hồ Chủ tịch tới mỗi chủ trương, quyết sách có quan hệ đến vận mệnh đất nước, dân tộc Việt Nam.

Bất cứ tờ báo tư bản nào mà chẳng bảo vệ quyền lợi chính trị của giai cấp tư sản. Ấy thế mà khi nhắc tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyệt nhiên không có tờ báo tư bản nào lại có giọng điệu thiếu nhã nhặn. Đương nhiên tính chất của báo chí tư sản không vì thế mà thay đổi nội dung chính trị vốn có.

Còn nhớ khi Bác Hồ “đi theo cụ Lênin, cụ Cácmác” vào tháng 9 – 1969, tờ “Thế giới hàng ngày”, một trong những tờ báo lớn của Mỹ đã đăng bài ca tụng trên mười số với tiêu đề “Di sản của Hồ Chí Minh”. Số báo ra ngày 20-9-1969 đăng bài với nội dung: “. . . Hồ Chí Minh không những tìm ra con đường đi tới tự do mà còn sáng lập và xây dựng công cụ lãnh đạo là chính Đảng Mác – Lê nin. Chính Đảng đó đã lãnh đạo toàn diện cuộc đấu tranh của quần chúng nhằm đánh đổ ách thống trị của bọn xâm lược và đưa Nhà nước mới có chủ quyền tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa và trước hết tạo ra cho dân tộc Người ý chí và nghệ thuật bảo vệ linh hồn và lãnh thổ của mình chống lại các cuộc xâm lược của lực lượng quân sự viễn chinh được trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại bậc nhất và vô lương tâm chưa từng thấy…”.

Một tờ báo có số lượng phát hành hàng chục triệu bản và ảnh hưởng rất lớn ở Mỹ – tờ “Bưu điện Hoa Thịnh Đốn” đã viết về Bác Hồ với sự thành kính đặc biệt: “Không một nhà hoạt động lớn nào trong thập kỷ cách mạng dân tộc đầy sôi động này lại sống lâu, có ảnh hưởng lớn trên thế giới, thực hiện nhiều sách lược và đường lối với nhiều mối thách thức to lớn như vị lãnh tụ cộng sản Việt Nam Hồ Chí Minh. Con người mảnh khảnh đó với đôi mắt bốc lửa đã trải qua nhiều nghề nghiệp từ khi còn là người bồi bàn trên tàu thủy, làm nghề rửa bát, làm cấp dưỡng, giáo viên, làm ảnh để rồi trở thành nhà tổ chức không mệt mỏi, vươn lên trên cả những nhân vật đương thời”.

Sau hai ngày Bác Hồ kính yêu của chúng ta ra đi vào cõi vĩnh hằng, ngày 04-9-1969, tờ “Thời báo Niu Oóc” đăng bài viết: “Trong số các chính khách của thế kỷ 20, Hồ Chí Minh là nhân vật nổi bật về tính bền bỉ dẻo dai và lòng kiên nhẫn trong việc tìm kiếm mục tiêu độc lập cho Việt Nam và về sự thành công trong việc dung hòa giữa Chủ nghĩa cộng sản với Chủ nghĩa dân tộc…”.

Hẳn không thể có lời bình luận gì hơn về sự ghi nhận, đánh giá, khẳng định tôn trọng một cách thẳng thắn của giới báo chí tư bản, đặc biệt là báo chí nước Mỹ đối với Bác Hồ của chúng ta.

* Văn Hiền (Nguồn: Những mẩu chuyện làm báo của Bác Hồ NXB Thanh Niên)

 

Bác Hồ từng đi bộ 1.000 cây số trong một tháng

Giadinh.net – Thu Đông năm 1950, Trung ương quyết định mở chiến dịch Biên giới, nhằm khai thông đường quan hệ và liên lạc giữa nước ta với các nước XHCN.

Để nắm tình hình, giúp Ban chỉ huy chiến dịch và động viên tinh thần bộ đội, hạ tuần tháng 8/1950 Bác Hồ đi chiến dịch. Một kế hoạch bảo vệ Bác được xây dựng khẩn trương, do Thường vụ Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo.

 

 

“Các chú khỏe thử theo kịp Bác không?”

 

Lực lượng bảo vệ được Bác cho đi cùng khác với tất cả các lần đi trước. Trước chỉ có 2 lần này có tới 6 đồng chí. Ngoài 3 đồng chí Nhất, Định, Thắng còn 3 đồng chí nữa là Khởi, Lừ, Tô chiến sĩ thuộc Tiểu đội AD, đơn vị được thành lập từ tháng 5/1950 có nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài nơi Bác ở và làm việc.

 

Ngoài ra Trung ương còn cử bác sĩ Chánh đi chăm sóc sức khoẻ cho Bác và anh em trong đội. Đồng chí Định được Bác phân công làm Tiểu đội trưởng. Mọi người trước khi lên đường đã chuẩn bị khá cẩn thận và đầy đủ. Vũ khí, quân trang, lương thực, thực phẩm… đồng chí Trần Đăng Ninh trực tiếp kiểm tra việc chuẩn bị của đoàn và giao nhiệm vụ cụ thể.

 

Bác, cháu rời “Chủ tịch phủ” lên đường với bộ quân phục, đội mũ lá quai cột bằng chiếc khăn mặt bông, khi đội luôn che kín bộ râu, tay chống gậy, vai đeo túi dết quen thuộc. Mọi người trong đoàn cũng hóa trang như một đơn vị bộ đội đi công tác. Anh em đã làm sẵn và mang theo một chiếc cáng định bụng sẽ cáng Bác đôi đoạn. Gọi là “cáng” cho oai chứ thực ra chỉ là một tấm vải thô rộng, hai đầu cột vào đòn tre, biết ý định tốt bụng của các chiến sĩ Bác bảo: “Thôi các chú cất nó đi”.

 

Đội còn phân công đồng chí Nhất và đồng chí Thắng bí mật chuẩn bị ngựa dắt đi trước. Ra đến cửa rừng, đồng chí Thắng dắt ngựa lại mời Bác đi. Bác không đồng ý nói: “Chúng ta có 8 người, ngựa chỉ có một con, Bác cưỡi sao tiện?”. Đồng chí Định cố nài nỉ “Thưa Bác, chúng cháu còn trẻ, Bác đã nhiều tuổi, đường lại xa, công việc nhiều, xin Bác cứ lên ngựa cho”. Bác nói: “Ừ, các chú đều khoẻ, còn trẻ cả, để đi đường xem các chú có theo kịp Bác không? Thôi được các chú đã mang ngựa, hãy để nó chở ba lô, gạo muối, thức ăn. Trên đường đi ai mệt thì cưỡi. Bác mệt Bác cũng sẽ cưỡi ”. Anh em vâng lời dắt ngựa theo.

 

Ra khỏi thành Cóc, mọi người gặp con suối chảy về Chợ Chu. Đang cơn nước lũ, những gốc cây, những khúc gỗ mục lao băng băng… nước réo ầm ầm tưởng chừng như không có cách nào vượt qua được. Các chiến sĩ tiền trạm đã tìm chỗ nông lội thử, nhiều chỗ lội qua nước tới bả vai. Nếu chỉ có mấy anh em bảo vệ thì sức nước chảy mạnh cũng chẳng có gì là khó phải dừng lại bên này suối. Nhưng việc phải lo là làm sao đưa Bác vượt suối an toàn? Anh em phân công chia nhau men theo bờ suối xem có chiếc mảng nào thì chèo sang, hoặc có một cây nào thì chặt ngả tạm làm cầu, nhưng tìm khắp xung quanh chẳng thấy thứ gì cả.

 

Anh em đã đề nghị Bác nghỉ tạm chờ nước rút hãy đi. Bác nói: “Trời còn có thể mưa lâu, chờ thì đến bao giờ? Phải tìm mọi cách qua mới được”. Bác lại hỏi: “Các chú đã tìm hết lối sang suối chưa?” Đồng chí Định trả lời thay anh em: “Thưa Bác! Chúng cháu đã tìm hết rồi ạ!”. “Thế vừa rồi các chú chỉ tìm ở bờ suối thôi à?”. “Thưa Bác! Vâng ạ!”. Bác cười, anh em đều ngạc nhiên đổ dồn vào ánh mắt Bác. Bác đưa tay chỉ ra xa rồi ôn tồn: “Ở đây hai bên suối đều có ruộng nương. Chả nhẽ, vì ngày mưa lũ đồng bào lại không đi nương à? Các chú tìm lối sang suối mà chỉ tìm dọc bờ là không biết dựa vào dân”.

 

Lúc này, anh em mới để ý theo hướng tay Bác chỉ. Xa xa thấy ruộng nương tươi tốt hai bên bờ. Hai đồng chí chạy vội lên một bãi gần đó. Một lát hai người trở lại cho biết, cách nơi Bác đứng một đoạn, bờ bên kia có một chiếc mảng cột dưới gốc cây. Bác và mọi người rất mừng, cùng nhau đi tới đó. Tối hôm đó đoàn tới Chợ Chu, tính ra thì mới đi được 30 cây số. Để đảm bảo bí mật, mọi người đề nghị Bác cho nghỉ lại một ngôi đình giữa đồng.

 

 

 

Đi bộ 1.000 cây số trong 1 tháng

 

4 giờ sáng hôm sau, đoàn  lên đường.Chặng đường rừng ngày thứ hai tương đối dễ đi. Bác luôn nhắc tất cả phải cố đi nhanh để bù lại ngày hôm qua. Chiều tối Bác và mọi  người nghỉ lại ở một gian nhà cũ bỏ không gần Chợ Mới. Bữa cơm hôm đó ngoài món “thịt hộp Việt Minh”, còn có thêm một ít rau tàu bay luộc. Bác nói đùa: “Rau tàu bay có khác, ăn vào nhẹ cả người, lại có cả mùi xăng”.

 

Tiểu đội trưởng Định còn nhớ một lần đi đêm, trời đã khuya, may sao gặp một cái quán làm bằng vài tấm tranh cột trên bốn chiếc cọc tre. Bác đặt ba lô làm gối, ngả lưng trên chiếc ghế dài làm bằng 2 cây gỗ cong queo nằm ngủ. Anh em bảo vệ cũng nằm xung quanh Bác. Trước lúc ngủ, Bác còn dặn: “Cắt gác nhớ cắt cho Bác một ca!”.

 

Đến đường số 4, đồng chí Võ Nguyên Giáp cho một chiếc xe Jeep ra đón, anh em mừng và khẽ bảo nhau: “Bây giờ khỏi cuốc bộ rồi!” không ngờ Bác nói với một cán bộ trên xe: “Đưa xe về chở đồ tiếp tế cho bộ đội. Bác đi bộ quen rồi!”. Thế là Bác cháu lại đi đường tắt về Lam Sơn. Gần nửa đêm mới đến địa điểm cơ quan lãnh đạo địa phương. Bác vào làm việc với tỉnh uỷ tỉnh Cao Bằng, Anh em phân công nhau lo chuẩn bị chỗ ngủ. Nhưng làm việc xong Bác lại đi tiếp tới Quảng Uyên. Lúc đó đã quá nửa đêm. Trước lúc lên đường, Bác họp đội lại “đả thông tư tưởng” và phổ biến tình hình.

 

Anh em lại cùng Bác theo đường tắt đi tiếp. Nửa đêm hôm sau bỗng xảy ra một việc: Khi Bác và mọi người đang vượt qua một đèo nhỏ, đột nhiên có tiếng súng trên đèo bắn xuống, đạn rít chéo ngay trên đầu. Đồng chí Định hô lớn: “Trung đội một vòng phải, Trung đội hai vòng trái, Trung đội ba theo tôi xung phong!”. Các chiến sĩ trong đội đều thét lớn: “Xung phong!”. Hò hét nghi binh vậy chứ gì có 3 trung đội lúc bấy giờ. Sau đó anh em để 3 đồng chí ở lại yểm trợ, số còn lại đưa Bác lánh vào rừng. Bỗng những tiếng kêu ầm ĩ vang lên: “Đừng bắn! Đừng bắn! Người nhà thôi!…”. Nghe vậy đồng chí Định và các đồng chí tiền trạm lén lên phía trước thăm dò, hoá ra du kích ta.

 

Khi Bác về tới Quảng Uyên thì trời đã sáng. Anh em liên lạc với Ban chỉ huy chiến dịch. Trong bài nói chuyện, Bác nhấn mạnh tầm quan trọng  của chiến dịch: “Chiến dịch này rất quan trọng, các chú chỉ được thắng mà không được thua. Phải có quyết tâm cao và tinh thần dũng cảm trăm phần trăm”.

 

Đúng 6 giờ ngày 16/9/1950 tiếng súng  mở màn chiến dịch đã nổ. Trong lúc bộ binh tiến đánh các đồn Phìa Khoá, Yên Ngựa, Cam Phấy thì pháo binh của ta bắn vào đồn chính để dập hoả lực và phá huỷ công sự của địch. Máy bay địch lồng lộn trút từng đợt bom xuống những nơi nghi có quân ta. Đài quan sát rất gần trận địa. Anh em bảo vệ ai cũng lo ngại cho Bác. Nhưng Bác như không để ý gì đến máy bay, Người ngồi, quần xắn cao vừa chăm chú nhìn xuống cứ điểm giặc vừa đối chiếu với tấm bản đồ tham mưu. Bác nghe một cán bộ của Ban chỉ huy chiến dịch báo cáo tình hình. Hình ảnh này của Bác đã được nhà nhiếp ảnh Nguyễn An Ninh chụp.

 

Đến trung tuần tháng 10/1950, ta giải phóng hoàn toàn Cao Bằng, Lạng Sơn và chiến dịch Biên giới kết thúc thắng lợi. Bác đi thăm các đơn vị quân đội và các đoàn dân công tham gia chiến dịch rồi trở lại Tân Trào. Sau hơn một tháng các chiến sĩ cận vệ bảo vệ Bác trở lại “Chủ tịch phủ”. Vậy là Bác đã đi bộ cả tháng trên 1.000 cây số. Đối với Bác ở tuổi sáu mươi quả là một chuyện thần kỳ.

 

Nguyễn Đức Quý

 

Liên quan tới vấn đề này còn có bài viết của ông Vũ Kỳ, mà viet-studies chép là “đăng trên Văn Nghệ số Tết Mậu Dần 1998, tr. 4”.

====


Bác Hồ với Tết Mậu Thân năm ấy

Vũ Kỳ

 Hội nghị Trung ương 14 khoá ba họp vào tháng 6 năm 1967 đã quyết định mở cuộc tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Mậu thân năm 1968 để đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lên một bước mới, giành thắng lợi quyết định.

Suốt 6 tháng rời nỗ lực ráo riết, việc chuẩn bị về cơ bản đã hoàn thành – cần có một cuộc họp Bộ Chính trị để rà soát lại toàn bộ mọi công tác và hạ quyết tâm chiến lược, cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Lúc này Bác Hồ đang nghỉ ở Bắc Kinh. Ra đi từ ngày 5-9-1967, bây giờ đã vào cuối năm. Sáng ngày 21-12-1967, Văn phòng Trung ương điện sang mời Bác trở về dự hội nghị Bộ Chính trị sẽ khai mạc vào sáng 28-12-1967.

Bấy giờ tối thứ bảy, ngày 23 tháng 12, máy bay đưa bác đến vùng trời Hà Nội. Lượn hai vòng vẫn chưa hạ cánh được vì đèn chỉ huy trên sân bay chệch 15 độ. Đồng chí lái giàu kinh nghiệm quyết tâm hạ cánh không theo đèn. Rất may là an toàn. Các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ ra đón Bác tại sân bay, đưa Bác về nhà và báo cáo công việc với Bác.

Buổi làm việc kéo dài đến tận khuya, Bác nói vui: “Sắp bước vào năm đánh lớn, phải giữ sức để đánh được liên tục”. Trước khi đi ngủ Bác gọi dây nói sang Văn phòng Quân uỷ, hỏi sức khoẻ của đồng chí Võ Nguyên Giáp – lúc này nghỉ ở Hung-ga-ri và nhắc gửi thiếp và quà cho vợ chồng chú Văn. Bác nói:

–Dịp Nô-en và Tết dương lịch bên ấy như Tết ta ở bên mình. Tâm lý những người xa quê hương rất mong có một món quà của Tổ quốc.

Trên các chiến trường công tác chuẩn bị khẩn trương vẫn được tiến hành; một số lớn các lượng thuốc nổ, vũ khí bí mật đã được chuyển vào các thành phố, đô thị miền Nam.

Sáng 25 tháng 12 năm 1967, thứ hai, 7 giờ 15 phút, Bác sang hội trường Ba đình, chủ toạ cuộc gặp mặt chúc mừng năm mới của Đoàn Ngoại giao ở Hà Nội. Bác rất vui, chúc năm mới Đoàn Ngoại giao. Tiếng Bác sang sảng và như trẻ ra.

Ngày 28 tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt ngay bên nhà Bác Hồ, có bản đồ to kê trên bục trong phòng họp và nhiều tướng lĩnh đến báo cáo.

Từ sự phân tích và nhận định tình hình, Bộ Chính trị đề ra: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa đề giành thắng lợi quyết định”.

Chiều tối sau phiên họp Bộ Chính trị kéo dài và căng thẳng, Bác trở về nhà sàn, chân bước chậm rãi, có lẽ có một điều gì đó khiến Bác chưa thật an tâm. Cuộc họp hôm nay Bác chủ trì, ngồi ở ghế đầu bàn, đồng chí Lê Duẩn báo cáo toàn bộ vấn đề và quán xuyến việc thảo luận.

Đèn trên buồng ngủ Bác đêm nay tắt chậm hơn mọi tối.

Chiều 29 tháng 12, Bác Hồ mời Bác Tôn đến cùng ăn cơm. Ngắm hai cụ già thân mật đi bên nhau, thanh thản, ung dung, nói cười vui vẻ, ta cảm thấy cuộc đời đẹp biết bao, tưởng như đất nước thanh bình.

Ngày 30 tháng 12 thứ bảy, buổi sáng từ 7 giờ 15 đến 9 giờ 30 Bác lại dự họp Bộ Chính trị, nghe đồng chí Cao Văn Khánh, Phó tổng tham mưu trưởng, báo cáo thêm những diễn biến mới nhất của tình hình chiến sự miền Nam. Bác ngồi nghe, một tay giữ lấy kính, chăm chú nhìn vào bản đổ khổ lớn treo trên tường.

Buổi chiều từ 17 giờ đến 18 giờ, Bác tham dự phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ. Bác tặng mỗi người, từ Bộ trưởng đến nhân viên phục vụ một quả cam hái từ vườn Bác và một thiếp hồng chúc mừng năm mới. Nói chuyện trong phiên họp, Bác biểu dương những thắng lợi to lớn của quân và dân hai miền Nam Bắc, khen ngợi sự cố gắng của các Ngành, các Bộ. Bác đặc biệt khen ngợi các cháu thanh niên, thiếu niên, cả gái và trai. Bác nói: “Chúng ta là những người tham gia cách mạng lâu, đã chống Pháp thắng lợi, cứ tưởng chúng ta có nhiều kinh nghiệm rồi, nhưng bây giờ phải học tập chiến sĩ, học tập thanh niên. Thanh nien ta bây giờ hăng hái làm việc, không kể giờ giấc, ngày đêm, dám đánh giặc, không sợ chết. Một người đã không sợ chết, một dân tộc đã không sợ hy sinh, gian khổ thì nhất định sẽ chiến thắng”.

Bác nhận xét về hoạt động của Chính phủ: “Trong Chính phủ ta, tuy đã cố gắng, nhưng phải cố gắng nhiều hơn nữa, phải luôn luôn tự nhận xét mình về mọi hành động, về công tác cũng như về đạo đức cách mạng, chú ý tự phê bình và phê bình hơn nữa, có như vậy mới theo kịp quần chúng, theo kịp chiến sĩ”.

Lời dạy của Bác cách đây tròn 30 năm, trong một bối cảnh hoàn toàn khác, mà vẫn vô cùng cần thiết cho chúng ta hôm nay.

Họp Hội đồng Chính phủ về, Bác mời cơm chị Cúc, vợ đồng chí Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và hai cháu. Anh Thanh vừa mất đột ngột cách đó 5 tháng. Bác tiếc thương vô hạn và muốn dành tình cảm thân thiết, yêu thương để an ủi gia đình.

Ngày chủ nhật 31-12-1967, ngày cuối cùng của một năm chiến đấu quyết liệt và chiến thắng vẻ vang trên khắp hai miền đất nước. Bảy giờ 30 sáng, Bác Hồ ung dung ra Phủ Chủ tịch để thu thanh chúc mừng năm mới Mậu Thân mà có lẽ Bác đã ngẫm nghĩ và trao đổi có lẽ đến 3 tháng ròng. Bài thơ “Toàn thắng ắt về ta” như bài hịch đã đi vào lịch sử. Chị Trần Thị Tuyết trực tiếp ngâm cho Bác nghe, vừa để ghi tiếng vào băng phát lúc Giao thừa. Bữa cơm chiếu nay Bác lại cho mời khách đặc biệt: 3 phụ nữ miền Nam Thành đồng tổ quốc. Chị Hai Hùng, vợ đồng chí Phạm Hùng; chị Mười Cúc, vợ đồng chí Nguyễn Văn Linh; chi Mười (Đồng Tháp). Tấm lòng của Bác đối với cả miền Nam là như thế. Đồng chí Phạm Hùng, Đồng chí Nguyễn Văn Linh đang ở chiến trường xa nhận được tin này chắc hẳn càng nhớ Bác rất nhiều.

Năm mới 1968, sáng mùng một 1 tháng 1, Bác đi thăm một số nơi bị máy bay Mỹ bắn phá tại Hà Nội.

2 giờ 30 phút chiều, Bộ Chính trị đến làm việc, Bác căn dặn công việc trước khi Bác lên đường tiếp tục đi nghỉ ở Trung quốc. Đó là quyết định của Bộ Chính trị và Hội đồng bác sĩ.

Thế trận đã dàn xong. Ba quân đã sẵn sàng. Lời hịch đã phát. Bác Hồ ra đi chuyến này an tâm hơn.

Ngoài liên lạc hàng ngày, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước vẫn thay nhau đến Bắc Kinh, trực tiếp báo cáo và xin ý kiến Bác. Bốn giờ chiều 20-1-1968, đồng chí Lê Đức Thọ sang làm việc với Bác đến 6 giờ tối. Sáng ngày 25 tháng 1 năm 1968, đồng chí Võ Nguyên Giáp đến trực tiếp báo cáo với Bác từ 8 giờ đến 9 giờ 15 phút. Tối 26 tháng 1 năm 1968, đã gần Tết Mậu thân, từ 7 giờ đến 8 giờ, hai Bác cháu ngồi im lặng trong phòng vặn nhỏ Đài tiếng nói Việt Nam.

Bài của Vũ Kỳ viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự biến Mậu Thân, xuất hiện trên báo Văn nghệ cách đây 11 năm


Triệu Tử, viet-studies

16.07.2009

Lời của người sưu tầm: Sau khi đọc “Một chút tư liệu về việc viết và công bố Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” trên viet-studies, tôi dò đến bài trên báo Công An Nhân Dân đề cập bài của Lữ Phương viết về Hồ Chí Minh và thấy thật sự thì bài viết này của Lữ Phương đã có sẵn nơi “Đặc trang Lữ Phương” của viet-studies (mục “Từ Nguyễn tầt Thành đến Hồ Chí Minh”), trong đó có nhắc đến một bài của Vũ Kỳ tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do Lữ Phương không nói thật cụ thể về xuất xứ bài của Vũ Kỳ, tôi đã nhờ bạn bè tìm hộ và biết chắc đó là bài “Bác Hồ với Tết Mâu Thân năm ấy”, đăng trên Văn Nghệ số Tết Mậu Dần 1998, tr. 4. Vì đây là một tư liệu quan trọng, do Vũ Kỳ là thư ký riêng thân tín và lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố như một chứng từ, tôi mạo muội xin báo Văn nghệ cho phép tôi nhờ viet-studies đăng lại, mục đích chỉ muốn rọi sáng thêm một vài chi tiết đáng chú ý xảy ra trong những năm cuối đời của Hồ Chí Minh mà về mặt nghiên cứu nhiều người đã nhắc đến. Sau phần đăng tải bài viết của Vũ Kỳ, với tư cách là một người sưu tầm, tôi cũng xin mạn phép đưa ra một vài ý kiến thô thiển, nhận xét về bài viết có ý nghĩa lịch sử đó. Triệu Tử

Vũ Kỳ

Bác Hồ với Tết Mậu Thân năm ấy

Hội nghị Trung ương 14 khoá ba họp vào tháng 6 năm 1967 đã quyết định mở cuộc tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Mậu thân năm 1968 để đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước lên một bước mới, giành thắng lợi quyết định.

Suốt 6 tháng rời nỗ lực ráo riết, việc chuẩn bị về cơ bản đã hoàn thành – cần có một cuộc họp Bộ Chính trị để rà soát lại toàn bộ mọi công tác và hạ quyết tâm chiến lược, cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Lúc này Bác Hồ đang nghỉ ở Bắc Kinh. Ra đi từ ngày 5-9-1967, bây giờ đã vào cuối năm. Sáng ngày 21-12-1967, Văn phòng Trung ương điện sang mời Bác trở về dự hội nghị Bộ Chính trị sẽ khai mạc vào sáng 28-12-1967.

Bấy giờ tối thứ bảy, ngày 23 tháng 12, máy bay đưa bác đến vùng trời Hà Nội. Lượn hai vòng vẫn chưa hạ cánh được vì đèn chỉ huy trên sân bay chệch 15 độ. Đồng chí lái giàu kinh nghiệm quyết tâm hạ cánh không theo đèn. Rất may là an toàn. Các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ ra đón Bác tại sân bay, đưa Bác về nhà và báo cáo công việc với Bác.

Buổi làm việc kéo dài đến tận khuya, Bác nói vui: “Sắp bước vào năm đánh lớn, phải giữ sức để đánh được liên tục”. Trước khi đi ngủ Bác gọi dây nói sang Văn phòng Quân uỷ, hỏi sức khoẻ của đồng chí Võ Nguyên Giáp – lúc này nghỉ ở Hung-ga-ri và nhắc gửi thiếp và quà cho vợ chồng chú Văn. Bác nói:

– Dịp Nô-en và Tết dương lịch bên ấy như Tết ta ở bên mình. Tâm lý những người xa quê hương rất mong có một món quà của Tổ quốc.

Trên các chiến trường công tác chuẩn bị khẩn trương vẫn được tiến hành; một số lớn các lượng thuốc nổ, vũ khí bí mật đã được chuyển vào các thành phố, đô thị miền Nam.

Sáng 25 tháng 12 năm 1967, thứ hai, 7 giờ 15 phút, Bác sang hội trường Ba đình, chủ toạ cuộc gặp mặt chúc mừng năm mới của Đoàn Ngoại giao ở Hà Nội. Bác rất vui, chúc năm mới Đoàn Ngoại giao. Tiếng Bác sang sảng và như trẻ ra.

Ngày 28 tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt ngay bên nhà Bác Hồ, có bản đồ to kê trên bục trong phòng họp và nhiều tướng lĩnh đến báo cáo.

Từ sự phân tích và nhận định tình hình, Bộ Chính trị đề ra: “Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa đề giành thắng lợi quyết định”.

Chiều tối sau phiên họp Bộ Chính trị kéo dài và căng thẳng, Bác trở về nhà sàn, chân bước chậm rãi, có lẽ có một điều gì đó khiến Bác chưa thật an tâm. Cuộc họp hôm nay Bác chủ trì, ngồi ở ghế đầu bàn, đồng chí Lê Duẩn báo cáo toàn bộ vấn đề và quán xuyến việc thảo luận.

Đèn trên buồng ngủ Bác đêm nay tắt chậm hơn mọi tối.

Chiều 29 tháng 12, Bác Hồ mời Bác Tôn đến cùng ăn cơm. Ngắm hai cụ già thân mật đi bên nhau, thanh thản, ung dung, nói cười vui vẻ, ta cảm thấy cuộc đời đẹp biết bao, tưởng như đất nước thanh bình.

Ngày 30 tháng 12 thứ bảy, buổi sáng từ 7 giờ 15 đến 9 giờ 30 Bác lại dự họp Bộ Chính trị, nghe đồng chí Cao Văn Khánh, Phó tổng tham mưu trưởng, báo cáo thêm những diễn biến mới nhất của tình hình chiến sự miền Nam. Bác ngồi nghe, một tay giữ lấy kính, chăm chú nhìn vào bản đổ khổ lớn treo trên tường.

Buổi chiều từ 17 giờ đến 18 giờ, Bác tham dự phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ. Bác tặng mỗi người, từ Bộ trưởng đến nhân viên phục vụ một quả cam hái từ vườn Bác và một thiếp hồng chúc mừng năm mới. Nói chuyện trong phiên họp, Bác biểu dương những thắng lợi to lớn của quân và dân hai miền Nam Bắc, khen ngợi sự cố gắng của các Ngành, các Bộ. Bác đặc biệt khen ngợi các cháu thanh niên, thiếu niên, cả gái và trai. Bác nói: “Chúng ta là những người tham gia cách mạng lâu, đã chống Pháp thắng lợi, cứ tưởng chúng ta có nhiều kinh nghiệm rồi, nhưng bây giờ phải học tập chiến sĩ, học tập thanh niên. Thanh nien ta bây giờ hăng hái làm việc, không kể giờ giấc, ngày đêm, dám đánh giặc, không sợ chết. Một người đã không sợ chết, một dân tộc đã không sợ hy sinh, gian khổ thì nhất định sẽ chiến thắng”.

Bác nhận xét về hoạt động của Chính phủ: “Trong Chính phủ ta, tuy đã cố gắng, nhưng phải cố gắng nhiều hơn nữa, phải luôn luôn tự nhận xét mình về mọi hành động, về công tác cũng như về đạo đức cách mạng, chú ý tự phê bình và phê bình hơn nữa, có như vậy mới theo kịp quần chúng, theo kịp chiến sĩ”.

Lời dạy của Bác cách đây tròn 30 năm, trong một bối cảnh hoàn toàn khác, mà vẫn vô cùng cần thiết cho chúng ta hôm nay.

Họp Hội đồng Chính phủ về, Bác mời cơm chị Cúc, vợ đồng chí Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và hai cháu. Anh Thanh vừa mất đột ngột cách đó 5 tháng. Bác tiếc thương vô hạn và muốn dành tình cảm thân thiết, yêu thương để an ủi gia đình.

Ngày chủ nhật 31-12-1967, ngày cuối cùng của một năm chiến đấu quyết liệt và chiến thắng vẻ vang trên khắp hai miền đất nước. Bảy giờ 30 sáng, Bác Hồ ung dung ra Phủ Chủ tịch để thu thanh chúc mừng năm mới Mậu Thân mà có lẽ Bác đã ngẫm nghĩ và trao đổi có lẽ đến 3 tháng ròng. Bài thơ “Toàn thắng ắt về ta” như bài hịch đã đi vào lịch sử. Chị Trần Thị Tuyết trực tiếp ngâm cho Bác nghe, vừa để ghi tiếng vào băng phát lúc Giao thừa. Bữa cơm chiếu nay Bác lại cho mời khách đặc biệt: 3 phụ nữ miền Nam Thành đồng tổ quốc. Chị Hai Hùng, vợ đồng chí Phạm Hùng; chị Mười Cúc, vợ đồng chí Nguyễn Văn Linh; chi Mười (Đồng Tháp). Tấm lòng của Bác đối với cả miền Nam là như thế. Đồng chí Phạm Hùng, Đồng chí Nguyễn Văn Linh đang ở chiến trường xa nhận được tin này chắc hẳn càng nhớ Bác rất nhiều.

Năm mới 1968, sáng mùng một 1 tháng 1, Bác đi thăm một số nơi bị máy bay Mỹ bắn phá tại Hà Nội.

2 giờ 30 phút chiều, Bộ Chính trị đến làm việc, Bác căn dặn công việc trước khi Bác lên đường tiếp tục đi nghỉ ở Trung quốc. Đó là quyết định của Bộ Chính trị và Hội đồng bác sĩ.

Thế trận đã dàn xong. Ba quân đã sẵn sàng. Lời hịch đã phát. Bác Hồ ra đi chuyến này an tâm hơn.

Ngoài liên lạc hàng ngày, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước vẫn thay nhau đến Bắc Kinh, trực tiếp báo cáo và xin ý kiến Bác. Bốn giờ chiều 20-1-1968, đồng chí Lê Đức Thọ sang làm việc với Bác đến 6 giờ tối. Sáng ngày 25 tháng 1 năm 1968, đồng chí Võ Nguyên Giáp đến trực tiếp báo cáo với Bác từ 8 giờ đến 9 giờ 15 phút. Tối 26 tháng 1 năm 1968, đã gần Tết Mậu thân, từ 7 giờ đến 8 giờ, hai Bác cháu ngồi im lặng trong phòng vặn nhỏ Đài tiếng nói Việt Nam.

Ở Miền Nam những binh đoàn chủ lực, theo kế hoạch đang bí mật áp sát các bàn đạp tiến công. Chỉ thị cụ thể của Bác cho các chiến trường là:

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ
Hợp đồng phải thật ăn khớp
Bí mật phải thật tuyệt đối
Hành động phải thật kiên quyết
Cán bộ phải thật gương mẫu

Ngày 29 tháng Chạp ta. Năm nay 29 là 30 Tết. 6 giờ chiều, nhận được điện của Bộ Chính trị và Trung ương chúc mừng Bác Hồ năm mới.

Tối nay từ Bắc Kinh xa xôi, hai Bác cháu lại ngồi im lặng bên nhau, nghe tin tức, ca nhạc và nghe ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Thời gian trôi đi chầm chậm. Thấy vẻ Bác trầm ngâm đượm buồn. Chắc Bác đang nhớ về đất nước, nhớ chiến sĩ đồng bào, nhớ các cháu thiếu nhi. Từ ngày Bác trở về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, có năm nào Tết đến mà Bác không đến với đồng bào và chiến sĩ đâu… Chỉ có mùa Xuân này Bác phải xa Tổ quốc.

Bác bảo tôi: Chú mở cái băng gì vui vui cho Bác nghe với. Tôi biết Bác thương nhớ nhất các cháu nhỏ nên tôi chọn một băng có nhiều bài hát thiếu nhi mở cho Bác nghe. Khi một giọng hát ngây thơ của một em bé hát bài “Bé bé bồng bông… em đi sơ tán, mai về phố đông”, tôi thấy Bác mỉm cười.

Có tiếng pháo nổ ran tiễn Đinh Mùi đón Mậu Thân. Cùng lúc, từ chiếc đài bán dẫn, lời chúc Tết của Bác Hồ vang lên sang sảng:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Trong căn phòng vắng chỉ có hai người. Tiếng Bác Hồ ngân vang. Lời Bác Hồ chúc mừng năm mới trong Đài được truyền đi khắp mọi miền đất nước và cả thế giới nữa. Khi Đài đọc xong câu cuối của bài thơ “Tiến lên toàn thắng ắt về ta” tôi bỗng nghe Bác nói khẽ: “Giờ này miền Nam đang nổ súng…”.

Phải đến gần hết sáng mồng Một Tết Mậu thân, mới có tin chiến thắng báo cáo Bác Hồ: “Đánh khắp miền Nam” . Ánh mắt Bác rực sáng niềm vui.

Ngày 3 tháng 2 năm 1968, mồng Bốn Tết, cũng là ngày thành lập Đảng. Mới 6 giờ Bác bảo tôi chuẩn bị giấy bút, làm việc sớm hơn mọi ngày. Bác ngồi nhìn ra cửa sổ và đọc:

Đã lâu không làm bài thơ nào, phẩy xuống dòng

Tôi ngừng bút hỏi:

–Thưa Bác, thơ à?

– Chú cứ viết tiếp: Nay lại thử làm thơ xem sao?, phẩy, xuống dòng

Tôi nghĩ đúng là thơ rồi. Nhưng sao như câu nói chuyện bình thường.

Bác đọc tiếp: Lục khắp giấy tờ vẫn chẳng thấy, phẩy xuống dòng.

Tôi phân vân quá vẫn chẳng thấy thơ đâu.

Bác nhìn tôi bảo:

–Chú viết tiếp.

Rồi Bác đứng dậy đọc to câu cuối cùng, giọng sảng khoái, ánh mắt vui:

Bỗng nghe vần “thắng vút” lên cao!

Vũ Kỳ

Nguồn: Văn Nghệ số Tết Mậu Dần 1998, tr. 4.

Vài nhận xét của người sưu tầm:

  • 23-12-1967, Hồ Chí Minh từ Bắc Kinh về nước để họp Bộ Chính Trị. Đối với một lãnh tụ, trong một chuyến trở về quan trọng như vậy, không hiểu sao lại có sự cố máy bay “Lượn hai vòng vẫn chưa hạ cánh được vì đèn chỉ huy trên sân bay chệch 15 độ. Đồng chí lái giàu kinh nghiệm quyết tâm hạ cánh không theo đèn. Rất may là an toàn”. Nếu người phi công lái máy bay hạ cánh đúng “theo đèn” thì sao? Có thể coi là lỗi kỹ thuật để giải thích sự kiện chết người này hay không? Trên máy bay có ai khác không? Đó có phải là một chuyên cơ? Việc nhờ “quyết tâm” của phi công mà may mắn thoát hiểm sau đó có được đem ra kiểm điểm ở một cơ quan chức năng thích hợp hay không, người ta không biết nhưng chỉ thấy Vũ Kỳ kể lại như một “sự cố” rồi cho qua một cách tự nhiên như không có gi quan trọng lắm. Nhưng có thật là không quan trọng qua sự bộc lộ và diễn tả của Vũ Kỳ?
  • Ngày 28-12-1967 Bộ Chính Trị họp về chủ trương Mậu Thân, hôm 25-12-1967, Võ Nguyên Giáp vẫn còn đi nghỉ ở Hung-ga-ri. Tại sao? Nhưng qua cách trình bày của Vũ Kỳ thì có vẻ như Đại tướng đi nghỉ dài ngày. Vì Vũ Kỳ cho biết: “Trước khi đi ngủ Bác gọi dây nói sang Văn phòng Quân uỷ, hỏi sức khoẻ của đồng chí Võ Nguyên Giáp – lúc này nghỉ ở Hung-ga-ri và nhắc gửi thiếp và quà cho vợ chồng chú Văn. Bác nói: – Dịp Nô-en và Tết dương lịch bên ấy như Tết ta ở bên mình. Tâm lý những người xa quê hương rất mong có một món quà của Tổ quốc.”

    Có thể cho rằng Võ Nguyên Giáp đã bị cho đi nghỉ dài ngày hay không? Vì nếu không như thế thì Hồ Chí Minh không nói việc Đại tướng đi nghỉ là việc “xa quê hương” và không cần phải ra lệnh gửi đi một “món quà của Tổ quốc” như gửi cho một người con xa xứ. Như vậy trong cuộc họp quan trọng ráo riết của Bộ Chính Trị chuẩn bị chiến dịch Mậu Thân vào ngày 28-12-1967, người ta có thể cho rằng rất khó có sự tham dự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp? Sự thật ra sao? Phải chăng nghi vấn đó xác nhận thêm sự kiện tướng Giáp bị phe cánh các ông Lê Duẩn và Lê Đức Thọ gạt ra ngoài như thực tế đã chứng minh? Về mặt sử học, vấn đề gợi ra sẽ là: vai trò thực sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là gì trong Mậu Thân và cả trong chiến tranh Đông Dương lần thứ 2?

  • Vũ Kỳ cho biết trong cuộc họp với Bộ Chính Trị, Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ trì nhưng cũng lại viết thêm rằng tất cả đều do Tổng Bí Thư Lê Duẩn “báo cáo toàn bộ vấn đề và quán xuyến việc thảo luận”. Trong buổi họp “kéo dài, căng thẳng” ấy, Hồ Chí Minh tỏ vẻ trầm ngâm, không biết có nói gì không mà khi trở về thì tâm trạng lại lảng vảng một điều gì đó khiến ông “chưa thật an tâm” đến nỗi phải trằn trọc mãi như Vũ Kỳ viết: “Đèn trên buồng ngủ Bác đêm nay tắt chậm hơn mọi tối.” Những sự kiện kể lại mơ hồ nhưng dường như chứa đựng một cái gì đó có vẻ nặng nề không thể nói ra. Có thể đó là một dấu hiệu, cùng với với nhiều dấu hiệu khác, cho biết trong nội bộ Đảng đã có sự không nhất trí về chủ trương Mậu Thân biểu hiện giữa Hồ Chí Minh/Võ Nguyên Giáp với phe các ông Lê Duẩn/Lê Đức Thọ?
  • Qua sự mô tả của Vũ Kỳ, những ngày đi “nghỉ” ở Bắc Kinh, bệnh tình của Hồ Chí Minh không có vẻ gì trầm trọng lắm. Và cũng không biết bệnh gì đã khiến vị chủ tịch phải đi nghỉ dài hạn như vậy. Từ Bắc Kinh về Hà Nội làm một số thủ tục trình diễn trong một tuần rồi lại vội vàng rời Hà Nội đi Bắc Kinh nữa. Cũng không có vẻ gì bệnh hoạn cả cho nên cũng không thể không nghĩ rằng đó là một ép buộc phải đi như Vũ Kỳ viết: “2 giờ 30 phút chiều, Bộ Chính trị đến làm việc, Bác căn dặn công việc trước khi Bác lên đường tiếp tục đi nghỉ ở Trung quốc. Đó là quyết định của Bộ Chính trị và Hội đồng bác sĩ”. Mấy chữ “quyết định” của Bộ Chính trị ở đây như muốn nhấn mạnh một điều gì không bình thường khi Vũ Kỳ viết thêm sau đó “Chỉ có mùa Xuân này Bác phải xa Tổ quốc” với tâm trạng nhớ nhà da diết, khiến người đọc có cảm giác thấy chủ tịch không thật sự “an tâm công tác” cho lắm, sự “an tâm” mà ông thường dặn dò cán bộ như một phẩm chất của “tính đảng” cao.
  • Không rõ Hồ Chí Minh có biết chính xác giờ G Mậu thân nổ ra hay không nhưng phải chờ đến sáng hôm sau qua báo cáo từ nhà ông mới cho biết đã: “Đánh khắp miền Nam”. Trong khi đó thì chờ đón Giao thừa, ông lại tỏ vẻ buồn bã đến nỗi bảo Vũ Kỳ cho nghe một cái băng gì vui vui một chút. Và cái bẳng gọi là “vui vui” ấy không phải là “Tiến về Sài gòn” mà chỉ là bài hát mẫu giáo “bé bé bồng bông … em đi sơ tán, mai về phố đông”! Ta có cảm tưởng như Vũ Kỳ biết rõ cái “gu” thích nhạc mẫu giáo là đồng nghĩa với lòng yêu mến thiếu nhi của chủ tịch, nên lúc nào cũng mang theo sẵn (ngay cả khi qua tận Bắc Kinh xa xôi) để có dịp thì vặn lên làm cho “Bác mỉm cười”!

    Toàn bộ bài viết có nhiều điều thiếu hẳn cái không khí “hồ hởi cách mạng” như thường lệ, nhất là trong không khí Mậu Thân, ý nghĩa có nhều điều dường như khó hiểu, không bộc lộ hết, vì thế không thể không gợi ra nhiều điều ẩn tàng trong những dòng chữ của người thư ký thân cận của lĩnh tụ. Dĩ nhiên với một thường nhân như tôi thì đó vẫn chỉ là những suy đoán. Xin nhường lời lại cho những sử gia chuyên nghiệp!

Nguồn: viet-studies

VAI TRÒ CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG TRẬN MẬU THÂN
QUA BÀI VIẾT CỦA VŨ KỲ

* * *

Lời giới thiệu:

Trong nhiều năm trước đây guồng máy tuyên truyền cuả chính phủ Hà Nội đã thần thánh hoá Hồ chí Minh bằng sách báo và phim ảnh khiến cho dư luận trong và ngoài nước đều nghĩ và tin ông Hồ là một nhân vật có một quyền uy, quyền lực tuyệt đối trong chức vụ chủ tịch Ðảng và sau này là chủ tịch nước. Sau năm 1975, Ðảng còn lấy tên ông Hồ đặt tên cho thành phố Sài gòn khiến người ta càng tin tưởng quyền hành tuyệt đối của ông trong bộ máy quyền lực , ngay cả sau khi ông qua đời.

Tuy vâỵ, có hai người, một ngưòi là sử gia Pháp và người kia là cán bộ cuả Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đã đưa ra nhận định là ông Hồ chí Minh bị thất sủng lúc cuối đời. Nói thẳng ra là ông bị tước hết quyền lực vào thời kỳ cuối của cuộc đời ông. Ðó là một chuyện rất khó nhìn thấy trong một chế độ như chế độ Cộng sản Việt Nam, vốn thần thánh hóa ông Hồ trong thời gian ông còn sống và ngay cả sau khi ông qua đời.

Người thứ nhất là sử gia Pháp Pierre Brocheux, người đã bỏø ra trên nửa thế kỷ nghiên cứu về Hồ chí Minh, đã đưa ra nhận định chính xác như sau trong bài phỏng vấn với đài BBC vào tháng 10 năm 2003 như sau :

Theo nghiên cứu của tôi thì cả một giai đoạn trước khi qua đời , ông Hồ bị cách ly khỏi quyền lực , tức là không hề có quyền gì, ông ấy biến thành một biểu tượng . Vì thế cuốn sách của tôi còn có một tựa đề nữa là ” Hồ chí Minh, một nhà cách mạng biến thành một biểu tượng ” . Ý tôi muốn nói ông bị người ta biến thành một biểu tượng không có quyền, một biểu tượng yếu về quyền lực “.

Pieree Brocheux khá tài giỏi khi phát hiện được chuyện Hồ chí Minh bị tước quyền lực lúc cuối đời nhưng ông không đưa ra những chứng minh cụ thể nào cho nhận định của ông . Chuyện Hồ chí Minh bị đẩy ra khỏi Việt Nam trong dịp Tết Mậu Thân là một dấu hiệu rõ ràng nhất của chuyện suy yếu quyền lực của Hồ chí Minh lại không được Pierre Brocheux mổ xẻ chi tiết nhằm chứng minh cho lập luận của ông.

Người thứ hai là Lữ Phương, một cán bộ có chức vụ thứ trưởng trong tổ chức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đã nhìn thấy chuyện Hồ chí Minh mất quyền lực trong trận Tổng công kích Tết Mậu Thân. Ðó là ưu điểm của Lữ Phương so với Pierre Brocheux. Nhưng Lữ Phương không nhìn ra được âm mưu cuả bọn đàn em Lê Duẩn , Lê đức Thọ tính toán dùng tai nạn phi cơ để giết Hồ chí Minh vào tối thứ bảy 23- 12 – 1967 khi Hồ chí Minh và người hầu cận Vũ Kỳ trở về Hà Nội từ Trung Cộng . Hồ chí Minh thoát chết vì viên phi công lái quá tài giỏi, đáp phi cơ theo trí nhớ khi đèn hiệu trên sân bay đổi.

Trong bài ” Huyền thoại Hồ chí Minh ” Lữ Phương đã đưa ra những nhận định chính xác về chuyện Hồ chí Minh bị bọn đàn em cho ra rìa trong trận Mậu Thân như sau :

..Không biết có khi nào suy ngẫm lại những cái đã qua, ông cảm thấy những bất ổn trong những vở kịch do mình tạo ra hay không, nhưng từ bên ngoài, nhiêù người đã thấy khá nhiều những bực bội, buồn phiền gây ra cho ông bởi chính cái âm binh cách mạng của ông. Có nhiều chuyện không vui vẻ lắm, nhưng chuyện ông bị cho ra rià suốt trong quãng đời còn lại trước khi ông mất là đáng chú ý nhất. Sau cải cách ruộng đất năm 1956 ở miền Bắc, do nhập từ Trung Quốc, quá thất đức và sai lầm, ông đưa Võ nguyên Giáp , uy tín như cồn sau Ðiện Biên Phủ, ra thay mặt Ðảng xin lỗi nhân dân, sau đó định sẽ lên thế chỗ Trường Chinh làm Tổng bí thư. Lúc bấy giờ ở Liên xô, Krushchev đang thắng thế với đường lối hoà bình, trong Ðảng Việt Nam cũng có xu hướng ấy. Nhưng tình hình Việt Nam lại không thuận lợi để phát triển. Do cưòng độ cuộc chiến tranh ở miền Nam đã lên cao, đường lối quyết liệt dùng bạo lực để giải quyết chiến tranh thắng thế đã đưa cánh Lê Duẩn – Lê đức Thọ lên nắm quyền.

Về Võ nguyên Giáp thì kết quả ai cũng nhìn thấy : bị quy là kẻ cầm đầu chủ nghĩa xét lại và bị trù dập suốt một thời gian dài, đến khi Lê Duẩn chết mới thôi. Còn về Hồ chí Minh thì dường như chẳng có gì, nhưng thật sự cũng đã chịu chung số phận với tướng Giáp. Bên ngoài thì vẫn đi đây đi đó, chỉ đạo việc này việc kia.. nhưng bên trong đã dần dà bị cô lập, chỉ giữ vai trò của một ngọn cờ tượng trưng , không có ảnh hưởng gì lắm tới những quyết định lớn. Theo một bài viết của Vũ Kỳ ( đăng trên một số báo Văn Nghệ Xuân cách đây vài năm ), công lao cuả Hồ chí Minh trong cuộc ” Tổng tấn công và nổi dậy năm 1968 ” vỏn vẹn chỉ có bài thơ ” Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà “. Sau khi ghi âm bài thơ này thì ông được đưa di …nghỉ. Vũ Kỳ thuật lại rằng ông Hồ chỉ biết ngày giờ cuộc ” Tổng tấn công và nổi dậy ” nổ ra qua Ðài phát thanh nghe được ở nơi ông được gửi đi nghỉ là Bắc Kinh- cùng với giọng đọc của ông, ra rả suốt ngày về bài văn vần nói trên. Nhiều người đã nói đến nhiều khuynh hướng đốinghịch nhau trong Ðảng Cộng sản Việt Nam thời chiến tranh: nhưng qua câu chuyện trên, ta thấy có hai xu hướng chính trong suốt một thời gian dài : Lê Duẩn- Lê đức Thọ đối đầu với Hồ chí Minh – Võ nguyên Giáp.

Dù sao chế độ vẫn cần sự thiêng liêng của ông để tạo ra sự thiêng liêng cho chính mình nên cái chết cuả ông cũng đã được cánh Lê Duẩn – Lê đức Thọ khai thác triệt để để ” xài ” một cách thoải mái. Ngày chết của ông là 2- 9 vì trùng với ngày Quốc Khánh nên người ta dời lại 3- 9 – 1969. Trongdi chúc cuối cùng, ông muốn được hoả táng và đem tro rải xuống biển hoặc chôn vaò một vùng đất nào đó, người ta lại bỏ không biết bao nhiều tiền bạc ra ướp xác và xây lăng nghìn đời cho ông “

( Trich từ bài ” Huyền thoại Hồ chí Minh ” của Lữ Phương)

Nói chung, Pierre Brocheux và Lữ Phương đều nhìn thấy tình trạng mất quyền lực của Hồ chí Minh trong những ngày tháng cuối đời. Nhưng cả hai Pierre Brocheux và Lữ Phương không giải thích được vì sao Hồ chí Minh bị thất sủng và mất quyền lực trong những năm cuối đời. Về chuyện này chính Hồ chí Minh đã trả lời minh bạch trong di chúc viết ngày 14 tháng 8 năm 1969 rằng ông bị cô lập và tước hết quyền lực sau khi ông tìm cách liên lạc và tính chuyện hoà hợp hoà giải với ông Ngô đình Diệm vào xuân 1963. ( Có thể vào www.nsvietnam.com rồi bấm vào tên Trần viết Ðại Hưng nằm bên trái rồi bấm vào bài số 114 ) Một cách lý giải về chuyện Hồ chí Minh bị mất quyền lực trong những năm cuối đời ) để rõ tường tận hon vấn đề này.

Trận Mậu Thân đã cho thấy rõ ràng Hồ chí Minh không còn quyền hành gì nưã cả. Bài viết của Vũ Kỳ dù được viết kheó leó đến đâu đi nữa thì cũng phô bày cái thế thất thế không che dấu nổi của Hồ chí Minh. Nguyên nhân thất thế của Hồ chí minh bắt nguồn từ xuân năm 1963, khi Hồ chí Minh gửi 2 cành đào tặng Tổng thống Ngô đình Diệm với ước mong hoà hợp hoà giải với miền Nam. Quốc tế Cộng sản cho phép đàn em như Lê Duẩn và Lê đức Thọ tưóc hết quyền của Hồ chí Minh sau khi Hồ chí Minh tính chuyện thoả hiệp với Tổng thống Ngô đình Diệm. Trong di chúc viết ngày 14 – 8 – 1969 , Hồ chí Minh đưa ra nhận định là Ngô đình Diệm bị giết và bản thân Hồ chí Minh bị tước hết quyền lực vì toan tính thoả hiệp này. Hồ chí Minh và Ngô đình Diệm không phá vỡ nổi gọng kềm sắt đá mà Cộng sản và Tư bản áp đặt lên hai miền Nam, Bắc Việt Nam. Thân phận nhược tiểu của nước Việt Nam đau đớn và nhục nhã như thế đó !

Trong dịp Tết Mậu Thân., thật đáng tội nghiệp cho Hồ chí Minh không được ở quê nhà hưởng tết cùng đồng bào thân yêu , trái lại bị tống qua Bắc Kinh nằm chầu rià một cách cô đơn, buồn bã. Thân phận Hồ chí Minh lúc đó thui thủi như con mèo bị cắt tai vậy . Cho nên qua diễn tiến Tết Mậu Thân, chuyện Hồ chí Minh bị thất sủng không còn là một chuyện mơ hồ nữa mà là một sự thật trắng trợn và phũ phàng mà ai cũng nhìn thấy.

Trần viết Ðại Hưng ( tháng 2 năm 2010 )
 

 * * * 

BÀI CUẢ VŨ KỲ VIẾT VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
ÐÔÍ VỚI SỰ BIẾN MẬU THÂN, XUẤT HIỆN TRÊN BÁO
VĂN NGHỆ CÁCH ÐÂY 11 NĂM

Triệu Tử, viet-studies
16. 07.2009

Lời cuả người sưu tầm : Sau khi đọc ” Một chút tư liệu về việc viết và công bố Di chúc của Chủ tịch Hồ chí Minh ” trên viet-studies, tôi dò đến bài trên báo Công An Nhân Dân đề cập bài của Lữ Phương viết về Hồ chí Minh và thấy thật sự thì bài viết này của Lữ Phương đã có sẳn nơi ” Ðặc trang Lữ Phương ” cuả viet-studies ( www.viet-studies.info) ( mục ” Từ Nguyễn tất Thành đến Hồ chí Minh “) , nói thật cụ thể về xuất xứ bài của Vũ Kỳ, tôi đã nhờ bạn bè tìm hộ và biết chắc đó là bài ” Bác Hồ với Tết Mậu Thân năm ấy” đăng trên Văn Nghệ số tết Mậu Dần 1998 trang 4. Vì đây là một tư liệu quan trọng , do Vũ Kỳ là thư ký riêng thân tín và lâu năm của Chủ tịch Hồ chí Minh công bố như một chứng từ , tôi mạo muội xin báo Văn Nghệ cho phép tôi nhờ viet-studies đăng lại, mục đích chỉ muốn rọi sáng thêm một vài chi tiết đáng chú ý xảy ra trong những năm cuối đời của Hồ chí Minh mà về mặt nghiên cứu nhiều người đã nhắc đến. Sau phần đăng tải bài viết của Vũ Kỳ, với tư cách là một người sưu tầm, tôi cũng xin mạn phép đưa ra một vài ý kiến thô thiển , nhận xét về bài viết có ý nghĩa lịch sử đó. ( Triệu Tử )

Vũ Kỳ

Bác Hồ với Tết Mậu Thân năm ấy

Hội nghị Trung ương 14 khoá 3 họp vào tháng 6 năm 1967 đã quyết định mở cuộc tiến công và nổi dậy vào dịp Tết Mậu Thân năm 1968 để đẩy cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lên một bước mới , giành thắng lợi quyết định.

Suốt 6 tháng trời nỗ lực ráo riết, việc chuẩn bị về cơ bản đã hoàn thành – cần có một cuộc họp Bộ chính trị để rà soát lại toàn bộ mọi công tác và hạ quyết tâm chiến lược , cho toàn Ðảng, toàn quân và toàn dân. Lúc này Bác Hồ đang nghỉ ở Bắc Kinh. Sáng ngày 21—12 – 1967, Văn Phòng trung ương điện sang mời Bác trờ về dự hội nghị sẽ khai mạc vào sáng 28- 12 – 1967

Bấy giờ tối thứ bảy, ngày 23 tháng 12, máy bay đưa Bác đến vùng trời Hà Nội. Lượn hai vòng vẫn chưa hạ cánh được vì đèn chỉ huy trên sân bay chệch 15 độ. Ðồng chí lái giàu kinh nghiệm quyết tâm hạ cánhkhông theo đèn. Rất may là an toàn. Các đồng chí Lê Duẩn, Phạm văn Ðồng, Lê đức Thọ ra đón Bác tại sân bay, đưa Bác về nhà và báo cáo công việc với Bác.

Buổi làm việc kéo dài đến tận khuya. Bác nói vui, ” Sắp bước vào năm đánh lớn, phải giữ sức để đánh được liên tục”. Trước khi đi ngủ Bác gọi dây nói sang Văn phòng Quân uỷ , hỏi sức khoẻ của đồng chí Võ nguyên Giáp – lúc này nghỉ ở H ung- ga – ri và nhắc gửi thiếp và quà cho vợ chồng chú Văn. Bác nói:

– Dịp nô-en và Tết dương lịch bên ấy như Tết ta ở bên mình. Tâm lý những người xa quê hương rất mong có một món quà của Tổ quốc.
Trên các chiến trường công tác chuẩn bị khẩn trương vẫn được tiến hành; một số lớn các lượng thuốc nổ , vũ khí bí mật đã được chuyển vào các thành phố , đô thị miền Nam.

Sáng 25 tháng 12 năm 1967, thứ hai, 7 giờ 15 phút, Bác sang hội trường Ba Ðình, chủ tọa cuộc gặp mặt chúc mừng năm mới của Ðoàn ngoại giao ở Hà Nội . Bác rất vui, chúc năm mới Ðoàn ngoại giao. Tiếng Bác sang sảng và như trẻ ra.

Ngày 28 tháng 12 năm 1967, Bộ chính trị họp phiên đặc biệt ngay bên nhà Bác Hồ, có bản đồ to kê trên bục trong phòng họp và nhiều tướng lĩnh đến báo cáo .

Từ sự phân tích và nhận định tình hình, Bộ Chính trị đề ra: ” Nhiệm vụ trọng đại của ta là động viên những nỗ lực của toàn Ðảng, toàn quân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa giành thắng lợi quyết định”.

Chiều tối sau phiên họp Bộ Chính trị kéo dài và căng thẳng, Bác trở về nhà sàn, chân bước chậm rãi, có lẽ có một điều gì đó khiến Bác chưa thật an tâm. Cuộc họp hôm nay Bác chủ trì, ngồi ở ghế đầu bàn. Ðồng chí Lê Duẩn báo cáo toàn bộ vấn đề và quán xuyến việc thảo luận.

Ðèn trên buồng ngủ Bác đêm nay tắt chậm hơn mọi tối.

Chiều 29 tháng 12, Bác Hồ mời Bác Tôn đến cùng ăn cơm. Ngắm hai cụ già thân mật đi bên nhau, thanh thản ung dung, nói cười vui vẻ , ta cảm thấy cuộc đời đẹp biết bao, tưởng như đất nước thanh bình.

Ngày 30 tháng 12, thứ bảy, buổi sáng từ 7 giờ 15 đến 9 giờ 30, Bác lại dự họp Bộ Chính trị, nghe đồng chí Cao văn Khánh, Phó tổng tham mưu trưởng, báo cáo thêm những diễn biến mới nhất của tình hình chiến sự miền Nam. Bác ngồi nghe, một tay giữ lấy kính, chăm chú nhìn vào bản đồ khổ lớn treo trên tường.

Buổi chiều từ 17 giờ đến 18 giờ, Bác tham dự phiên họp cuối năm của Hội Ðồng Chính Phủ. Bác tặng mỗi người , từ bộ trưởng đến nhân viên phục vụ một quả cam hái từ vườn Bác và một thiếp hồng chúc mừng năm mới . Nói chuyện trong phiên họp , Bác biểu dương những thắng lợi to lớn của quân và dân hai miền Nam Bắc, khen ngợi sự cố gắng cuả các ngành, các bộ. Bác đặc biệt khen ngợi các cháu thanh niên, thiếu niên , cả gái và trai. Bác nói, ” Chúng ta là những người tham gia cách mạng lâu, đã chống Pháp thắng lợi , cứ tưởng chúng ta có nhiều kinh nghiệm rồi, nhưng bây giờ phải học tập chiến sĩ, học tập thanh niên. Thanh niên ta bây giờ hăng hái làm việc, không kể giờ giấc ngày đêm, dám đánh giặc, không sợ chết . Một người đã không sợ chết, một dân tộc đã không sợ hy sinh, gian khổ thì nhất định sẽ chiến thắng.”

Bác nhận xét về hoạt động cuả Chính phủ , ” Trong Chính phủ ta, tuy đã cố gắng, nhưng phải cố gắng nhiều hơn nưã, phải luôn luôn tự nhận xét mình về mọi hành động, về công tác cũng như về đạo dức cách mạng , chú ý tự phê bình và phê bình nhiều hơn nữa. Có như vậy mới theo kịp quần chúng, theo kịp chiến sĩ “

Lời dạy của Bác cách đây tròn 30 năm, trong một bối cảnh hoàn toàn khác , mà vẫn vô cùng cần thiết cho chúng ta hôm nay.

Họp Hội Ðồng Chính Phủ về , Bác mời cơm chị Cúc, vợ đồng chí Ðại tướng Nguyễn chí Thanh và hai cháu. Anh Thanh vừa mất đột ngột cách đó 5 tháng . Bác tiếc thương vô hạn và muốn dành tình cảm thân thiết, yêu thương để an ủi gia đình.

Ngày chủ nhật 31 – 12- 1967 , ngày cuối cùng của một năm chiến đấu quyết liệt và chiến thắng vẻ vang trên khắp hai miền đất nước. 7 giờ 30 sáng, Bác Hồ ung dung ra phủ chủ tịch để thu thanh chúc mừng năm mới Mậu Thân mà có lẽ Bác đã ngẫm nghĩ và trao đổi có lẽ đến ba tháng ròng. Bài thơ ” Toàn thắng ắt về ta ” như bài hịch đã đi vào lịch sử. Chị Trần thị Tuyết trực tiếp ngâm cho Bác nghe, vừa để ghi tiếng vào băng phát lúc giao thừa, Bữa cơm chiều nay Bác lại cho mời khách đặc biệt : 3 phụ nữ miền Nam thành đồng tổ quốc. Chị Hai Hùng, vợ đồng chí Phạm Hùng, chị Mười Cúc , vợ đồng chí Nguyễn văn Linh, chị Mười ( Ðồng Tháp ). Tấm lòng cuả Bác đối với cả miền Nam là như thế . Ðồng chí Phạm Hùng, đồng chí Nguyễn văn Linh đang ở chiến trường xa nhận được tin này chắc hẳn càng nhớ Bác rất nhiều

Năm mới 1968, sáng mồng 1 tháng 1, Bác đi thăm một số nơi bị máy bay Mỹ bắn phá tại Hà Nội

2 giờ 30 phút chiều, Bộ Chính trị đến làm việc, Bác căn dặn công việc trước khi Bác lên đường tiếp tục đi nghỉ ở Trung quốc . Ðó là quyết định cuả Bộ Chính trị và Hội đồng bác sĩ.

Thế trận đã dàn xong. Ba quân đã sẳn sàng. Lời hịch đã phát . Bác Hồ ra đi chuyến này an tâm.

Ngoài liên lạc hàng ngày, các đồng chí lãnh đạo Ðảng và nhà nước vẫn thay nhau đến Bắc Kinh trực tiếp báo cáo và xin ý kiến Bác. Bốn giờ chiều 20- 1 – 1968, đồng chí Lê đức Thọ sang làm việc với Bác đến 6 giờ tối . Sáng ngày 25 tháng 1 năm 1968, đồng chí Võ nguyên Giáp đến trực tiếp báo cáo với Bác từ 8 giờ đến 9 giờ 15 phút. Tối 26 tháng 1 năm 1968, đã gần Tết Mậu Thân, từ 7 đến 8 giờ, hai bác cháu ngồi im lặng trong phòng vặn nhỏ Ðài tiếng nói Việt Nam.

Ở miền Nam những binh đoàn chủ lực , theo kế hoạch đang bí mật áp sát các bàn đạp tiến công. Chỉ thị cụ thể cuả Bác cho các chiến trường là :

Kế hoạch phải thật tỉ mỉ
Hợp đồng phải thật ăn khớp
Bí mật phải thật tuyệt đối
Hành động phải thật kiên quyết
Cán bộ phải thật guơng mẫu

Ngày 29 tháng chạp ta. Năm nay 29 là 30 tết, nhận được điện của Bộ Chính trị và Trung ương chúc mừng Bác Hồ năm mới.

Tối nay từ Bắc Kinh xa xôi, hai bác cháu lại ngồi im lặng bên nhau, nghe tin tức, ca nhạc và nghe ngâm thơ tết, chờ đón giao thưà. Thời gian trôi đi chầm chậm. Thấy vẻ Bác trầm ngâm đượm buồn. Chắc Bác đang nhớ về đất nước, nhớ chiến sĩ đồng bào, nhớ các cháu thiếu nhi. Từ ngày Bác trở về nước sau hơn 30 năm xa tổ quốc, có năm nào tết đến mà Bác không đến với đồng bào và chiến sĩ đâu.. Chỉ có muà xuân này Bác phải xa tổ quốc.

Bác bảo tôi, ” Chú mở cái băng gì vui vui cho Bác nghe với ” . Tôi biết Bác thương nhớ nhất các cháu nhỏ nên tôi chọn một băng có nhiều bài hát thiếu nhi mở cho Bác nghe. Khi một giọng hát ngây thơ của một em bé hát bài ” Bé bé bồng bông.. em đi sơ tán, mai về phố đông ” , tôi thấy Bác mỉm cười.

Có tiếng pháo nổ ran tiễn Ðinh Mùi đóng Mậu Thân. Cùng lúc , từ chiếc đài bán dẫn, lời chúc tết cuả Bác Hồ vang lên sang sảng:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên ! Toàn thắng ắt về ta !

Trong căn phòng vắng chỉ có hai người. Tiếng Bác Hồ ngân vang. Lời Bác Hồ chúc mừng năm mới trong đài được truyền đi khắp mọi miền đất nước và cả thế giới nữa. Khi đài đọc xong câu cuối của bài thơ ” Tiến lên toàn thắng ắt về ta ” , tôi bỗng nghe Bác nói khẽ , ” Giờ này miền Nam đang nổ súng “

Phải đến gần hết sáng mồng một Tết Mậu Thân, mới có tin chiến thắng báo cáo Bác Hồ ” Ðánh khắp miền Nam”. Ánh mắt Bác rực sáng niềm vui.

Ngày 3 tháng 2 năm 1968, mồng bốn tết, cũng là ngày thành lập Ðảng. Mới 6 giờ Bác bảo tôi chuẩn bị giấy bút , làm việc sớm hơn mọi ngày. Bác ngồi nhìn ra cưả sổ và đọc :

_ Ðã lâu không làm bài thơ nào, phẩy, xuống dòng

Tôi ngừng bút hỏi:

_ Thưa Bác, thơ à ?

_Chú cứ viết tiếp : Nay lại thử làm thơ xem sao? phẩy, xuống dòng

Tôi nghĩ đúng là thơ rồi. Nhưng sao như câu nói chuyện bình thường.

Bác đọc tiếp : Lục khắp giấy tờ vẫn chẳng thấy, phẩy xuống dòng

Tôi phân vân quá vẫn chẳng thấy thơ đâu.

Bác nhìn tôi bảo :

_ Chú viết tiếp.

Rồi Bác đứng dậy đọc to câu cuối cùng, giọng sảng khoái, ánh mắt vui:

_ Bỗng nghe vần ” thắng ” vút lên cao !

Vũ Kỳ
( Nguồn : Văn Nghệ số Tết Mậu Dần 1998, trang 4 )

Vài nhận xét của người sưu tầm;
 

  • 23 – 12- 1967 , Hồ chí Minh từ Bắc Kinh về nước để họp Bộ Chính trị . Ðối với một lãnh tụ, trong một chuyến trở về quan trọng như vậy, không hiểu sao lại có sự cố máy bay ” Lượn hai vòng vẫn chưa hạ cánh được vì đèn chỉ huy trên sân bay chệch 15 độ. Ðồng chí lái giàu kinh nghiệm quyết tâm hạ cánh không theo đèn. Rất may là an toàn ” . Nếu người phi công lái máy bay hạ cánh đúng ” theo đèn “ thì sao? Có thể coi là lỗi kỹ thuật để giải thích sự kiện chết người này không ? Trên máy bay có ai khác không ? Ðó có phải là một chuyên cơ ? Việc nhờ ” quyết tâm ” của phi công mà may mắn thoát hiểm sau đó có được đem ra kiểm điểm ở một cơ quan chức năng thích hợp hay không? Người ta không biết nhưng chỉ thấy Vũ Kỳ kể lại như một ” sự cố ” rồi cho qua một cách tự nhiên như không có gì quan trọng lắm. Nhưng có thật là không quan trọng qua sự bộc lộ và diễn tả của Vũ Kỳ ?
     
  • Ngày 28 – 12- 1967 Bộ Chính trị họp về chủ trương Mậu Thân, hôm 25- 12- 1967, Võ nguyên Giáp vẫn còn đi nghỉ ở Hung – ga –ri. , Tại sao? Nhưng qua cách trình bày của Vũ Kỳ thì có vẻ như Ðại tướng đi nghỉ dài ngày. Vì Vũ Kỳ cho biết, ” Trước khi đi ngủ Bác gọi dây nói sang văn Phòng Quân uỷ , hỏi sức khỏe của đồng chí Võ nguyên Giáp – lúc này nghỉ ở Hung- ga – ri và nhắc gửi thiếp và quà cho vợ chồng chú Văn. Bác nói, : – Dịp Nô-en và Tết dương lịch bên ấy như Tết ta ở bên mình. Tâm lý những người xa quê hương rất mong có một món quà của Tổ quốc “
    Có thể cho rằng Võ nguyên Giáp đã bị cho đi nghỉ dài ngày hay không ? Vì nếu không như thế thì Hồ chí Minh không nói việc Ðại tướng đi nghỉ là việc ” xa quê hương ” và không cần phải ra lệnh gửi đi một ” món quà của Tổ quốc ” như gửi cho một người con xa xứ. Như vậy trong cuộc họp quan trọng ráo riết của Bâộ Chính trị chuẩn bị chiến dịch Mậu Thân vào ngày 28- 12- 1967, người ta có thể cho rằng rất khó có sự tham dự cuả Ðại tướng Võ nguyên Giáp ? Sự thật ra sao ? Phải chăng nghi vấn đó xác nhận thêm sự kiện tường Giáp bị phe cánh các ông Lê Duẩn và Lê đức Thọ gạt ra ngoài như thực tế đã chứng minh ? Về mặt sử học , vấn đề gợi ra sẽ là : vai trò thực sự của Ðại tướng Võ nguyên Giáp là gì trong Mậu Thân và cả trong chiến tranh Ðông Dương lần thứ 2?

Vũ Kỳ cho biết trong cuộc họp với Bộ Chính trị , Hồ chí Minh giữ vai trò chủ trì nhưng cũng lại viết thêm rằng tất cả đều do Tổng bí thư Lê Duẩn ” báo cáo toàn bộ vấn đề và quán xuyến việc thảo luận “. Trong buổi họp kéo dài căng thẳng ấy, Hồ chí Minh tỏ vẻ trầm ngâm, không biết có nói gì không mà khi trở về thì tâm trạng lại lảng vảng một điều gì đó khiến ông ” chưa thật an tâm ” đến nỗi phải trằn trọc mãi như Vũ Kỳ viết, ” Ðèn trên buồng ngủ Bác đêm nay tắt chậm hơn mọi tối.” . Những sự kiện kể lại mơ hồ nhưng dường như chưá đựng một cái gì đó có vẻ nặng nề không thể nói ra. Có thể đó là một dấu hiệu, cùng với nhiều dấu hiệu khác, cho biết trong nội bộ Ðảng đã có sự không nhất trí về chủ trương Mậu Thân biểu hiện giữa Hồ chí Minh / Võ nguyên Giáp với phe các ông Lê Duẩn / Lê đức Thọ ?

Qua sự mô tả của Vũ Kỳ, những ngày đi ” nghỉ ” ở Bắc Kinh , bệnh tình của Hồ chí Minh không có vẻ gì trầm trọng lắm. Và cũng không biết bệnh gì đã khiến vị chủ tịch phải đi nghỉ dài hạn như vậy. Từ Bắc Kinh về Hà Nội làm một số thủ tục trình diễn trong một tuần rồi lại vội và rời Hà Nội đi Bắc Kinh nữa. Cũng không có vẻ gì bệnh hoạn cả cho nên cũng không thể không nghĩ rằng đó là một ép buộc phải đi như Vũ Kỳ viết, ” 2 giờ 30 phút chiều, Bộ Chính trị đến làm việc. Bác căn dặn công việc trước khi Bác lên đường tiếp tục đi nghỉ û ở Trung Quốc. Ðó là quyết định của Bộ Chính trị và Hội Ðồng Bác sĩ “. Mấy chữ ” quyết định của Bộ Chính trị ở đây như muốn nhấn mạnh một điều gì không bình thường khi Vũ Kỳ viết thêm sau đó, ” Chỉ có mùa xuân này Bác phải xa Tổ quốc ” . với tâm trạng nhớ nhà da diết , khiến người đọc có cảm giác thấy chủ tịch không thật sự ” an tâm công tác ” cho lắm, sự ” an tâm ” mà ông thường dặn dò cán bộ như một phẩm chất cuả ” tính đảng ‘ cao.

Không biết Hồ chí Minh có biết chính xác giờ G Mậu Thân nổ ra hay không nhưng phải chờ đến sáng hôm sau qua báo cáo từ nhà ông mới được cho biết đã, ” Ðánh khắp miền Nam ” . Trong khi chờ đón giao thừa , ông lại tỏ vẻ buồn bã đến nỗi bảo Vũ Kỳ cho nghe một cái băng gì vui vui một chút. Và cái băng gọi là ” vui vui ” ấy không phải là ” Tiến về Sài gòn ” mà chỉ là bài hát mẫu giáo ” Bé bé bồng bông.. bé đi sơ tán , mai về phố đông “! Ta có cảm tưởng như Vũ Kỳ biết rõ cái ” gu ” thích nhạc mẫu giáo là đồng nghĩa với lòng yêu mến thiếu nhi của chủ tịch, nên lúc nào cũng mang theo sẳn ( ngay cả khi qua tận Bắc Kinh xa xôi ) để có dịp thì vặn lên làm cho ” Bác mỉm cười ” !

Toàn bộ bài viết có nhiều điều thiếu hẳn cái không khí ” hồ hởi cách mạng ” như thường lệ, nhất là trong không khí Mậu Thân, ý nghĩa có nhiều điều dường như khó hiểu, không bộc lộ hết, vì thế không thể không gợi ra nhiều điều ẩn tàng trong những dòng chữ của người thư ký của lãnh tụ. Dĩ nhiên với một thường nhân như tôi thì đó vẫn chỉ là những suy đoán. Xin nhường lời lại cho những sử gia chuyên nghiệp !

Triệu Tử ( Nguồn : viet-studies)

Lời bàn của Trần viết Ðại Hưng:

Phải nhận yếu tố quan trọng trong bài viết của Vũ Kỳ là chuyến bay bay từ Trung cộng về Hà Nội ngày 23 tháng 12 năm 1967 là chuyến bay vào ban đêm. Khi bay ban đêm thì người phi công phải căn cứ vào đèn hiệu trên sân bay để đáp vì đêm tối mịt mùng không thể nhìn thấy phi đạo để đáp phi cơ được . Chứ nếu bay phi cơ ban ngày thì người phi công dùng mắt thường để đáp phi cơ chứ không cần nhìn vào đèn hiệu trên sân bay. Cho nên người phi công thực sự hốt hoảng khi thấy đèn hiệu trên sân bay đổi vì đèn đổi chiều như thế thì không tài nào đáp phi cơ được. Không thể tính chuyện bay ngược trở lại Trung Cộng vì máy bay gần hết xăng và có thể bị súng phòng không bên dưới bắn. Phi cơ của chủ tịch nước mà lại sợ súng phòng không nước mình bắn.! Quả là một chuyện khó tin nhưng có thật đối với chuyến phi cơ chở Hồ chí Minh về nước.

Người phi công tìm cách liên lạc với bên dưới bằng vô tuyến thì đường dây vô tuyến bị cắt đứt. Âm mưu dùng tai nạn phi cơ để giết Hồ chí Minh như vậy là quá rõ ràng, Không thể nào lại có chuyện vô lý như thế đối với chuyện một chiếc phi cơ chở một chủ tịch nước như Hồ chí Minh mà lại không liên lạc vô tuyến với sân bay bên dưới được! Ðèn hiệu trên sân bay đổi chiều và cắt đứt liên lạc vô tuyến rõ ràng nằm trong âm mưu gây tai nạn cho phi cơ nhằm mục đích giết Hồ chí Minh đã quá rõ ràng. Những chi tiết này được nhà văn Sơn Tùng ( đây là nhà văn Sơn Tùng trong nước chứ không phải Sơn Tùng ở hải ngoại ) kể rõ trong bài viết của ông dựa theo bài viết của Vũ Kỳ . ( Có thể vào www.nsvietnam.com rồi bấm vào tên Trần viết Ðại Hưng và sau đó bấm vào bài số 115 ) : Bí ẩn chung quanh chuyện Hồ chí Minh bị thất sủng vào lúc cuối đời để đọc và hiểu thêm về chuyến bay khó hiểu này ). Sau cùng ngừơi phi công đành chọn phương án đáp theo trí nhớ. Ðây là một chọn lựa có tính cách may rủi vì không còn cách nào khác. May mắn thay là chiếc phi cơ không gây ra tai nạn như bọn xấu âm mưu dàn dựng. Dĩ nhiên là Hồ chí Minh và Vũ Kỳ hiểu và thấy rõ âm mưu dùng tai nạn phi cơ để giết thầy trò Hồ chí Minh và Vũ Kỳ. Thế mà khi phi cơ may mắn đáp an toàn rồi, không thấy Hồ chí Minh chỉ thị chuyện điều tra để tìm ra bọn đàn em âm mưu giết ông. Ðiều này lại càng cho thấy ông không còn quyền lực gì nưã. Ông đã không có phản ứng gì sau khi âm mưu ám hại ông bằng tai nạn phi cơ không thành.

Bài viết của Vũ Kỳ có nói đến chuyện Hồ chí Minh nhắc nhở Văn phòng Quân ủy chuyện gửi qùa cho Võ nguyên Giáp đang ở Hung ga ry sau khi Hồ chí Minh về Hà Nội ngày 23 tháng 12 năm 1967. Vũ Kỳ lại nói thêm ngày 25 tháng 1 năm 1968 Võ nguyên Giáp sang Bắc Kinh làm việc với Hồ chí Minh vào buổi tối từ 8 giờ đến 9 giờ 15 phút. Không hiểu Võ nguyên Giáp đến Bắc Kinh từ Hunggary là chỗ Giáp đang nghỉ hay đến từ Hà Nội.? Không hiểu trong trận Mậu Thân Giáp có mặt ở Hà Nội hay ở Hunggary? Nếu có mặt ở Hà Nội có lẽ Lê Duẩn và Lê đức Thọ chỉ hỏi ý kiến Giáp về một số vấn đề quân sự vì đó là ngành chuyên môn của Giáp , chứ Duẩn và Thọ vẫn là người chỉ đạo trận đánh Mậu Thân chứ không thể giao cho Giáp điều binh khiển tướng như trong trận Ðiện Biên Phủ năm 1954. Ngay trong năm 1967 là năm chuẩn bị cho trận đánh lớn Mậu Thân mà Bộ trưởng quốc phòng Võ nguyên Giáp bị đẩy đi nghỉ ở Hungary cũng đủ cho thấy Duẩn và Thọ không muốn Giáp dính dáng đến trận đánh Mậu Thân. Chuyện đẩy Hồ chí Minh ra khỏi nưóc qua Bắc Kinh trong Tết Mậu Thân cũng đã cho thấy Duẩn và Thọ không muốn Hồ chí Minh dính líu gì trong trận Mậu Thân cả . Có lẽ Duẩn và Thọ muốn giành công lao đánh trận Mậu Thân nếu trận này thắng lợi . Tiếc rằng trận Mậu Thân, Cộng sản Việt Nam thua thê thảm. Võ nguyên Giáp hiện nay vẫn còn sống ở Hà nội dù đã gần 100 tuổi , hy vọng sẽ có phóng viên đến hỏi về vai trò của ông trong trận Mậu Thân để trả laị những sự thật cho lịch sử trước khi ông qua đời.

Trong bài viết cuả Vũ Kỳ có tiết lộ trưóc Tết Mậu Thân , Hồ chí Minh có mời cơm vợ Ðại tướng Nguyễn chí Thanh và chia buồn chuyện Nguyễn chí Thanh mất đột ngột cách đó 5 tháng.

Ðúng là cách Tết Mậu Thân 5 tháng , Nguyễn chí Thanh từ chiến trường miền Nam ra Hà Nội họp. Nguyễn chí Thanh hoàn toàn khỏe mạnh và không thấy có dấu hiệu gì về bệnh tật cả. Ðột nhiên có tin loan báo tướng Thanh bị cảm lạnh, nhồi máu cơ tim mà qua đời. Về phía Mỹ và miền Nam thì cứ loan tin sai lầm là tướng Thanh bị bom B- 52 giết chết trong mật khu ở miền Nam.

Trong bài viết Vũ Kỳ dùng chữ ” mất đột ngột ” để nói về cái chết của Nguyễn chí Thanh. Rõ ràng là có điều gì không ổn trong cái chết của Nguyễn chí Thanh rồi.

Sau này trong hồi ký ” Giọt nước trong biển cả ” cuả nguyên Phó chủ tịch quốc hội Hoàng văn Hoan tiết lộ động trời là chính Lê Duẩn đã giết Nguyễn chí Thanh khi Thanh ra Hà nội họp năm 1967.

Hoàng văn Hoan tiết lộ chính Lê Duẩn là thủ phạm giết Nguyễn chí Thanh. Không biết Hồ chí Minh và Vũ Kỳ có biết đến chuyện Lê Duẩn giết tướng Thanh này hay không ?

Hoàng văn Hoan kể rõ chuyện này như sau:

Vì sao vụ án phát hiện từ năm 1967 mà để mãi đến mười năm sau là năm 1977 mới giải quyết ? Là vì trong vụ anh Nguyễn chí Thanh bị ám hại, Nguyễn văn Vịnh là người được biết tất cả mọi chi tiết, nếu xử lý Nguyễn văn Vịnh đúng theo kỷ luật Ðảng và pháp luật nhà nước thì Nguyễn văn Vịnh sẽ bươi ra hết cả, như vậy bộ mặt cuả bọn Lê Duẩn sẽ bị bóc trần, tội ác của bọn Lê Duẩn sẽ phơi bày trước Ðảng và trước dư luận nhân dân.”

( Hồi ký ” Giọt nước trong biển cả ” cuả Hoàng văn Hoan trang 420 )

Tác giả Triệu Tử của Viet-studies, khi phê bình bài viết của Vũ Kỳ, đã cho thấy sự ngớ ngẩn và ” chậm tiêu ‘ cuả mình khi cứ đặt vấn đề tại sao ông Hồ chí Minh phải rời xa nước năm Mậu Thân “theo quyết định cuả Bộ Chính trị và Hội Ðồng bác sĩ “. Thật ra đây là lối viết bóng bảy cuả Vũ Kỳ nhằm giữ thể diện cho Hồ. Hồ hoàn toàn không bị bệnh trầm trọng nguy hiểm gì cả cho nên chuyện phải đi Bắc Kinh để chữa bệnh là một lý cớ thế thôi. Chuyện Hồ chí Minh trằn trọc thao thức sau những buổi họp nặng nề với Bộ Chính trị cho thấy ông biết rõ thân phận mất quyền lực của mình. Ông như con cá nằm trên thớt mà bọn đàn em gian ác muốn chặt lúc nào thì chặt . Ông không có khả năng quyền lực để tự vệ cho mạng sống của chính ông nữa.

Triệu Tử vẫn còn mơ màng tự hỏi không biết Võ nguyên Giáp có bị phe Lê Duẩn và Lê đức Thọ gạt ra ngoài hay chưa ? Với cương vị là bộ trưởng quốc phòng, nếu không bị trù dập, chăéc chắn Giáp phải đóng vai trò chỉ huy chỉ đạo trong trận Mậu Thân. Sự kiện Giáp bị đẩy qua Hunggary từ năm 1967 cho thấy phe nhóm Duẩn, Thọ muốn rảnh tay làm việc là bằng chứng hùng hồn cho thấy Giáp bị hạ bệ rồi, không cần phải đặt câu hỏi dài dòng nữa.

Chuyện ” sự cố máy bay ” rõ ràng là một âm mưu dùng tai nạn máy bay để giết Hồ. Triệu Tử khá đần độn khi đặt câu hỏi, ” Nếu người phi công lái maý bay hạ cánh đúng ” theo đèn ” thì sao? “. Ðã nói đèn hiệu trên sân bay đổi 15 độ nên không thể nhìn theo đèn mà hạ cánh được vì lúc đó là ban đêm thì làm sao có chuyện cứ hạ cánh ” theo đèn ” được! Khi thắc mắc như thế là Triệu Tử vẫn chưa hiểu về chuyện bọn muốn giết Hồ chí Minh ra lệnh đổi đèn trên sân bay kèm theo chuyện bên dưới cắt đứt liên lạc vô tuyến với phi cơ với mục đích làm cho tai nạn phi cơ xảy ra.

Triệu Tử lại khá u mê khi đặt câu hỏi không biết Hồ chí Minh có biết chính xác lúc nào giờ G Mậu Thân nổ ra ? Hồ đã bị tuớc hết quyền lực khi bị tống đi xa trong Tết mậu Thân thì làm sao mà biết được giờ G nổ súng trong trận Mậu Thân. Ðúng ra, nếu Hồ còn nắm được quyền lực thì cho dù có qua Bắc Kinh chữa bệnh , Bộ Chính trị phải báo cáo hàng ngày, nếu không muốn nói là hàng giờ, chi tiết trận đánh Mậu Thân. Cứ tưởng tượng cái hình ảnh hai thầy trò Hồ chí Minh và Vũ Kỳ nghe ngóng tin tức chiến sự Mậu Thân qua máy phát thanh mà thấy tội nghiệp cho một ông chủ tịch nước đã hết thời và do đó không còn được cấp dưới báo cáo nhanh chóng và cụ thể về diễn tiến chiến tranh nữa.

Một điểm nưã cần phải nói ở đây là Vũ Kỳ , trong bài viết, cho là Hồ chí Minh phải rời Hà nội qua Trung Cộng theo quyết định của Bộ chính trị và Hội Ðồng Bác Sĩ để chữa bệnh . Thế mà khi qua Trung Cộng đã cho thấy hoàn toàn không có hoạt động trị bệnh gì cho Hồ chí Minh cả . Hồ chí Minh không thấy nhập vào bệnh viện nào ở Trung Cộng để điều trị và bài viết của Vũ Kỳ cũng hoàn toàn không nói Hồ chí Minh có bệnh gì. Cho nên nói chuyện Hồ chí Minh đi chữa bệnh là lối nói ngoại giao bóng bảy nhằm che đậy một sự thật phũ phàng là Hồ chí Minh bị tống xuất ra khỏi Hà nội trong tết Mậu Thân vì bọn đàn em không muốn ông có mặt ở nhà. Có lẽ chúng muốn giành công đánh Mậu Thân nếu chiến dịch tổng công kích này thành công và có lẽ vì nhiều lý do thầm kín khác không tiện nói ra .

Ðọc kỹ toàn bộ bài viết của Vũ Kỳ cho thấy ông ta lấp liếm trong sự trình bày sự cố phi cơ gặp khó khăn ( tiếng miền Nam gọi là trục trặc kỹ thuật ) vì đèn hiệu sân bay đổi. Mới thoáng đọc qua thì người ta lầm tưởng là chuyện trục trặc máy móc và đèn hiệu sân bay. Ðọc kỹ thì mới thấy âm mưu giết Hồ chí Minh bằng cách dàn dựng tai nạn phi cơ . Ðó là cái tài giỏi của Vũ Kỳ, đã qua mặt báo chí trong nước để vạch trần âm mưu giết Hồ chí Minh . Phải thấy khi Vũ Kỳ viết bài này thì Lê Duẩn và Lê đức Thọ đều đã qua đời nhưng chế độ Cộng sản vẫn còn đó, Không thể công khai tố cáo chuyện âm mưu giết Hồ chí Minh bằng tai nạn phi cơ của Lê Duẩn và Lê đức Thọ trên báo chí được nên Vũ Kỳ phải dùng một hình thức kể chuyện cực kỳ khéo leó, cung cấp dữ kiện và dành kết luận cho người đọc. Nhà văn Sơn Tùng đọc ra ngay lời tố cáo chưá nhiều ẩn dụ cuả Vũ Kỳ và sau đó Sơn Tùng tìm cách trình bày sự cố đèn hiệu máy bay một cách chi tiết hơn trong một bài báo sau đó . Nhưng Sơn Tùng cũng không dám nói tọac móng heo âm mưu giết Hồ chí Minh bằng tai nạn phi cơ cuả bọn đàn em Duẩn , Thọ, mà chỉ cung cấp thêm chi tiết và tình huống của ngươì phi công hoảng sợ khi thấy không thể đáp bằng cách nhìn đèn hiệu trên sân bay. Chúng ta phải hiểu cái thế cấn cái , khó xử của Vũ Kỳ và Sơn Tùng trong nỗ lực vạch mặt ra những kẻ âm mưu giết Hồ chí Minh bằng lối văn ẩn dụ, lấp liếm vì không thể nói thẳng chuyện động trời này ra công khai trên báo chí của Ðảng.

Cần nói thêm ở đây là sau khi thất bại trong âm mưu giết Hồ chí Minh bằng tai nạn phi cơ , liên minh Duẩn- Thọ đã bày mưu tính kế giết Hồ bằng cách cho bác sĩ tiêm thuốc độc vào người Hồ năm 1969 bằng một kịch bản giết người khéo leó và đã qua mặt mọi người trong 40 năm qua. Cho tới ngày các bác sĩ Việt Nam ở Hà Nội lên tiếng tố cáo bằng bài viết mới đây ” Một nghiên cứu khoa học về Hồ chí Minh ” gửi đi khắp nơi. thì âm mưu mới bị phơi bày ( Có thể vào www.nsvietnam.com rồi bấm vào tên Trần viết Ðại Hưng để đọc bài số 120 ) Những bạo chúa bị đàn em giết lúc cuối đời ) để hiểu rõ chi tiết mọi chuyện. Những ngày cuối đời của Hồ chí Minh là những ngày lo âu, phiền muộn vì bị bọn đàn em đối xử tệ bạc, độc ác, nhưng phải nói Hồ chí Minh cũng đã gây nhiều tội ác khi uy quyền ông còn mạnh mẽ . Hồ chí Minh rốt cuộc cũng phải trả giá cho tội ác của mình theo định luật nhân quả, trả vay của trời đất. Lưới trời lồng lộng nhưng không có ai lọt qua được.

Có thể ví trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam cũng giống như triều đình phong kiến ngày xưa. Những chuyện làm sai trái , độc ác của Ðảng được bưng bít dấu diếm như chuyện ” thâm cung bí sử ” của những triều đại phong kiến trong quá khứ.

Hãy nhìn những nhân chứng dần dà bị thủ tiêu trong vụ bà Nông thị Xuân, vợ của Hồ chí Minh bị Bộ trưởng công an Trần quốc Hoàn giết và ngụy trang cái chết bằng tai nạn xe hơi. . Hai cô em họ của bà Xuân là cô Vàng và cô Nguyệt là những nhân chứng chứng kiến cái chết thảm khốc của bà Xuân sau này lần lượt bị theo dõi và thủ tiêu để bịt miệng nhân chứng trong vụ án mạng giết chết vợ Hồ chí Minh là Nông thị Xuân. Bà Xuân có một con trai với Hồ chí Minh tên Nguyễn tất Trung, hiện nay sống ở Hà nội với vợ và một con trai. Vụ án mạng này không biết có bàn tay của Hồ chí Minh nhúng tay vào hay không? Chế độ Cộng sản luôn tô vẽ hình ảnh Hồ chí Minh thánh thiện như một ông thánh sống nên những chuyện tình ái lăng nhăng với đàn bà được hoàn toàn được giữ kín. Nhưng rồi không gì có thể che dấu được dưới ánh mặt trời. Mọi chuyện từ từ được phơi bày với tất cả sự thô bỉ , tàn bạo, dã man của nó.

Có thể so sánh Ðảng Cộng sản Việt Nam như một đảng cướp Mafia với tất cả sự tàn bạo của một băng đảng xã hội đen. Bề ngoài Ðảng đóng kịch khôn kheó là một Ðảng đoàn kết nhưng thực tế phũ phàng cho thấy liên minh Lê Duẩn , Lê đức Thọ giết Hồ chí Minh; Lê Duẩn cũng là người giết tướng Nguyễn chí Thanh theo sự tố cáo của Hoàng văn Hoan; sau khi Lê Duẩn qua đời, Lê đức Thọ và Trường Chinh tranh giành cái ghế Tổng bí thư của Lê Duẩn , đưa đền chuyện Lê đức Thọ cho ngưòi đến nhà giết Truờng Chinh theo sự tiết lộ của nhà văn Vũ thư Hiên trong hồi ký ” Ðêm giữa ban ngày ” . Trước đó khi Lê Duẩn đau ốm trước khi qua đời, Lê Duẩn và Lê đức Thọ gây gỗ kịch liệt với nhau vì Lê đức Thọ muốn Lê Duẩn viết di chúc truyền ngôi Tổng bí thư cho Lê đức Thọ nhưng Lê Duẩn không đồng ý. Sau khi Lê Duẩn qua đời, con cái Lê Duẩn tỏ vẻ lo ngại sẽ bị phe Lê đức Thọ giết như lời thuật lại cuả đàn em thân tín cuả Lê Duẩn là nguyên bí thư thành uỷ Hải Phòng Ðoàn duy Thành trong hôì ký ” Làm người là khó “.

Không còn nghi ngờ gì nưã , những tên đầu sỏ trong chính trị bộ Ðảng Cộng sản Việt Nam thanh toán nhau tàn bạo như bọn băng đảng Mafia . Nhân chứng Vũ Kỳ tiết lộ một phần chuyện âm mưu thanh toán cuả bọn đàn em dành cho Hồ chí Minh qua bài viết về vai trò cuả Hồ chí Minh trong trận Mậu Thân. Trong tương lai hy vọng sẽ có nhiều nhân chứng khác sẽ nói ra thêm những tội ác giết người, những xâu xé nội bộ đẫm máu trong Ðảng Cộng sản Việt Nam. Mọi người dân Việt Nam rán chung sức đập cho tan cái đảng gian ác này thì mới mong đem lại độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam. Người ta sẽ nhìn rõ thêm tội ác của Ðảng Cộng sản Việt Nam sau ngày nó sụp đổ và sử sách mai sau sẽ luôn ghi nhớ những tội ác này , coi chúng như tội ác cuả nhân loại và mong sao những tội ác này sẽ không bao giờ tái diễn trên đất nước Việt Nam thân yêu.

Los Angeles, một ngày mùa đông lạnh lẽo , hiu hắt đầu tháng 2 năm 2010 ( gần Tết Canh Dần 2010)
TRẦN VIẾT ÐẠI HƯNG

 

Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Vécxây

Tháng 6 năm 1919, nghe tin các đoàn đại biểu mười mấy nước Đồng minh chiến thắng họp ở Vécxây cách thủ đô Pari 14 km, Nguyễn Tất Thành bàn với nhà yêu nước Phan Châu Trinh và luật sư, tiến sĩ Phan Văn Trường viết bản ”Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Vécxây.

Nhà yêu nước họ Phan trịnh trọng nói:

– Bảy điều yêu sách mà anh Thành nêu ra, theo tôi thật là xác đáng và đúng như bọn mình thường trao đổi với nhau. Chú Trường xem có nên thêm điều gì không?

– Tôi thấy thế là tốt… Thử xem còn vấn đề gì về quyền của nhân dân ta cần đòi…- Văn Trường nói và gõ nhẹ vào trán mình theo thói quen của ông khi cần suy tính một điều gì.

– Thưa hai bác – Tất Thành lên tiếng – Hôm trước cháu phác thảo ra 7 điều yêu sách đưa hai bác xem, nhưng đêm hôm qua cháu mới nảy thêm một ý. Cháu thấy rằng ở Đông Dương, bọn quan lại chỉ dựa vào các sắc lệnh của tên toàn quyền để cai trị dân ta mà không hề có luật. Cháu muốn đưa thêm một điều yêu sách nữa: “Thay thế chế độ sắc lệnh bằng chế độ luật pháp”.

– Đúng! Đúng. Luật sư họ Phan sôi nổi hưởng ứng. Muốn cho dân ta có tự do thì phải đòi họ cai trị theo luật pháp!

Tôi cũng tán đồng! Phan Châu Trinh nói như kết luận buổi gặp mặt. Bây giờ ta làm thế nào để chuyển bản Yêu sách tới Hội nghị Vécxây đây?

Tất Thành:

– Thưa bác, cháu nghĩ rằng phải nhờ bác Phan Văn Trường viết ngay ra bằng tiếng Pháp thì mới kịp.

Hai ngày sau, Nguyễn Tất Thành đã ngồi bên luật sư Phan Văn Trường, trước bản ”Yêu sách của nhân dân An Nam” vừa thảo xong bằng tiếng Pháp.

– Chúng ta sẽ đứng tên dưới bản yêu sách này như thế nào đây? Bác đứng tên nhé. Nguyễn Tất Thành nêu ý kiến.

– Không! Phan Văn Trường đáp – bản Yêu sách này tuy là tôi chấp bút viết ra bằng tiếng Pháp. Nhưng tôi phải viết chỉ vì anh chưa thông thạo Pháp văn mà thôi, chứ sáng kiến lớn lao này là của anh, và hầu hết ý kiến nêu ra trong bản Yêu sách cũng là của anh.

– Thưa bác, sáng kiến của cháu cũng chỉ là phản ánh nguyện vọng chung của những người yêu nước chứ có phải của riêng cháu đâu. Bác là một nhân vật có danh tiếng, bà con Việt kiều trên đất Pháp đều biết bác là một luật sư yêu nước dám bênh vực công lý, che chở cho bà con. Bác đứng tên cho bản yêu sách này thì giá trị của nó càng cao, ảnh hưởng của nó càng rộng.

 

– Không! Không thể được! Tôi tuy có chút danh vọng hơn anh ngày nay, nhưng cái tâm, cái chí của anh còn lớn hơn tôi nhiều. Vả lại về nguyên tắc, người trí thức không được phép lấy công người khác làm công của mình: “Cái gì của Xêda thì phải trả lại cho Xêda”.

 

Đó mới là lẽ phải. Chẳng những tôi không thể đứng tên, mà bác Hy Mã Phan Châu Trinh cũng không nên đứng tên.

 

Cuộc trao đổi giữa hai nhà yêu nước đi tới kết luận: dùng một cái tên gì tiêu biểu cho nguyện vọng chung của nhân dân, nhưng phải là tên một cá nhân thì tính chất pháp nhân của văn bản mới có giá trị. Cuối cùng anh Nguyễn quyết định tự mình đứng mũi chịu sào với cái tên chung cho tấm lòng của mọi người. Anh ký:

 

Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam

NGUYỄN ÁI QUỐC

 

Ngay buổi chiều hôm ấy, sau khi bản Yêu sách được gửi đi, anh Nguyễn rời khỏi nhà số 6 đường Vila đê Gôbơlanh, nơi anh vẫn ở với luật sư Phan Văn Trường. Anh sống bí mật, đề phòng sự truy lùng ráo riết của bọn mật thám Bộ Thuộc địa Pháp.

 

Vào buổi sáng sớm có người đến bấm chuông căn nhà số 6 phố Đôbinhi. Đây là nhà của Giuyn Cămbông, đại sứ cũ của Pháp ở Đức, hiện là thành viên của đoàn đại biểu Pháp đi dự Hội nghị Vécxây. Giơnơvievơ Tabui, cô cháu gái trẻ của Cămbông ra mở cửa. Sau này cô là một nhà báo nổi tiếng, nhưng lúc bấy giờ cô là thư ký của cậu cô. Người bấm chuông là một thanh niên châu Á, mảnh khảnh, có khuôn mặt cởi mở, dễ mến, đôi mắt to, sáng long lanh. Anh lịch sự chào cô và nói bằng thứ tiếng Pháp không sõi:

 

– Tôi muốn trao cho ngài đại sứ Cămbông một văn kiện.

 

Giơnơvievơ mời khách đến sớm vào nhà rồi ra hiệu cho khách ngồi xuống cạnh chiếc bàn dài chạm trổ theo kiểu đế chế. Chiếc bàn này hiện nay vẫn kê trong phòng khách gia đình Tabui. Cô gái hỏi người thanh niên là ai?

 

– Thưa cô, tôi là Nguyễn Ái Quốc, tôi muốn gặp ngài Cămbông.

 

Chàng thanh niên lấy ra một cuốn giấy buộc bằng dây mảnh. Anh mở ra và trao cho cô gái.

 

– Tôi đến đây để trao cho ngài đại sứ “bản trần tình” của nhân dân Đông Dương.

 

Có thể thấy ngay là những tờ giấy trong cuộn giấy viết bằng một thứ chữ rất đẹp. Tờ đầu tiên là bức thư gửi cho chủ nhà:

 

”Thưa ngài đại sứ Cămbông, đại điện toàn quyền của nước Pháp tại Hội nghị Vécxây. Tôi là người đại diện cho nhân dân Đông Dương. Chúng tôi là một dân tộc chậm phát triển, chúng tôi đã được biết thế nào là nền văn minh của nước Ngài …”.

 

Tài liệu mà người thanh niên châu Á mang đến có tên là “Bản Yêu cách của nhân dân An Nam”. Bản Yêu sách viết:

 

“Trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự, nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông – Pháp, xin trình với các quý Chính phủ trong Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng, những yêu sách khiêm tốn sau đây:

 

1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

4. Tự do lập hội và hội họp;

5 Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7 Thay thế chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của nguời bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.

 

Vài ngày sau, các đoàn đại biểu khác tham gia Hội nghị và nhiều nghị sĩ Pháp cũng nhận được bản yêu sách tương tự như vậy. Kèm theo bản yêu sách có bức thư ngắn:

 

“Thưa ngài! Nhân dịp chiến thắng của Đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi để Ngài kèm theo đây bản ghi những yêu sách của nhân dân An Nam. Tin tưởng ở sự độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ bản yêu sách này trước những người có thẩm quyền.

Thay mặt nhóm những người An Nam yêu nước: Nguyễn Ái Quốc”.

 

Người ta nhiều lần bắt gặp người thanh niên Việt Nam kiên trì này với tập giấy tờ cặp dưới nách tại các hành lang ồn ào, mù mịt khói thuốc của các ban biên tập báo ở Pari, trong các gian phòng chật chội do các công đoàn và đảng Xã hội thuê để tổ chức các cuộc họp và mít tinh.

 

Lui Ácnu, Trưởng ban Đông Dương của Sở Mật thám Pháp, sau này là Chánh mật thám Pháp ở Đông Dương, nhún vai khi nghe báo cáo về hành động của một người nào đó tên là Nguyễn Ái Quốc và về nội dung một ”tài 1iệu chống Pháp” đang được người đó phân phát khắp nơi. Do nghề nghiệp đòi hỏi, Ácnu hầu như biết rất rõ mọi người An Nam khả nghi sống ở Pari, được báo cáo tỉ mỉ về bước đi của “những kẻ chủ mưu gây bất an” từ Đông Dương sang. Một trong những người đó là Phan Châu Trinh, mở một hiệu ảnh và thực tế đã ngừng hoạt động chính trị. Vả lại, hành động “khiêu khích” như vậy vốn không phải là Phan Châu Trinh, vì ông lúc nào cũng có thái độ kính nể nước Pháp. Một người khác là luật sư Phan Văn Trường, cũng sống ở Pari, được coi là nhà mácxít, nhưng chỉ là người dịch sách báo chính trị ra tiếng Việt và không bao giờ tham gia làm những việc như vậy. Chỉ còn một người duy nhất trong số những nhân vật quen biết cũ của Sở Mật thám dám cả gan làm việc này là Phan Bội Châu. Nhưng Ácnu biết chắc chắn Phan Bội Châu đang ở một nơi nào đó tại miền Nam Trung Quốc, hơn nữa, mới đây ông ta có cho đăng một bài báo, lời lẽ rất ôn hoà có lợi cho chủ trương hợp tác Pháp – Việt.

 

Vào lúc đó, cả Ácnu – kẻ có con mắt cú vọ, nhòm ngó khắp nơi, thậm chí cả những người bạn gần gũi của người yêu nước trẻ tuổi đã cả gan cất lên tiếng nói bảo vệ nhân dân bị áp bức của mình ngay giữa trái tim của bọn đế quốc Pháp cũng không biết được và cũng không thể ngờ rằng, Nguyễn Ái Quốc – tác giả bản Yêu sách, anh Văn Ba – người phụ bếp trên tàu biển, cậu bé ham hiểu biết Nguyễn Tất Thành – người con trai quan Phó bảng duy nhất ở làng Sen, cũng chỉ là một người mà thôi./.

(Trích trong Kể chuyện Bác Hồ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2006)

Yêu sách của Nhân dân An Nam (1919)

Từ ngày Đồng minh thắng trận, tất cả các dân tộc bị lệ thuộc đều chứa chan hy vọng rằng theo những lời cam kết chính thức và trịnh trọng mà các cường quốc Đồng minh đã tuyên bố với toàn thế giới, trong cuộc đấu tranh của Văn minh chống Dã man, thì tiền đồ một thời đại công lý và chính nghĩa nhất định là phải đến với họ.

Trong khi chờ cho nguyên tắc dân tộc sẽ từ lĩnh vực lý tưởng chuyển vào lĩnh vực hiện thực do chỗ quyền tự quyết thiêng liêng của các dân tộc được thừa nhận thật sự, nhân dân nước An Nam trước kia, nay là xứ Đông – Pháp, xin trình với các quý Chính phủ trong Đồng minh nói chung và với Chính phủ Pháp đáng kính nói riêng, những yêu sách khiêm tốn sau đây:

1. Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

2. Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

3. Tự do báo chí và tự do ngôn luận ;

4. Tự do lập hộihội họp;

5. Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

6. Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ;

7. Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

8. Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.

Đưa ra những yêu sách trên đây, nhân dân An Nam trông cậy vào chính nghĩa thế giới của tất cả các cường quốc và đặc biệt tin vào lòng rộng lượng của nhân dân Pháp cao cả, tức là của những người đang nắm vận mệnh của nhân dân An Nam, của những người, do chỗ nước Pháp là một nước Cộng hoà, nên được coi là những người bảo hộ cho nhân dân An Nam. Khi nhân dân An Nam nhắc đến sự “bảo hộ” của nhân dân Pháp, thì không lấy thế làm hổ nhục chút nào mà trái lại còn lấy làm vinh dự: vì nhân dân An Nam biết rằng nhân dân Pháp đại biểu cho tự do và công lý, và không bao giờ từ bỏ lý tưởng cao cả của mình là tình bác ái toàn thế giới. Vì thế, nghe theo tiếng nói của những người bị áp bức, là nhân dân Pháp sẽ làm tròn nhiệm vụ của mình đối với nước Pháp và đối với Nhân loại.

Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam
NGUYỄN ÁI QUỐC

Tài liệu tiếng Pháp, bản chụp

lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

 

Hình ảnh bản yêu sách bằng tiếng pháp. Ảnh: Sưu tầm

THƯ GỬI TỔNG THỐNG MỸ

Pari, ngày 18-6-1919

Kính gửi Ngài Tổng thống Cộng hoà Hợp chủng quốc,

Đại biểu ở Hội nghị Hoà bình.

Thưa Ngài,

Nhân dịp chiến thắng của Đồng minh, chúng tôi xin mạn phép gửi đến Ngài, kèm theo đây bản ghi các yêu sách của nhân dân An Nam.

Tin tưởng ở độ lượng cao cả của Ngài, chúng tôi mong Ngài ủng hộ trước những người có thẩm quyền.

Xin Ngài vui lòng nhận sự biểu thị lòng kính trọng sâu sắc của chúng tôi.

Thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam
NGUYỄN ÁI QUỐC

56, phố Mơxiơ Lơ Pranhxơ, Pari

Thư đánh máy, tiếng Pháp,

bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh.

 

VIỆT NAM YÊU CẦU CA

“Rằng nay gặp hội Giao hoà,

Muôn dân hèn yếu gần xa vui tình.

Cậy rằng các nước Đồng minh,

Đem gương công lý giết hình dã man.

Mấy phen công bố rõ ràng,

Dân nào rồi cũng được trang bình quyền.

Việt Nam xưa cũng oai thiêng,

Mà nay đứng dưới thuộc quyền Lang Sa.

Lòng thành tỏ nỗi sút sa,

Giám xin đại quốc soi qua chút nào.

Một xin tha kẻ đồng bào,

Vì chưng chính trị mắc vào tù giam.

Hai xin phép luật sửa sang,

Người Tây người Việt hai phương cùng đồng.

Những toà đặc biệt bất công,

Giám xin bỏ dứt rộng dung dân lành.

Ba xin rộng phép học hành,

Mở mang kỹ nghệ, lập thành công thương.

Bốn xin được phép hội hàng,

Năm xin nghĩ ngợi nói bàn tự do.

Sáu xin được phép lịch du,

Bốn phương mặc sức, năm châu mặc tình

Bảy xin hiến pháp ban hành,

Trăm đều phải có thần linh pháp quyền

Tám xin được cử nghị viên,

Qua Tây thay mặt giữ quyền thổ dân.

 

Tám điều cạn tỏ xa gần,

Chứng nhờ vạn quốc công dân xét tình.

Riêng nhờ dân Pháp công bình,

Đem lòng đoái lại của mình trong tay.

Pháp dân nức tiếng xưa nay,

Đồng bào, bác ái sánh tầy không ai!

Nỡ nào ngảnh mặt ngơ tai,

Để cho mấy ức triệu người bơ vơ.

Dân Nam một dạ ước mơ,

Lâu nay từng núp bóng cờ tự do.

Rộng xin dân Pháp xét cho,

Trong phò tiếng nước, sau phò lẽ công.

Dịch mấy chữ quốc âm bày tỏ.

Để đồng bào lớn nhỏ được hay.

Hoà bình may gặp hội này,

Tôn sùng công lý, đoạ đày dã man.

Nay gặp hội khải hoàn hỉ hả,

Tiếng vui mừng khắp cả đồng – dân.

Tây vui chắc đã mười phần,

Lẽ nào Nam lại chịu thân tôi đòi.

Hẵng mở mắt mà soi cho rõ.

Nào Ai Lan, Ấn Độ, Cao Ly,

Xưa, hèn phải bước suy vi,

Nay, gần độc lập cũng vì dân khôn

Hai mươi triệu quốc hồn Nam Việt

Thế cuộc này phải biết mà lo.

Đồng bào, bình đẳng, tự do,

Xét mình rồi lại đem so mấy người.

Ngổn ngang lời vắn ý dài,

Anh em đã thấu lòng này cho chưa.

NGUYỄN ÁI QUỐC

Tài liệu viết tay, tiếng Việt,

bản chụp lưu tại Viện Hồ Chí Minh

 

Normal
0

false
false
false

MicrosoftInternetExplorer4

st1\:*{behavior:url(#ieooui) }

/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt;
mso-para-margin:0cm;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:10.0pt;
font-family:”Times New Roman”;
mso-ansi-language:#0400;
mso-fareast-language:#0400;
mso-bidi-language:#0400;}

6-1-1946 Tổng tuyển cử quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, báo chí xuất bản hôm đó đều dành vị trí trang trọng nhất, giới thiệu cuộc tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Báo Sự Thật ghi lên đầu trang nhất dòng chữ đậm nét: “Tất cả hãy đến thùng phiếu”. Báo Quốc hội in hình Hồ Chủ tịch với lời khuyên của Người: “Khuyên đồng bào nam nữ 18 tuổi trở lên, hôm nay tất cả đều đi bỏ phiếu để bầu những đại biểu xứng đáng vào hội đầu tiên của nước ta
Chỉ hơn 4 tháng sau ngày Độc Lập, toàn thể nhân dân ta đón chào ngày hội lớn – ngày Tổng tuyển cử. Dưới ách thống trị tàn bạo của đế quốc và phong kiến, người dân Việt Nam bị tước đoạt mọi quyền dân chủ. Cách mạng tháng Tám đã thổi một luồng gió mới vào mọi mặt của đời sống xã hội, đem lại quyền làm chủ cho mỗi công dân. Lần đầu tiên, mọi người được tự do thảo luận, bàn bạc và chọn lựa những đại biểu xứng đáng vào Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nhưng cuộc bầu cử diễn ra trong một hoàn cảnh chính trị rất phức tạp. ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, thực dân Pháp đã mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược. Chúng âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta, dựng lên chế độ “Nam Kỳ tự trị” với một chính phủ bù nhìn tay sai. ở phía Bắc, 18 vạn quân Tưởng lấy danh nghĩa đồng minh tràn vào tước vũ khí quân Nhật. Chúng kéo theo bè lũ tay sai Việt Nam quốc dân đảng, Việt Nam cách mệnh đồng minh hội… về nước, hòng chiếm lấy chính quyền. ỷ thế bọn Tưởng, những tên Việt gian hoành hành dữ dội, nói xấu chính phủ lâm thời, phá hoại tổng tuyển cử và gây ra nhiều vụ cướp của, giết người rất dã man. Mặc dầu bọn chúng dùng nhiều thủ đoạn bỉ ổi để đe dọa và xuyên tạc, nhân dân các nơi vẫn phân biệt được trắng đen, bày tỏ niềm tin tưởng vào những đại biểu Việt Minh và những người yêu nước chân chính. Nhân dân Hà Nội rất phấn khởi khi được tin Hồ Chủ tịch ứng cử ở Thủ đô; 118 vị đại biểu các tầng lớp ở ngoại thành Hoàng Diệu (tức là Hà Nội) đã gửi thư “đề nghị cụ Hồ Chí Minh không phải ứng cử trong cuộc tổng tuyển cử này và suy tôn cụ là Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Hồ Chủ tịch đã gửi lời cảm tạ và nói: “Tôi là một công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên không thể vượt qua thể lệ tổng tuyển cử đã định”. Trong lời phát biểu ngày 5 tháng 1, Người kêu gọi “Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta đến con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân bắt đầu được hưởng quyền dân chủ của mình”.
Từ sáng sớm ngày 6 tháng 1, nhân dân Hà Nội đã nô nức đi bỏ phiếu với nét mặt hân hoan, áo quần tươi sắc. Hồ Chủ tịch và các vị trong chính phủ cùng đi bỏ phiếu với nhân dân tại các trụ sở khu phố.
ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ, cuộc bầu cử được tiến hành trong khói lửa chiến tranh. Giặc Pháp cho máy bay oanh tạc, mở những cuộc hành quân càn quét, tung tay sai đi phá hoại bầu cử. Chỉ tính riêng những người làm công tác vận động, đã có hơn bốn chục cán bộ hy sinh anh dũng. Lá phiếu trong cuộc bầu cử này được gọi là “lá phiếu máu” vì nó thấm máu của những chiến sĩ đã quên mình cho nền Độc lập của Tổ quốc, vì sự nghiệp Kháng chiến cứu nước, vì công cuộc xây dựng chính quyền cách mạng.
Với lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quyết tâm xây dựng và bảo vệ Nhà nước dân chủ cộng hòa, toàn thể nhân dân từ Nam chí Bắc đã tham gia bỏ phiếu. Hồ Chủ tịch trúng cử với tỷ lệ cao nhất 98,4% số phiếu bầu.
Trong cuộc mít tinh của 40 ngàn đồng bào thủ đô chào mừng các đại biểu đã trúng cử, Hồ Chủ tịch tuyên bố: “Trong cuộc tranh thủ hoàn toàn độc lập, chúng tôi thề xin đi trước!”.
Ngày 2 tháng 3, Quốc hội họp kỳ thứ nhất. Đây là Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bao gồm 403 đại biểu, trong đó 87 phần trăm là những người xuất thân từ công nhân, nông dân, viên chức và quân nhân cách mạng. Lần đầu tiên ở nước ta, và ở cả vùng Đông Nam á, xuất hiện một quốc hội thật sự dân chủ, được bầu theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử thể hiện niềm tin sắt đá của toàn dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch. Nó biểu dương sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc trong cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, đập tan bọn phản động, xây dựng chế độ xã hội mới. Quốc hội đã công nhận Chính phủ liên hiệp kháng chiến do Hồ Chủ tịch đứng đầu. Trong lời bế mạc kỳ họp thứ nhất. Người nói: “Chúng ta cùng hứa với nhau rằng Quốc hội họp lần này là Quốc hội Kháng chiến và Chính phủ cử ra là Chính phủ Kháng chiến. Tôi mong rằng Quốc hội họp lần sau sẽ là Quốc hội Thắng lợi và Chính phủ sẽ là Chính phủ Thắng lợi”. Người đại biểu quốc hội mang tấm thẻ số 305 đã xứng đáng với niềm tin của nhân dân, đã hoàn thành vẻ vang trách nhiệm của người công dân số Một, đã hiến trọn đời mình cho sự nghiệp quang vinh của cách mạng, đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Đúng như lời Hồ Chủ tịch, Quốc hội khóa I đã làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của sự nghiệp kháng chiến chống thực sân Pháp. Trong thời gian từ 1946 đến 1960 (vì điều kiện chiến tranh không tổ chức bầu cử theo đúng nhiệm kỳ 4 năm một lần), Quốc hội đã thông qua hiến pháp đầu tiên của nước ta, đã ban hành sắc lệnh cải cách ruộng đất và phê chuẩn hiệp định Giơ-ne-vơ về Việt Nam. Quốc hội đã thông qua luật công đoàn, xác định địa vị lãnh đạo của giai cấp công nhân; ban hành các đạo luật bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân, luật hôn nhân và gia đình. Quốc hội đã ra các nghị quyết cải tạo và xây dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và cuối năm 1959, thông qua bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa của nước ta.
Quốc hội khóa II (1960 – 1964) có 453 đại biểu. Vì điều kiện đất nước tạm thời bị chia làm 2 miền, 91 đại biểu miền Nam của khóa I vẫn tiếp tục tham gia khóa II, không phải thông qua bầu cử. Quốc hội khóa II không ngừng tăng cường và củng cố chuyên chính vô sản, động viên toàn dân đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.
Quốc hội khóa II (1964-1971) và khóa IV (1971-1975) đã hoàn thành thắng lợi sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, đế quốc Mỹ buộc phải ký hiệp định Paris, quân Mỹ buộc phải cút khỏi Việt Nam, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược hai miền đất nước ta.
Quốc hội khóa V được bầu ra ngày 6-4-1975. Không đầy một tháng sau, chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, cả miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Quốc hội ra sức chuẩn bị cho công tác thống nhất nước nhà về mặt nhà nước. Một năm sau, tháng 4-1976, nhân dân cả nước đã sôi nổi đi bầu một Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất. Trong ngày hội lịch sử của non sông, ý chí của toàn dân tộc thể hiện trên những lá phiếu thiêng liêng; 98,77% số cử tri đi bầu đã chọn lựa 492 đại biểu ưu tú của toàn dân. Ngày 24 tháng 6 năm 1976, Quốc hội chung cả nước đã khai mạc kỳ họp đầu tiên tại Hà Nội.
Trên suốt chặng đường 30 năm đấu tranh anh dũng của toàn dân tộc, Quốc hội đã hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng là người đại biểu đáng tin cậy của nhân dân, là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, là nơi tập trung trí tuệ của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân lao động. Quốc hội đã thể hiện tinh thần đại đoàn kết, ý chí thống nhất đất nước và lòng quyết tâm xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu rực rỡ, những trang sử vẻ vang của Quốc hội nước ta gắn liền với từng bước đi của dân tộc được bắt đầu từ ngày 6 tháng 1 năm 1946, ngày tổng tuyển cử đầu tiên của nhân dân Việt Nam.

 

 

 

 

 

v\:* {behavior:url(#default#VML);}
o\:* {behavior:url(#default#VML);}
w\:* {behavior:url(#default#VML);}
.shape {behavior:url(#default#VML);}

Normal
0

false
false
false

MicrosoftInternetExplorer4

/* Style Definitions */
table.MsoNormalTable
{mso-style-name:”Table Normal”;
mso-tstyle-rowband-size:0;
mso-tstyle-colband-size:0;
mso-style-noshow:yes;
mso-style-parent:””;
mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt;
mso-para-margin:0cm;
mso-para-margin-bottom:.0001pt;
mso-pagination:widow-orphan;
font-size:10.0pt;
font-family:”Times New Roman”;
mso-ansi-language:#0400;
mso-fareast-language:#0400;
mso-bidi-language:#0400;}

Bộ kỷ vật tóc Bác Hồ

GiadinhNet – Bộ kỷ vật quý này do các cán bộ cảnh vệ được vinh dự cắt tóc cho Bác trong 9 năm cuối của Người sưu tầm và gửi lại cho Bảo tàng Công an Nhân dân gần đây. Cụ Nguyễn Công Ích-một trong số những người sưu tầm tóc vì một tình yêu đặc biệt với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

Cụ Nguyễn Công Ích bên bàn thờ Bác Hồ trong phòng riêng của mình.

 

Kỷ vật xúc động

 

Trung tá Hoàng Hữu Duyên, phòng Sưu tập – Bảo tồn, Bảo tàng Công an Nhân dân cho biết: Bộ kỷ vật gồm 8 mẫu tóc của Bác được đánh số thứ tự từ 1-8. Tuy nhiên các mẫu tóc này không được chú thích rõ ràng về thời gian cụ thể lưu giữ, chỉ biết là những giai đoạn cuối đời của Bác, mẫu cuối cùng lưu giữ vào năm 1969.

 

Dù vậy, nhìn những mẫu tóc theo thứ tự có thể cảm nhận rõ màu thời gian. Nếu như mẫu số 1, 2, 3 có đa số những sợi có màu hung, xen lẫn những sợi bạc, những mẫu tiếp theo, số sợi bạc tăng dần, đến mẫu tóc số 8 thì gần như bạc trắng. Dù tóc bạc dần theo quy luật tự nhiên, nhưng khi nhìn những di vật này, người xem không khỏi xúc động. Trong những sợi bạc thêm giữa các thời kỳ là không biết bao nhiêu đêm Bác đã thức trắng để  nghĩ suy chuyện nước nhà.

 

Các mẫu tóc của Bác Hồ.

 

Cùng với 8 mẫu tóc của Bác, Bảo tàng Công an Nhân dân còn lưu giữ bộ dụng cụ cắt tóc được các chiến sỹ cảnh vệ trong Phủ Chủ tịch sử dụng cắt tóc cho Người trước đây. Bộ dụng cụ này còn khá đầy đủ, gồm: Tông-đơ, kéo tỉa, dao cạo, lược, áo choàng, khăn, gương  cho đến hộp đựng phấn, hộp đựng xà phòng, chổi chải tóc, chổi bôi xà phòng. Tất cả được đựng trong một chiếc vali nhỏ bằng da.

 

Đặc biệt, bộ dụng cụ này có nguồn gốc xuất xứ từ nhiều nước, phần lớn là các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây. Chiếc tông-đơ do Đông Đức (cũ) sản xuất, lọ đựng phấn rôm có xuất xứ từ Liên Xô (cũ)… còn chiếc hộp để đựng tất cả dụng cụ này được làm bằng nhôm lại có chữ Trung Quốc. Một số kỷ vật khác như chiếc gương nhỏ, áo choàng, khăn chắc chắn do các chiến sỹ cảnh vệ đặt làm.

 

Một kỷ vật cũng khiến người xem hết sức xúc động là 2 chiếc khăn mặt loại nhỏ, được làm bằng sợi bông loại to, màu trắng. Chúng được dùng để đặt lên vai khi các chiến sỹ cảnh vệ cạo mặt cho Bác sau khi cắt tóc xong. Nhìn kỹ có thể nhận thấy 2 chiếc khăn này rất có thể đã được xé làm đôi từ một chiếc khăn lớn hơn.

 

Bộ dụng cụ từng được dùng cắt tóc cho Bác.

 

Giữ tóc vì quá yêu Bác

 

Sau khá nhiều thời gian, được sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ  chúng tôi mới tìm được một trong những chiến sỹ cảnh vệ từng được vinh dự cắt tóc cho Bác Hồ năm xưa hiện còn sống. Đó là cụ Nguyễn Công Ích, hiện nghỉ hưu tại Liên Trung, Đan Phượng, Hà Nội. Thật trùng hợp, bởi theo cụ Ích, chính cụ là người đã sưu tầm và giữ lại tóc của Bác và sau đó chuyển lại cho bảo tàng.

 

Cụ Ích tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi. Sau đó vào bộ đội, từng tham gia Trung đoàn Thủ đô, sau đó được chuyển về công tác tại Phòng quản trị Cục Cảnh vệ (Nay là Bộ Tư lệnh cảnh vệ – PV). Năm 1946, cụ Ích đã là đội trưởng đội cảnh vệ bảo vệ Bác ra sân bay đi dự hội nghị Fon tainebleau (1946). Cụ còn nhớ rõ, trước  khi bước lên máy bay, Bác dặn dò những người ra tiễn: “Các chú ở nhà luyện tập cho tốt, Bác đi rồi Bác lại về”. 

 

Vốn là người khéo tay, cẩn thận nên lúc rảnh rỗi, anh em trong đơn vị thường nhờ cụ Ích cắt tóc. “Thấy tôi khéo tay nên lãnh đạo Cục Cảnh vệ đề xuất chuyển đến phục vụ cho các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ở căn nhà nhỏ 33 Trần Phú. Sau đó, đến 1965, khi đồng chí Trần Hạnh (nguyên là Bí thư tỉnh Trà Vinh) người từng được giao cắt tóc cho Bác Hồ được điều sang làm đội trưởng đội bảo vệ lãnh tụ thì các đồng chí lãnh đạo tín nhiệm giao cho tôi làm công việc này” – cụ Ích xúc động kể lại.

 

Đều đặn một hoặc hơn một tháng, cụ Ích lại nhận được lệnh của đồng chí Vũ Kỳ vào cắt tóc, sửa râu cho Bác Hồ. “Bác có thói quen cắt tóc vào đầu giờ chiều, nên cứ khoảng 1h chiều là tôi đã có mặt ở nhà thợ điện trong Phủ Chủ tịch (nay là ngôi nhà số 54, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch – PV). Những lần phục vụ Bác chỉ kéo dài trong khoảng 30 – 40 phút, không kéo dài hơn vì Bác rất bận”.

 

Trung tá Hoàng Hữu Duyên cho biết: Bộ sưu tập kỷ vật tóc và bộ dụng cụ cắt tóc của Bác gồm nhiều chất liệu nên phải lưu giữ nhiều chỗ khác nhau. Tuy nhiên, anh nhớ rõ vị trí của từng kỷ vật, có thể lấy ra bất cứ lúc nào mà không cần tra sổ.

 

Lần đầu được vào cắt tóc cho Bác Hồ, cụ đã vui đến mức cả đêm trước đó trằn trọc không ngủ được. Thế rồi, giây phút được cận kề bên vị Cha già mà cụ vô vàn kính yêu, nước mắt cứ ứa ra vì xúc động. Nhìn mái tóc của Người lấm tấm nhiều sợi bạc mà cụ không khỏi xót xa. “Ngay từ lúc đó, tôi đã nảy sinh ý nghĩ sẽ góp nhặt những sợi tóc của Người để giữ lại bên mình làm kỷ niệm. Bởi thế, mỗi khi cắt tóc cho Bác tôi thường dùng một khăn voan mỏng cuốn quanh vai để tóc không bị rơi. Cắt xong, tôi chỉ làm một động tác nhẹ nhàng là tháo chiếc khăn ra rồi vo tròn từ bên này sang bên kia để những lọn tóc đó nằm gọn phía trong. Sau đó tôi mang về nhà, cho vào một túi nilon, lấy bút ghi vào một mảnh giấy để đánh số thứ tự rồi cất vào tủ cá nhân của mình” – cụ Ích thật lòng chia sẻ.

 

 

Trong vòng 3 năm (1965 -1967) cụ Ích đã góp nhặt được hơn 30 lọn tóc của Bác. Mỗi lần đi công tác xa hoặc làm những nhiệm vụ quan trọng cụ lại kín đáo lấy một lọn tóc của Bác để vào túi áo bên ngực trái của mình như để tiếp thêm sức mạnh và nghị lực. Cụ lý giải: “Tôi không cho những lọn tóc này là những lá bùa có phép thuật gì đó, tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng, có một phần cơ thể Bác trong người cũng chính là đang có Bác bên cạnh”.

 

Nay đã hơn 80 tuổi, đã nghỉ hưu ở quê nhưng những kỷ niệm, kỷ vật về Bác Hồ, cụ Ích vẫn luôn cất giữ cẩn thận. Chị Nguyễn Thị Hồng – con gái cụ Ích, hiện công tác tại Bộ Tư lệnh Cảnh vệ cho biết: “Bố tôi luôn noi gương và dạy con cái những đức tính mà cụ học được từ Bác Hồ: Không ham hố lợi danh, giản dị, ngăn nắp, tận tâm với mọi người, mọi việc…”.

 

Quan tâm đến từng chi tiết

 

“Mỗi lần cắt tóc, bao giờ Bác cũng chủ động bắt chuyện để hỏi han về gia đình tôi, về cuộc sống của nhân dân bên ngoài. Thời kỳ đó còn dùng tem phiếu, Bác rất hay hỏi mọi người dùng tem phiếu có gặp nhiều khó khăn hay không? Thực phẩm mua bán bằng tem phiếu có đảm bảo chất lượng không? Mọi người ăn uống có được no không.

 

Có lần Người hỏi thăm về tình hình quê hương Liên Trung của tôi. Tôi thưa thật với Bác chuyện đê Liên Trung đang bị nứt, có nguy cơ vỡ. Ngay sau đó, Bác đã yêu cầu kiểm tra, cho gia cố lại đê, xây hệ thống cống Đan Hoài để cung cấp nước tưới tiêu cho bà con nhân dân xung quanh”.

 

Cụ Nguyễn Công Ích

 

Bộ kỷ vật tóc Bác Hồ

GiadinhNet – Bộ kỷ vật quý này do các cán bộ cảnh vệ được vinh dự cắt tóc cho Bác trong 9 năm cuối của Người sưu tầm và gửi lại cho Bảo tàng Công an Nhân dân gần đây. Cụ Nguyễn Công Ích-một trong số những người sưu tầm tóc vì một tình yêu đặc biệt với vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.

 

Cụ Nguyễn Công Ích bên bàn thờ Bác Hồ trong phòng riêng của mình.

 

Kỷ vật xúc động

 

Trung tá Hoàng Hữu Duyên, phòng Sưu tập – Bảo tồn, Bảo tàng Công an Nhân dân cho biết: Bộ kỷ vật gồm 8 mẫu tóc của Bác được đánh số thứ tự từ 1-8. Tuy nhiên các mẫu tóc này không được chú thích rõ ràng về thời gian cụ thể lưu giữ, chỉ biết là những giai đoạn cuối đời của Bác, mẫu cuối cùng lưu giữ vào năm 1969.

 

Dù vậy, nhìn những mẫu tóc theo thứ tự có thể cảm nhận rõ màu thời gian. Nếu như mẫu số 1, 2, 3 có đa số những sợi có màu hung, xen lẫn những sợi bạc, những mẫu tiếp theo, số sợi bạc tăng dần, đến mẫu tóc số 8 thì gần như bạc trắng. Dù tóc bạc dần theo quy luật tự nhiên, nhưng khi nhìn những di vật này, người xem không khỏi xúc động. Trong những sợi bạc thêm giữa các thời kỳ là không biết bao nhiêu đêm Bác đã thức trắng để  nghĩ suy chuyện nước nhà.

 

 

Các mẫu tóc của Bác Hồ.

 

Cùng với 8 mẫu tóc của Bác, Bảo tàng Công an Nhân dân còn lưu giữ bộ dụng cụ cắt tóc được các chiến sỹ cảnh vệ trong Phủ Chủ tịch sử dụng cắt tóc cho Người trước đây. Bộ dụng cụ này còn khá đầy đủ, gồm: Tông-đơ, kéo tỉa, dao cạo, lược, áo choàng, khăn, gương  cho đến hộp đựng phấn, hộp đựng xà phòng, chổi chải tóc, chổi bôi xà phòng. Tất cả được đựng trong một chiếc vali nhỏ bằng da.

 

Đặc biệt, bộ dụng cụ này có nguồn gốc xuất xứ từ nhiều nước, phần lớn là các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây. Chiếc tông-đơ do Đông Đức (cũ) sản xuất, lọ đựng phấn rôm có xuất xứ từ Liên Xô (cũ)… còn chiếc hộp để đựng tất cả dụng cụ này được làm bằng nhôm lại có chữ Trung Quốc. Một số kỷ vật khác như chiếc gương nhỏ, áo choàng, khăn chắc chắn do các chiến sỹ cảnh vệ đặt làm.

 

Một kỷ vật cũng khiến người xem hết sức xúc động là 2 chiếc khăn mặt loại nhỏ, được làm bằng sợi bông loại to, màu trắng. Chúng được dùng để đặt lên vai khi các chiến sỹ cảnh vệ cạo mặt cho Bác sau khi cắt tóc xong. Nhìn kỹ có thể nhận thấy 2 chiếc khăn này rất có thể đã được xé làm đôi từ một chiếc khăn lớn hơn.

 

 

Bộ dụng cụ từng được dùng cắt tóc cho Bác.

 

Giữ tóc vì quá yêu Bác

 

Sau khá nhiều thời gian, được sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Cảnh vệ  chúng tôi mới tìm được một trong những chiến sỹ cảnh vệ từng được vinh dự cắt tóc cho Bác Hồ năm xưa hiện còn sống. Đó là cụ Nguyễn Công Ích, hiện nghỉ hưu tại Liên Trung, Đan Phượng, Hà Nội. Thật trùng hợp, bởi theo cụ Ích, chính cụ là người đã sưu tầm và giữ lại tóc của Bác và sau đó chuyển lại cho bảo tàng.

 

Cụ Ích tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi. Sau đó vào bộ đội, từng tham gia Trung đoàn Thủ đô, sau đó được chuyển về công tác tại Phòng quản trị Cục Cảnh vệ (Nay là Bộ Tư lệnh cảnh vệ – PV). Năm 1946, cụ Ích đã là đội trưởng đội cảnh vệ bảo vệ Bác ra sân bay đi dự hội nghị Fon tainebleau (1946). Cụ còn nhớ rõ, trước  khi bước lên máy bay, Bác dặn dò những người ra tiễn: “Các chú ở nhà luyện tập cho tốt, Bác đi rồi Bác lại về”. 

 

Vốn là người khéo tay, cẩn thận nên lúc rảnh rỗi, anh em trong đơn vị thường nhờ cụ Ích cắt tóc. “Thấy tôi khéo tay nên lãnh đạo Cục Cảnh vệ đề xuất chuyển đến phục vụ cho các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ở căn nhà nhỏ 33 Trần Phú. Sau đó, đến 1965, khi đồng chí Trần Hạnh (nguyên là Bí thư tỉnh Trà Vinh) người từng được giao cắt tóc cho Bác Hồ được điều sang làm đội trưởng đội bảo vệ lãnh tụ thì các đồng chí lãnh đạo tín nhiệm giao cho tôi làm công việc này” – cụ Ích xúc động kể lại.

 

Đều đặn một hoặc hơn một tháng, cụ Ích lại nhận được lệnh của đồng chí Vũ Kỳ vào cắt tóc, sửa râu cho Bác Hồ. “Bác có thói quen cắt tóc vào đầu giờ chiều, nên cứ khoảng 1h chiều là tôi đã có mặt ở nhà thợ điện trong Phủ Chủ tịch (nay là ngôi nhà số 54, Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch – PV). Những lần phục vụ Bác chỉ kéo dài trong khoảng 30 – 40 phút, không kéo dài hơn vì Bác rất bận”.

 

 

Trung tá Hoàng Hữu Duyên cho biết: Bộ sưu tập kỷ vật tóc và bộ dụng cụ cắt tóc của Bác gồm nhiều chất liệu nên phải lưu giữ nhiều chỗ khác nhau. Tuy nhiên, anh nhớ rõ vị trí của từng kỷ vật, có thể lấy ra bất cứ lúc nào mà không cần tra sổ.

 

Lần đầu được vào cắt tóc cho Bác Hồ, cụ đã vui đến mức cả đêm trước đó trằn trọc không ngủ được. Thế rồi, giây phút được cận kề bên vị Cha già mà cụ vô vàn kính yêu, nước mắt cứ ứa ra vì xúc động. Nhìn mái tóc của Người lấm tấm nhiều sợi bạc mà cụ không khỏi xót xa. “Ngay từ lúc đó, tôi đã nảy sinh ý nghĩ sẽ góp nhặt những sợi tóc của Người để giữ lại bên mình làm kỷ niệm. Bởi thế, mỗi khi cắt tóc cho Bác tôi thường dùng một khăn voan mỏng cuốn quanh vai để tóc không bị rơi. Cắt xong, tôi chỉ làm một động tác nhẹ nhàng là tháo chiếc khăn ra rồi vo tròn từ bên này sang bên kia để những lọn tóc đó nằm gọn phía trong. Sau đó tôi mang về nhà, cho vào một túi nilon, lấy bút ghi vào một mảnh giấy để đánh số thứ tự rồi cất vào tủ cá nhân của mình” – cụ Ích thật lòng chia sẻ.

 

 

 

Trong vòng 3 năm (1965 -1967) cụ Ích đã góp nhặt được hơn 30 lọn tóc của Bác. Mỗi lần đi công tác xa hoặc làm những nhiệm vụ quan trọng cụ lại kín đáo lấy một lọn tóc của Bác để vào túi áo bên ngực trái của mình như để tiếp thêm sức mạnh và nghị lực. Cụ lý giải: “Tôi không cho những lọn tóc này là những lá bùa có phép thuật gì đó, tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng, có một phần cơ thể Bác trong người cũng chính là đang có Bác bên cạnh”.

 

Nay đã hơn 80 tuổi, đã nghỉ hưu ở quê nhưng những kỷ niệm, kỷ vật về Bác Hồ, cụ Ích vẫn luôn cất giữ cẩn thận. Chị Nguyễn Thị Hồng – con gái cụ Ích, hiện công tác tại Bộ Tư lệnh Cảnh vệ cho biết: “Bố tôi luôn noi gương và dạy con cái những đức tính mà cụ học được từ Bác Hồ: Không ham hố lợi danh, giản dị, ngăn nắp, tận tâm với mọi người, mọi việc…”.

 

Quan tâm đến từng chi tiết

 

“Mỗi lần cắt tóc, bao giờ Bác cũng chủ động bắt chuyện để hỏi han về gia đình tôi, về cuộc sống của nhân dân bên ngoài. Thời kỳ đó còn dùng tem phiếu, Bác rất hay hỏi mọi người dùng tem phiếu có gặp nhiều khó khăn hay không? Thực phẩm mua bán bằng tem phiếu có đảm bảo chất lượng không? Mọi người ăn uống có được no không.

 

Có lần Người hỏi thăm về tình hình quê hương Liên Trung của tôi. Tôi thưa thật với Bác chuyện đê Liên Trung đang bị nứt, có nguy cơ vỡ. Ngay sau đó, Bác đã yêu cầu kiểm tra, cho gia cố lại đê, xây hệ thống cống Đan Hoài để cung cấp nước tưới tiêu cho bà con nhân dân xung quanh”.

 

Cụ Nguyễn Công Ích

 

LẤY GƯƠNG NGƯỜI TỐT, VIỆC TỐT CÓ THẬT TRONG NHÂN DÂN VÀ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TA MÀ GIÁO DỤC LẪN NHAU…

Hôm nay Bác mời các chú đến để bàn cách thực hiện điều mà Bác đã đề nghị với Ban Bí thư Trung ương Đảng. Bác muốn bàn luận dân chủ, các chú có ý kiến gì trái với Bác thì cứ cãi, nhất trí rồi về làm mới tốt được. Không nên: Bác nói gì, các chú cũng cứ ghi vào sổ mà trong bụng thì chưa thật rõ, rồi các chú không làm, hay làm một cách qua loa.

Bác đề nghị cho Bác được trình bày trước ý kiến của Bác:

– Từ năm 1959, Bác có ý định dùng huy hiệu của Bác như thế nào cho tốt. Có người đề nghị cho các nơi được làm huy hiệu của Bác để bán cho nhân dân. Có người lại đề nghị không nên bán mà nên cho, coi như một phần thưởng. Bác thấy nên cho thì đúng hơn. Nhưng cho ai?

Các chú vẫn thường nói: nhân dân ta rất anh hùng, ra ngõ gặp anh hùng. Điều đó rất đúng. Có thể nói trong mỗi nhà đều có anh hùng, như thế ra ngõ mới gặp anh hùng chứ! Nhìn lại lịch sử mấy nghìn năm của ông cha ta, ta cũng thấy điều đó. Cứ mỗi lần có những thử thách lớn thì nhân dân ta lại tỏ rõ khí phách, nêu cao phẩm chất tốt đẹp của mình. Ngày nay, chúng ta lại đang đứng trước những thử thách rất lớn, truyền thống anh hùng hàng nghìn năm đang được nhân dân ta phát huy đến độ cao chưa từng thấy. Và đã có những người làm nên sự tích oanh liệt được Đảng và Nhà nước tuyên dương. Đó là những bông hoa rất đẹp trong vườn hoa chung của dân tộc. Nhưng dù sao, số người và những tập thể được công nhận là anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua, được tặng huân chương, huy chương vẫn chỉ là số ít so với hàng triệu, hàng chục triệu con người hàng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc nước, việc nhà để đánh thắng giặc Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Có tập thể vĩ đại ấy mới có Đảng ta vĩ đại, mới có Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, mới có kháng chiến chống Pháp thành công, mới có sự nghiệp chống Mỹ cứu nước được cả thế giới khen ngợi. Đánh thắng giặc Mỹ rồi, cũng với tập thể anh hùng ấy, chúng ta sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Cho nên Bác nghĩ: cần có những phần thưởng để khuyến khích, động viên mọi người hăng hái làm tròn nhiệm vụ. Từ ngày hoà bình lập lại, Bác có yêu cầu báo của Đảng và của các đoàn thể mở ra mục Người mới, việc mới để làm việc đó đi đôi với phong trào thi đua ở các cấp, các ngành.

Bây giờ nên gọi là Người tốt, việc tốt cho đúng hơn. Đối với anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua được Đảng và Nhà nước khen thưởng thì phải qua nhiều cấp, nhiều ngành cân nhắc, xét duyệt. Còn với người tốt làm những việc tốt thì việc khen thưởng có thể đơn giản hơn. Nếu Trung ương cho phép Bác làm, thì Bác nghe báo cáo, đọc báo và chỉ cần điều tra lại một chút cho đúng sự thật là Bác có thể thưởng huy hiệu…

……

– Các chú sẽ xem bản kê này, Bác đã ghi rõ mỗi ngành, mỗi giới, mỗi địa phương, già, trẻ, gái, trai, miền ngược, miền xuôi, Việt kiều mới về nước….có bao nhiêu người được khen thưởng. Những con số ghi trong này không có nghĩa là ngành này, giới này, tỉnh này anh hùng hơn ngành, giới, tỉnh kia. Nơi nào có ít người được khen là do khuyết điểm của cấp lãnh đạo ở đó. Một số cán bộ ta hình như mải làm công tác hành chính, sự vụ hơn là để nhiều tâm sức xây dựng con người, xây dựng Đảng và các tổ chức cách mạng, cho nên không chịu theo dõi việc làm hàng ngày của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Ai làm tốt, không kịp thời nêu gương, ai làm xấu, không kịp thời giúp đỡ sửa chữa. Có nơi khi nhận được huy hiệu của Bác gửi về, đã biết tổ chức trao tặng hẳn hoi và làm cho mọi người, ít nhất là trong tập thể của người đó, noi gương và làm theo. Nhưng có nơi lại làm theo lối hành chính, chuyển cho người được khen như chuyển một cái công văn. Hoặc cho vào ngăn kéo cất kỹ, quên không trao cho người được thưởng! Đó là những cán bộ không biết làm việc, hoặc có cái nhìn không đúng. Những chiến công và thành tích nổi bật, vang dội thì ai cũng có thể thấy được. Còn những việc nhỏ, bình thường thôi, nhưng ích nước, lợi dân, thì hay bị xem thường.

Hình như các chú cũng chưa coi trọng những việc nhỏ như thế.

Các chú có biết biển cả do cái gì tạo ra không?

Từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc!

Người tốt, việc tốt nhiều lắm. Ở đâu cũng có. Ngành giới nào, địa phương nào, lứa tuổi nào cũng có. Thí dụ: có cháu gái tên là Xuân ở Quảng Bình đã chiến đấu dũng cảm, góp phần bắn rơi máy bay Mỹ. Nhiều cháu gái cũng làm được như cháu Xuân. Nếu tất cả cháu gái đều dám làm và làm được như thế thì chỉ riêng con gái Việt Nam cũng đủ đánh thắng giặc Mỹ rồi.

Các chú có thấy các cháu bé Việt Nam nhặt được của rơi đem trả có ý nghĩa như thế nào không? Ở nước Mỹ và các tư bản, người ta giết nhau chỉ vì đồng bạc giấy. Thế mà ở Việt Nam ta, các cháu bé đã biết sống như thế nào. Có cháu đã bảo mẹ cõng đi tìm chú công an để trả lại của bắt được. Có cháu bé lên 6 tuổi cùng bạn đi chơi, bạn nó sẩy chân ngã xuống ao, nếu chạy về gọi người lớn thì bạn nó chết mất, cháu liền bám vào bụi cỏ bờ ao, nhoai cái chân nhỏ xíu ra, miệng bảo bạn: “Bám vào đây, bám vào đây!”. Cháu tuy nhỏ mà đã biết thương bạn như vậy. Thương bạn, thông minh và dũng cảm, cháu lại khiêm tốn nữa, cứu được mạng người mà không khoe khoang. Văn minh chiến thắng bạo tàn. Xã hội ta văn minh hơn xã hội Mỹ từ những việc làm của các cháu bé như vậy.

Bộ đội ta không những biết đánh giặc giỏi mà còn biết đỡ đẻ cho dân nữa. Có chú bộ đội đi đường thấy người đàn bà sắp đẻ, thật là khó xử, vì chú ấy chưa học đỡ đẻ bao giờ. Nhưng chú bộ đội vẫn tìm mọi cách giúp đỡ, và tuy tàu xe rất khó khăn, vẫn đưa được cả hai mẹ con về tới gia đình. Như thế mới là bộ đội của nhân dân.

Các cụ già của Việt Nam cũng giỏi lắm, còn sức còn phục vụ. Các cụ cùng con cháu đánh giặc, xung phong chăm sóc sức khoẻ thương bệnh binh, đỡ đầu lớp mẫu giáo, trông nom vườn trẻ, gương mẫu trồng cây, trồng rừng. Có những cụ ông, cụ bà chuyên nhận nuôi những con trâu ghẻ, trâu gầy của hợp tác xã thành những con trâu béo khoẻ có thể kéo cày, kéo gỗ được…

– Nếu Bác ngồi kể lại những việc làm như thế thì kể mãi cũng không hết được. Bác chỉ muốn nhắc các chú một điều: chớ bỏ qua những việc mà các chú tưởng làm tầm thường. Hai cô con gái đi đường thấy cái hố nhỏ ở vỉa hè đã rủ nhau lấy đất lấp lại cho đồng bào khỏi vấp ngã. Một người nông dân đi giữa trời mưa thấy bao gạo của Nhà nước không có gì che phủ, đã cởi tấm ni lông của mình ra đậy gạo cho Nhà nước. Cụ già Việt kiều trở về Tổ quốc để cùng chia sẻ những khó khăn, cùng gánh vác công việc đánh Mỹ và xây dựng chủ nghĩa xã hội… Tất cả những việc làm như vậy đều nói lên tinh thần yêu nước, đạo đức trong sáng, thuần phong mỹ tục của nhân dân ta. Chúng ta đánh giặc và xây dựng xã hội mới bằng những việc làm muôn hình muôn vẻ của hàng chục triệu con người như thế, chứ không phải chỉ bằng một vài việc làm nổi bật và vang dội của một số cá nhân anh hùng.

….

– Các chú định ngành nào, giới nào thì nêu cao người của ngành ấy, giới ấy, có phải như thế không?

Vậy Bác xin hỏi các chú điều này: con gái có cần phải học con trai, học anh em, chồng con mình không? Con trai có cần phải học người già không? Bộ đội có cần học hậu phương không? Anh hùng chiến sĩ có cần phải học những người bình thường không? Cán bộ, đảng viên có cần phải học quần chúng nhân dân không? Cấp trên có cần phải học cấp dưới không?

….

– Như vậy là: một người phải biết học nhiều người. Hơn nữa, cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần cho mọi người được thấy nhiều loại hoa đẹp. Ta xây dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc. Định xây dựng những ngôi nhà như thế nào rồi mới dùng gạch, vữa, vôi, cát, tre gỗ…mà xây nên. Những gương người tốt làm việc tốt muôn hình, muôn vẻ là vật liệu quý để các chú xây dựng con người. Lấy gương tốt trong quần chúng nhân dân và cán bộ đảng viên để giáo dục lẫn nhau còn là một phương pháp lấy quần chúng giáo dục quần chúng rất sinh động và có sức thuyết phục rất lớn. Đó cũng là cách thực hành đường lối quần chúng trong công tác giáo dục:

– Các chú còn hay mắc cái tật nói chữ nhiều. Người ốm, các chú gọi là “bệnh nhân”. Làm bệnh nhân thì oai hơn người ốm có phải không? Giúp đỡ thì các chú không thích bằng “tương trợ”. Hình như các chú tương trợ Bác thì quan trọng hơn là giúp đỡ Bác! Tiếng Việt của ta rất phong phú, ta phải làm giầu thêm cho tiếng của ta, nhưng không nên vay mượn lu bù để loè thiên hạ. Ngày xưa, ta còn bị thực dân cai trị, có những người không thạo tiếng mẹ đẻ, nói năng chẳng ai hiểu gì, lại cho mình là trí thức cao. Bây giờ ta độc lập rồi, đừng nên bắt trước những thói xấu của thời nô lệ. Ta là cán bộ cách mạng, ta nói và viết cho quần chúng nhân dân mà mọi người không hiểu ta nói cái gì, sao có thể gọi là cán bộ cách mạng được.

….

– Đã tiếng Việt lại còn ngữ pháp! (Hồ Chủ tịch kể lại, Người vừa xem báo thấy có tin đã làm xong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt)

Sao không gọi là “Mẹo tiếng Việt” ? Cái gì tiếng ta đã có và dễ hiểu rồi thì đặt thêm ra làm gì? Mấy chú cải cách chữ Việt không khéo lại làm cho người ta khó hiểu thêm. Có tiếng ta dùng đã quen rồi, các chú lại tự ý sửa đổi. Tại sao lại viết: Quốc hội họp kỳ thứ bốn?

Các chú đi hỏi các cụ mà xem. Xưa nay nhân dân ta vẫn nói thứ tư chứ ai nói thứ bốn bao giờ!

….

– Vẽ rất quan trọng, Bác gần tám mươi tuổi rồi mà Bác còn nhớ hình ảnh ông Tử Lộ đội gạo nuôi mẹ trong sách giáo khoa ngày xưa. Nhân dân ta rất thích tranh vẽ, nhưng có những bức vẽ không ai hiểu gì cả. Hình như mấy chú vẽ cho mình xem chứ không phải vẽ cho quần chúng. Vẽ con gái đi đánh giặc mà các chú bắt người ta phải mặc áo dài tha thướt và đội nón bài thơ! Hồ Chủ tịch đưa cho mọi người xem một tờ báo có hình vẽ ba cô du kích Hà Nội – Huế – Sài Gòn.

Nếu các chú không tin, các chú thử đem hỏi các cháu gái ở mấy thành phố này xem. Chắc các cháu sẽ bảo: các chú vẽ ai chứ các cháu cầm súng đánh giặc không bao giờ lại ăn mặc như thế!

Bác không giỏi về mỹ thuật nên có thể không đánh giá đúng tranh vẽ của các chú. Nhưng Bác nghĩ rằng nghệ thuật phải gần với cuộc sống, người vẽ không thể tuỳ ý muốn tưởng tượng ra thế nào cũng được, rồi quần chúng phê bình lại bảo người ta dốt.

Về loại sách này, các chú không nên tham viết dài. Nhân dân ta có truyền thống kể chuyện ngắn gọn mà lại có duyên. Các chú phải học cách kể chuyện của nhân dân. Nên kèm theo nhiều tranh vẽ dễ hiểu mà đẹp, nhưng đừng vì vẽ nhiều mà tính đắt quá.

….

– Các chú làm được khá nhiều và trình bày cũng khá. Nhưng các chú có khuyết điểm là “mặc áo gấm đi đêm”! Các chú làm được nhiều, lại không biết tuyên truyền giới thiệu cho nhiều người biết mà đọc.

Loại sách mới, các chú nên làm theo khuôn khổ như thế này. Bác chọn một quyển sách làm mẫu: không nên to quá, cũng không nên nhỏ quá. Ngoài bìa cần có dòng chữ Loại sách Người tốt, việc tốt. Tên sách là gì thì mỗi ngành, mỗi giới chọn, các đồng chí lãnh đạo ngành, giới phải bàn tập thể để đặt tên sách cho đúng, cho hay. Rồi phải có lời tựa nữa. Lời tựa cũng phải viết tập thể. Sau khi có sách rồi, các chú lại phải biết tuyên truyền giới thiệu bằng mồm nữa.

Ngành giới nào cũng phải làm công tác tuyên truyền giới thiệu. Và các chú nhớ ở trang đầu mỗi cuốn sách đều phải ghi một câu Hoan nghênh bạn đọc phê bình. Từ nay trở đi trên sách hay trên báo, các chú nên luôn luôn có câu đó. Bác biết các chú văn hay chữ tốt, nhưng dù sao, nhân dân trăm tai nghìn mắt vẫn có nhiều ý kiến thông minh có thể giúp các chú tiến bộ hơn. Không riêng gì viết sách viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của nhân dân.

* *

*

Lâu nay, các chú tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin như thế nào? Kết quả ra sao? Các đồng chí báo cáo với Hồ Chủ tịch những việc đang làm.

– Các chú làm khá nhiều việc đấy. Nhưng có mấy điều Bác muốn biết rõ hơn. Các chú dạy cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc chắn có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không? Theo Bác, hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm Chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của chính mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác. Đó là điều thứ nhất cần rõ.

….

– Các chú có biết nhân dân ta sống với nhau như thế nào không?

Một đồng chí trả lời: – Thưa Bác, nhân dân ta có câu “Tối lửa tắt đèn có nhau”.

Đúng là như vậy! Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được! Đó là điều thứ hai cần phải rõ.

Mấy chục năm nay, nhân dân ta thực hành chủ nghĩa Mác – Lênin bằng cách ra sức làm tròn nhiệm vụ cách mạng và sống với nhau có tình có nghĩa. Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ đảng viên ta mà giao dục lẫn nhau: đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin thiết thực nhất

….

– Các chú Tuyên huấn có xem xét công tác giáo dục thanh niên không?

Đối với các cháu học ở trong nước và đi học nước ngoài, các chú giáo dục các cháu thế nào?

Các đồng chí báo cáo với Hồ Chủ tịch về những việc đang làm.

Thanh niên ta bây giờ giỏi lắm. Chỉ nói về đánh giặc, so với cuộc kháng chiến chống Pháp hơn mười năm về trước, cũng đã thấy con hơn cha rồi. Ta có câu “con hơn cha là nhà có phúc”. Bác mong các cháu bây giờ và sau này ngày càng giỏi thì mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa công sản được. Nhưng bên cạnh những điều đáng khen, vẫn còn những chuyện không xứng đáng với thanh niên ta. Trước đây Bác và các chú bước vào con đường cách mạng, ai cũng sẵn sàng nhận lấy hai cái này: một là ngồi tù, hai là lên máy chém. Ngoài cái được lớn là độc lập tự do cho nhân dân, Tổ quốc, không ai nghĩ sẽ giành phần danh lợi cho cá nhân mình. Bây giờ ta đã có chính quyền rồi, hoàn cảnh đã khác trước. Một số cháu khi phấn đấu vào Đoàn hay vào Đảng lại có ý nghĩ là để được tín nhiệm, để mau được đề bạt và lên lương! Phải uốn cây từ lúc cây non, đừng để cho tâm hồn các cháu bị vẩn đục vì chủ nghĩa cá nhân như thế.

Đối với các cháu học sinh đại học sau mấy năm học các cháu sẽ bước vào đời, trở thành những cán bộ có trình độ văn hoá, khoa học khá. Nhưng các cháu ấy có biết cán bộ nghĩa là gì không? Các chú dạy các cháu rất nhiều điều, nhưng có một điều phải làm thật rõ: Làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ trung thành của nhân dân. Mấy chứ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được.

Mấy chục năm nay, nhân dân ta phải tập trung sức lực để đánh giặc cho nên về xây dựng đời sống ta chưa làm được nhiều. Nhưng đánh thắng giặc Mỹ rồi thì những việc chính của Cách mạng là làm thế nào giải quyết ngày càng tốt hơn những vấn đề: ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, phòng và chữa bệnh…., tóm lại là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Những điều lớp người này chưa làm xong thì lớp người sau phải tiếp tục làm. Các chú không nên nói cao xa mà phải nói rất cụ thể cho các cháu hiểu. Thí dụ: Các cháu học ngành xây dựng thì phải hiểu rằng nhân dân ta còn thiếu nhiều nhà ở. Đi học ở nước ngoài thì phải học những cái hay cái tốt của bạn, để làm sao xây dựng được nhiều và nhanh những ngôi nhà thoáng mát, thuận tiện, hợp khí hậu và rẻ tiền cho nhân dân. Nếu các cháu tốt nhiệp rồi, việc trước tiên lại chỉ lo sao cho mình có quần áo đẹp, có căn nhà riêng sang trọng làm tổ ấm, thì công tác giáo dục của các chú không thể coi là có kết quả được!

Bác nghe nói có cháu trước khi vào Đại học đã có người yêu hoặc đã có vợ, nhưng khi “thành tài” rồi lại chê người cũ. Như thế là không có đạo đức, làm sao trở thành cán bộ tốt được!

Tuy vậy, những cái hư hỏng chỉ là số ít. Nhà trường, đoàn thể và gia đình hàng ngày phải biết phòng ngừa và đẩy lùi những cái không tốt đó cho các cháu. Phải thấy phần đông các cháu là tốt. Cần lấy ngay những gương tốt đó của các cháu và những gương người tốt, việc tốt trong nhân dân để giáo dục các cháu. Không nên nói lý luận suông!

….

– Bác không phản đối việc giáo dục cho thanh niên ta những hiểu biết về thế giới, về lịch sử các nước, về những cái hay của loài người. Nhưng ta phải phân biệt cái gì nên làm trước, cái gì làm sau cho thiết thực và có ích. Trước kia, thực dân Pháp còn cai trị nước ta, có những người trí thức Việt Nam rất thông thuộc lịch sử, địa lý và các chuyện thần thoại của nước Pháp, Hy Lạp và La Mã. Nhưng khi hỏi đến các vị anh hùng là tổ tiên, ông cha mình, hỏi đến địa lý nước mình thì mù tịt. Nay ta độc lập, tự do rồi, cố nhiên ta không đào tạo nên những con người như thế.

Tuy vậy, Bác nhắc các chú điều này: Bây giờ do cuộc chống Mỹ, cứu nước của ta có một vị trí rất lớn đối với thế giới, ta lại đánh thắng đế quốc Mỹ, nên ngày càng có nhiều người nước ngoài tìm hiểu rất kỹ về Việt Nam. Coi chừng, có nhiều người Việt Nam lại không hiểu rõ lịch sử, đất nước, con người và những cái vốn rất quý báu của mình bằng người nước ngoài. Nếu có tình hình như vậy, thì các chú làm công tác tuyên truyền, giáo dục phải phụ trách!

– Muốn giáo dục nhân dân, làm cho mọi người đều tốt cả thì cán bộ đảng viên phải tự giáo dục rèn luyện hàng ngày. Người xưa còn biết tu thân mỗi buổi tối kiểm điểm mình và dùng hai cái lọ đỗ đen, đỗ trắng để nghi việc tốt việc xấu. Đảng viên, cán bộ ta từ nhân dân anh hùng mà ra, phải sống cho xứng với nhân dân và Đảng anh hùng.

Bác rất vui mừng thấy phần đông đảng viên, cán bộ ta đã tỏ ra xứng đáng với danh hiệu của mình. Nhưng cũng có một số trường hợp khiến Bác không vui.

Trước đây, khi cách mạng còn trong bóng tối, hoặc khi còn ở chiến khu, chúng ta chỉ có hai bộ quần áo nâu, đi công tác thì ba lô lên vai và đi bộ. Khó khăn, thiếu thốn, ốm đau ta đều dựa vào nhân dân. Nay tình hình đã khác trước. Đời sống nhân dân khá hơn xưa, cán bộ ta ăn ở cũng khá hơn, đi công tác có xe đạp, có ô tô nữa. Nhưng có một số người không nhớ lúc hàn vi, lại để cho chủ nghĩa cá nhân nẩy nở. Đã có xe rồi, lại “phấn đấu” để có chiếc xe đẹp hơn, chiếm mất phần của người khác. Đã có nhà ở rồi, lại “phấn đấu” theo kiểu như thế để có nhà đẹp hơn. Làm như vậy là trái với đạo đức cách mạng. Các chú có biết rằng dân tộc ta vĩ đại, Đảng ta vĩ đại, ta được anh em bầu bạn khắp năm châu yêu mến và ca ngợi là vì cái gì không?

Vì cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta do Đảng ta lãnh đạo là chí công vô tư, mình vì mọi người…

Từ nay về sau, nhân dân ta và Đảng ta phải giữ gìn và phát huy mãi mãi đạo đức trong sáng ấy. Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cho nên trong khi ta kiên trì và đẩy mạnh cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước, làm cho Việt Nam mình chiến thắng bạo tàn thì đồng thời phải loại trừ những cái xấu xa do chế độ cũ để lại trong xã hội và trong mỗi con người.

Mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nẩy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người họ nẩy nở để đẩy lùi phần ác, chứ không phải đập cho tơi bời. Lấy gương người tốt việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới.

Các chú có biết người xưa đã có những cách giáo dục sâu sắc như thế nào không? Các chú còn nhớ những chuyện Nhị thập tứ hiếu (tập thơ song thất lục bát của Lý Việt Nam Phúc 1785 -1849) không?

….

– Bác gần tám mươi tuổi mà vẫn còn nhớ chuyện ông Lão Lai; vợ chồng Quách Cự, chú bé Hán Lục Tích…hiếu thảo với cha mẹ như thế nào. Những chuyện như thế ngày xưa cả những người không biết chữ cũng thuộc. Các chú phải biết rút kinh nghiệm, học tập cách giáo dục của ông cha ta. Các chú có thể làm tốt hơn, vì đạo đức ngày nay cao rộng hơn: không phải chỉ có hiếu với bố mẹ, mà trung với nước, hiếu với dân. Đạo lý ngày xưa các cụ nêu lên không phải ai cũng làm được, vì con người sống trong xã hội cũ là xã hội người đi áp bức bóc lột người, quan hệ giữa người với người thường là xấu. Bây giờ xã hội mới, không có áp bức bóc lột, ai cũng có thể vươn tới đỉnh cao của đạo đức cách mạng. Những gương thánh hiền ngày xưa chỉ có mấy chục và là chuyện của nước ngoài, chuyện tưởng tượng ra. Còn thánh hiền ngày nay bao gồm hàng triệu con người có thật trong nhân dân Việt Nam ta, ở trong nhà hay ra ngõ đều có thể gặp được. Đó là những anh hùng, dũng sĩ, chiến sĩ thi đua. Đó là hàng triệu “người tốt, việc tốt” đang chống Mỹ, cứu nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đang cùng nhau viết nên những trang sử vô cùng oanh liệt mà con cháu ta sẽ mãi mãi tự hào.

….

– Có điều gì chưa rõ thì các chú cứ nói. Ta sẽ bàn nữa. Nếu về nhà thấy có điều gì nữa thì báo cáo cho Bác biết, rồi lại bàn tiếp.

Thế bao giờ các chú làm xong những cuốn sách đầu tiên?

Các đồng chí hứa với Hồ Chủ tịch đến ngày 2-9-1968

Trước khi in, các chú gửi cho Bác xem một số bài. Viết giản dị thôi và phải đúng sự thật. Không được bịa ra. Gửi cho Bác xem cả bìa sách và một số tranh vẽ các chú định làm. Ta làm những cuốn đầu tiên, rồi rút kinh nghiệm để làm tốt hơn những cuốn sau này.

———————————-

1. Trích Bài lược ghi ý kiến của Bác trong một cuộc làm việc đầu tháng 6-1968 về việc bồi dưỡng và nêu gương người tốt, việc tốt.

 

Câu Chuyện Đối Nhân Xử Thế Tài Tình

Của Bác Hồ Trong Một Cuộc Đón Khách Quốc Tế

Nguyễn Hồng Trân

http://sachhiem.net/LICHSU/N/NgHgTran_TS01.php

 

09-May-2012

(Trích Hồi ký “DÒNG ĐỜI TÔI”, Quyển 9:
Những mẫu chuyện thực tế không thể nào quên).

 

Cách đây hơn 50 năm về trước, một buổi sáng tháng 5 năm 1960, tại Quảng trường Ba Đình Hà Nội, diễn ra buổi lễ đón tiếp Tổng thống nước Cộng hoà Ghi Nê (*)  là Xê – Cu Tu – Rê (Sekou Toure) theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuộc Mít-tin trọng thể đã diễn ra từ 7 giờ sáng. Đồng bào Thủ đô, cán bộ công nhân viên chức, các giáo viên, học sinh, sinh viên các trường Đại học có mặt rất đông đúc và trên tay đều cầm cờ hoa vẫy chào Hồ Chủ tịch và Tổng thống Tu- Rê đi ra lễ đài.

Lớp chúng tôi đứng trong hàng ngũ sinh viên dự lễ phía trước lễ đài gần đó nên nhìn rất rõ Bác Hồ và Tổng Thống Xê Cu Tu- Rê.

Sau phần nghi thức ban đầu của buổi lễ rồi đến phần phát biểu của Tổng thống. Trong bài diễn văn thống thiết của Tổng thống, sau đó ông ta dừng lại, nhìn sang Bác Hồ và nói một giọng rất tôn kính:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ là vị lãnh tụ rất quý mến của nhân dân Việt Nam mà còn của cả nhân dân Ghi- Nê chúng tôi”.

Tiếng pháo tay hoan hô vang dội cả quảng trường Ba Đình.

Ông nói tiếp:   

“Đối với tôi, cái tên Hồ Chí Minh đã khắc sâu trong trái tim tôi, tôi rất yêu quý Người. Cho nên hôm nay khi tôi sang thăm Việt Nam thì được tin vợ tôi mới sinh được một đứa con trai rất khôi ngô tuấn tú, tôi liền điện về nói vợ tôi đặt tên cho nó là Hồ Chí Minh”.

Nói xong câu đó, ông Tổng thống nhìn sang Bác Hồ chúng ta và nói nhỏ gì đấy… chắc là ông ta xin phép Bác được đặt tên con ông như thế.

Khi nghe như vậy mọi người cứ xì xào râm ran lên mà không vỗ tay. Có người nói to: “Ông Tổng thống này trịch thượng thật, khinh người thật! dám cả gan đem tên vị lãnh tụ của chúng ta đặt cho con mình à!?”.

Nhiều người cũng nói như vậy và tỏ ra khó chịu, bực tức lắm. Nghe tiếng xì xào trong biển người dự lễ tại quảng trường Ba Đình hôm đó, Bác Hồ chúng ta đã hiểu ý của nhân dân Thủ đô không hài lòng về chuyện này và tiếp đó Bác Hồ liền đứng ra trước micrô nói ngay với tất cả đồng bào, cán bộ một cách nhẹ nhàng vui vẻ:

“Kính thưa đồng bào! Tổng thống Xê-Cu Tu-Rê rất quý mến Bác nên mới muốn đặt tên cho con trai yêu quý của mình là Hồ Chí Minh. Phong tục của nước họ là như vậy, chúng ta hãy thông cảm. Còn Bác thì không có vợ, không có con, đồng bào biết rồi đấy. Cho nên Bác có ý kiến đề nghị với đồng bào thế này nhé: Trong ngày hôm nay, nếu chị em phụ nữ nào ở nước Việt Nam ta mà sinh con thì ta đặt tên cho con là Xê- Cu Tu-Rê có được không ?”.

Bác tươi cười nói năng một cách hoà nhã, chân thành và hợp lý như vậy. Tiếng vỗ tay và hô vang: “Đồng ý, đồng ý !”.

Người thông dịch liền dịch ngay cho Tổng thống Tu- Rê biết điều đó và ông bày tỏ lời cám ơn nhân dân Việt Nam đã quý mến ông.

Thế là đồng bào ta không thắc mắc gì nữa mà lại thỏa mãn vô cùng cách giải thích ứng xử kịp thời của Bác Hồ.

Được chứng kiến sự kiện này, tôi cảm thấy Bác Hồ quá nhạy cảm, thông minh trong việc đối nhân xử thế tình huống tâm lý thật tài tình. Nhiều người bàn tán rằng: “Bác Hồ chúng ta đối đáp vấn đề tâm lý này thật hay quá! sâu sắc quá! Tổng thống Xê-cu Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi Nê chỉ sinh được một Hồ Chí Minh, còn nhân dân Việt Nam ngày hôm nay sẽ sản sinh ra được nhiều người con Tu- Rê. Như vậy không nói ra cũng đủ hiểu rằng chỉ một Chủ tịch Hồ Chí Minh là bằng bao nhiêu Tổng thống Tu- Rê…”.

Tôi cũng thầm nghĩ như vậy và vô cùng thích thú với một chuyện thực tế mà tôi đã mắt thấy, tai nghe như vậy. Có thể trong thâm tâm của Bác Hồ không bao giờ có tính so sánh đề cao mình như vậy đâu. Đó là một sự ngẫu nhiên đối nhân xử thế của Người một cách kịp thời cho thoả ý, thoả lòng mong muốn của đồng bào ta và của cả đôi bên. Đó cũng là xuất phát từ tấm lòng nhân ái của Bác “Trọng người như thể trọng ta”.

Từ thời tôi còn là học trò các trường phổ thông, tôi đã từng đọc sách báo và đã nghe nhiều chuyện về cách ứng xử rất thông minh tài tình của Hồ Chủ tịch, nhưng tôi vẫn chưa tin 100%. Tôi nghĩ rằng, chắc người ta đã thêu dệt thêm, tô điểm thêm câu chuyện cho hấp dẫn nhằm đề cao vị Chủ tịch của đất nước Việt Nam mà thôi. Đến khi tôi được trực tiếp chứng kiến sự kiện này vào giữa năm Canh Tý (1960), trong buổi lễ đón tiếp Tổng thổng Tu- Rê của nước Cộng hoà Ghi- Nê thì tôi mới cảm thấy thực sự Bác Hồ có cách đối nhân xử thế với khách Quốc tế thật nhạy cảm, thông minh tuyệt vời !…

——————–

Chú thích: * Nước Cộng hoà Ghi Nê (Guinea) nằm ở Tây Phi, trên bờ Đại Tây Dương.Diện tích: 245.857 Km2. – Dân số: 9.467.800 người. – Quốc khánh: 2/10/1958. Ghi-nê là nước dân tộc chủ nghĩa đầu tiên ở châu Phi có quan hệ ngoại giao với ta – 9/10/1958,

Trao đổi đoàn: Phía Ghi-nê: Cố Tổng thống Xê-cu Tu-rê (Sekou Toure) thăm Việt Nam năm 1960.

Phía Việt Nam: Phó Chủ tịch nước Nguyễn Hữu Thọ thăm Ghi-nê năm 1978, Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thăm Ghi-nê tháng 3/1994. Hai bên đã ra thông cáo chung, ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế, Văn hoá, Khoa học kỹ thuật và Thương mại, hai bên thỏa thuận thành lập Uỷ ban về hợp tác giữa hai nước.

 

 

Chỉ thị thành lập quân đội của Bác Hồ gửi trong bao thuốc lá

Giadinh.net – Mùa xuân năm 1941, sau khi đi khắp năm châu bốn biển tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trước tình hình và vận mệnh của dân tộc, Người rất coi trọng và trực tiếp tổ chức huấn luyện chính trị, quân sự cho cán bộ địa phương, chuẩn bị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tạo điều kiện cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

 

Chỉ thị đặc biệt

 

Đầu tháng 12 năm 1944, tại Pác Bó (Cao Bằng), lãnh tụ Hồ Chí Minh đã triệu tập đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Vũ Anh đến để nghe báo cáo tình hình phong trào cách mạng trong ba tỉnh Cao – Bắc – Lạng và chủ trương phát động chiến tranh du kích của liên tỉnh uỷ. Người chỉ định đồng chí Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm công tác thành lập lực lượng vũ trang tập trung. Ngay chiều hôm sau, Người gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Lê Quảng Ba để thông qua kế hoạch thành lập đội. Người thêm hai chữ “Tuyên truyền” vào tên đội Việt Nam giải phóng quân và dặn: “Nhớ bí mật: Ta ở đông, địch tưởng là ở tây. Lai vô ảnh, khứ vô hình”.

 

Nửa tháng sau, lãnh tụ Hồ Chí Minh gửi một bức thư (được đặt trong bao thuốc lá) cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Đó là chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Chỉ thị gồm ba vấn đề chủ yếu: Một là, tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền, có nhiệm vụ dìu dắt cán bộ vũ trang các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp vũ khí, nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên. Nguyên tắc tổ chức lực lượng là sẽ chọn trong hàng ngũ du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực… Hai là, đối với các đội vũ trang địa phương. Tập trung các cán bộ đưa đi huấn luyện rồi đưa về huấn luyện ở các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến… Ba là, về chiến thuật: “vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay đông mai tây, lai vô ảnh, khứ vô hình”.

 

Người khẳng định: “Tuy lúc đầu qui mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Bắc vào Nam, khắp đất nước Việt Nam”.

 

 

Bác Hồ thăm đơn vị bộ đội diễn tập tại Bắc Giang.

 

Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành lập ngày 22/12/1944 tại khu rừng Sam Cao (còn gọi là Trần Hưng Đạo) thuộc huyện Nguyên Bình – tỉnh Cao Bằng do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Đội gồm có 34 đội viên được biên chế thành trung đội gồm 3 tiểu đội với vũ khí hết sức thô sơ.

 

Sau khi thành lập lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, mặc dù bận trăm công ngàn việc, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trực tiếp thường xuyên chỉ đạo và dành những tình cảm đặc biệt đến việc giáo dục rèn luyện và xây dựng lực lượng quân đội. Đặc biệt vào những ngày thành lập lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam hàng năm, Người đều viết thư động viên, khen ngợi những thành tích mà lực lượng Quân đội đạt được và đến thăm, dự mít tinh, chiêu đãi do Bộ Quốc phòng tổ chức.

 

Ngày 22 tháng 12 năm 1949, nhân kỷ niệm 5 năm Ngày thành lập lực lượng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Người điểm lại quá trình phát triển của quân đội ta, từ nhóm du kích đầu tiên thành lập sau 5 năm đã trở thành một quân đội lớn mạnh. Người chỉ rõ: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước yêu dân, cho nên hy sinh gian khổ. Quân đội ta luôn giữ gìn và phát huy truyền thống anh dũng của quân đội giải phóng Việt Nam và đạo đức cách mạng gồm trong 10 điều kỷ luật”.

 

Những lời dặn dò của Bác

 

Nhân 10 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam trong không khí hoà bình ở miền Bắc, ngày 22/12/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi những thành tích mà toàn thể CBCS đạt được và chỉ rõ nhiệm vụ của quân đội. Người tặng mỗi Đại đoàn và mỗi Liên khu một lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” để làm giải thưởng luân lưu.

 

Ngày 22/12/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể CBCS nhân dịp 15 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Người khen ngợi quân đội ta trong 15 năm qua đã vượt mọi khó khăn, làm tròn nhiệm vụ và đã lập được nhiều thành tích vẻ vang và căn dặn tất cả cán bộ và chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân: “Phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, kỹ thuật và văn hoá, ra sức công tác và lao động, tăng cường sản xuất, thực hành tiết kiệm, góp phần xây dựng Chủ nghĩa xã hội;  Phải trau dồi đạo đức cách mạng, đoàn kết, khiêm tốn, hết lòng vì Đảng, vì nhân dân; Phải nâng cao chí khí chiến đấu, luôn luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình”.

 

Cùng ngày, Người tới dự buổi chiêu đãi kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Phát biểu tại buổi chiêu đãi, Người biểu dương: “Quân đội chúng ta anh hùng trong kháng chiến mà cũng anh hùng trong hoà bình” và nêu rõ sở dĩ có những thắng lợi và những thành công đó là nhờ sự giáo dục và lãnh đạo của Đảng, nhờ sự giúp đỡ của nhân dân. Vì vậy, cán bộ và chiến sĩ “không được tự mãn, không được tự kiêu. Trái lại, cần phải khiêm tốn, cần phải đoàn kết, cần phải ra sức thi đua học tập, học tập về chính trị, học tập văn hoá, học tập kỹ thuật”.

 

 

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 22/12/1944 tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng).

 

Trong không khí phấn khởi kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tối ngày 22/12/1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự chiêu đãi tại Bộ Quốc phòng. Phát biểu tại buổi chiêu đãi, Người khen ngợi các lực lượng vũ trang đã lập nhiều thành tích trong chiến đấu, học tập và lao động sản xuất. Ca ngợi truyền thống chiến đấu và chiến thắng của quân đội ta, Người nói: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Người còn khẳng định rõ: “Quân đội ta có một sức mạnh vô địch vì nó là quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Nguồn gốc của sức mạnh ấy là do cán bộ, chiến sĩ đoàn kết, quân dân đoàn kết. Người căn dặn cán bộ, chiến sĩ phải khiêm tốn, cố gắng hơn nữa, phải học tập quân và dân miền Nam anh hùng, phải nâng cao tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu, đập tan mọi hành động và âm mưu của kẻ thù.

 

Nhân kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam – ngày hội Quốc phòng toàn dân, cán bộ và chiến sĩ trong lực lượng quân đội phát huy truyền thống quý báu của “Bộ đội Cụ Hồ” hơn sáu thập kỷ qua; quyết tâm xây dựng lực lượng quân đội tiến lên chính quy, tinh nhuệ và hiện đại; bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu mạnh.

 

Nguyễn Đức Quý

 

Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa dân tộc vô sản

16:42′ 19/5/2011

TCCSĐT – Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc là một tư tưởng khoa học và cách mạng. Nó được Đảng ta vận dụng trong toàn bộ tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc giành độc lập và tiếp tục theo đuổi lý tưởng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay, mọi sự hiểu lầm hay cố tình xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải tiếp tục được đấu tranh loại bỏ để làm cho tư tưởng vĩ đại ấy ngày càng trong sáng hơn.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận thiên tài của cách mạng Việt Nam. Người đã để lại một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, một cuộc cách mạng vừa phải giành độc lập dân tộc thực sự, vừa phải giải quyết vấn đề dân chủ triệt để, giải phóng nhân dân lao động hoàn toàn thoát khỏi áp bức, bóc lột. Và, luận điểm trung tâm, xuyên suốt để giải quyết triệt để cả hai vấn đề ấy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, như thế, vấn đề dân tộc cần phải được giải quyết theo lập trường của giai cấp vô sản. Gần một thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân tộc Việt Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, căn bản, có ý nghĩa lịch sử và thời đại.

Thế nhưng, gần đây lại có luận điểm cho rằng: “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc”. Đây là một luận điểm không hiểu hoặc cố tình không hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh. Nó làm mất đi một “tính từ” không chỉ làm thay đổi ngữ nghĩa của tiếng Việt, mà như vậy, nó làm mất đi sự hoàn hảo, làm biến dạng một khái niệm.

Vấn đề dân tộc luôn gắn liền với vấn đề giai cấp. Chủ nghĩa dân tộc bao giờ cũng bảo vệ lợi ích, dựa trên lập trường của một giai cấp nhất định, không có chủ nghĩa dân tộc phi giai cấp, chủ nghĩa dân tộc chung chung, cải lương. Lịch sử đã cho thấy, từ khi dân tộc xuất hiện cho đến nay, giai cấp đại biểu cho phương thức sản xuất thống trị luôn nắm quyền thống trị dân tộc. Giai cấp thống trị dân tộc bao giờ cũng giải quyết vấn đề dân tộc, bảo vệ độc lập, tự chủ và phát triển dân tộc theo hình ảnh và lợi ích của giai cấp mình. Vì thế, chủ nghĩa dân tộc, với tính cách là hệ tư tưởng chính trị và tâm lý đòi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc, bao giờ cũng phụ thuộc vào lập trường, quan điểm của giai cấp thống trị dân tộc.

Gắn liền với các giai cấp đã nắm quyền thống trị dân tộc là các cách tương ứng bảo vệ độc lập, tự chủ và phát triển dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc. Giai cấp phong kiến, tư sản và vô sản nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc khác nhau. Nhân loại từng biết, chủ nghĩa dân tộc truyền thống thể hiện lòng yêu nước lâu đời của một dân tộc, chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa dân tộc vô sản, chủ nghĩa dân tộc cách mạng, chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi… Không có dân tộc phi giai cấp. Chưa có và chừng nào còn giai cấp sẽ không có chủ nghĩa dân tộc phi giai cấp. Chủ nghĩa dân tộc luôn mang tính giai cấp, chủ nghĩa dân tộc luôn có “tính từ” như đã nói.

Cũng cần lưu ý rằng, chính Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã rất chú ý  bản chất giai cấp trong khi đề cập đến chủ nghĩa dân tộc. Ngay từ những năm đầu đến với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Người đã phân biệt rõ “chủ nghĩa dân tộc bản xứ” – chủ nghĩa dân tộc truyền thống ở các nước thuộc địa, với “chủ nghĩa quốc tế” – chủ nghĩa dân tộc theo lập trường của giai cấp vô sản. Người viết “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước… Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản… Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi… nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(1). Người luôn nhắc nhở khi giải quyết vấn đề dân tộc phải đứng vững trên lập trường vô sản, tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô-vanh cũng như chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại.

Do vậy, khi cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là “chủ nghĩa dân tộc” là một cách diễn đạt thiếu chính xác, không đầy đủ. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ nội dung cách mạng, tiên tiến nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh và thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người. V.I.Lê-nin đã từng cảnh báo: “Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của các giai cấp này hay giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”(2).

Đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam rên xiết dưới ách thống trị của thực dân và phong kiến. Người thanh niên Nguyễn Tất Thành, với lòng yêu nước, thương dân, với nhãn quan chính trị sắc sảo đã nhận thấy không thể cứu nước và giải phóng dân tộc theo cách cũ, chẳng hạn, phong trào Cần Vương, đại biểu cho hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến; phong trào nông dân Yên Thế mà thực chất cũng theo khuynh hướng tư tưởng phong kiến, cũng không thể theo con đường của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, đại biểu cho khuynh hướng tư tưởng tư sản dân tộc thuần tuý…

Với quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, sau gần mười năm qua nhiều châu lục, tìm hiểu chủ nghĩa thực dân, đế quốc cả ở “chính quốc” và thuộc địa của chúng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được xu hướng phát triển tất yếu của thời đại, Người đã gặp chủ nghĩa Mác – Lê-nin và trở thành người cộng sản. Người cộng sản Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc…”(3) Người chỉ rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”(4).

Bằng sự phân tích sâu sắc trên cơ sở cứ liệu lịch sử chính xác, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ cho nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa thấy rằng, công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không thể đi theo con đường cách mạng tư sản, vì đó là “cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”(5). Con đường đúng theo Nguyễn Ái Quốc là con đường Cách mạng Tháng Mười Nga – con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa: “Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư (Các Mác- TG)và Lê-nin”(6).

Người rút ra kết luận: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, thực hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc gắn bó thống nhất với tư tưởng của Người về chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng, trong thời đại ngày nay, con đường phát triển tất yếu của cách mạng giải phóng dân tộc do đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo sẽ là tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định: cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Bởi: “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(7). Và theo Người, chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do; về bản chất, chủ nghĩa xã hội là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ, một xã hội không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, ai làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm là không hưởng. Đó cũng là ước nguyện cháy bỏng của Người khi ra đi vào cõi vĩnh hằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(8).

Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam mới thành lập, trong Chính cương vắn tắt do Người khởi thảo đã đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc trong triển vọng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Người đã làm sáng tỏ mối quan hệ hữu cơ giữa giải phóng dân tộc với chủ nghĩa xã hội, đặt nền tảng cho bước chuyển biến từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Người khẳng định: chỉ có hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc mới có điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội, và chỉ có làm cách mạng xã hội chủ nghĩa mới giữ vững những thành quả do sự nghiệp giải phóng dân tộc mang lại.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, người chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này “là ra sức xây dựng và củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(9). Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 3-1960), luận điểm này đã được tái khẳng định, những năm tháng cuối đời, Người vẫn không quên căn dặn đảng viên: “không được phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: suốt đời làm cách mạng phấn đấu cho tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc ta và trên thế giới”(10). Chỉ hơn một tháng trước khi từ trần, trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Nhân đạo, Người đã tiếp tục khẳng định thêm một lần nữa: “chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới”(11).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ xã hội đã định hướng chính trị, chỉ đạo nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được kiểm nghiệm, khẳng định thành công trong giai đoạn Đảng ta lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc (1945-1954), giai đoạn tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, trong đó cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là cơ sở vững chắc của cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà (1954-1975), cũng như giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn kế tiếp, đặc biệt là nó vẫn luôn có ý nghĩa thời sự đối với công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.

Hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc phải gắn liền với quyết tâm chính trị lớn nhằm đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh” đang được Đảng ta vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp đổi mới nhằm ra sức phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân ta tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, phát triển đất nước nhanh, bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”(12).

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội chính là luận điểm trung tâm, nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một đóng góp của cách mạng Việt Nam vào kho tàng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, vào lý luận cách mạng xã hội trong thời đại hiện nay. Thực tiễn cách mạng đã chứng tỏ sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam cần thiết, có thể và hiện thực đã được giải quyết theo lập trường của giai cấp vô sản, chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vì vậy thực chất là chủ nghĩa dân tộc vô sản.

Kết luận trên cũng có nghĩa là luận điểm “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một cách hiểu và diễn đạt không chính xác, không đầy đủ và xuyên tạc tư tưởng của Người. Luận điểm sai trái ấy đi ngược lại lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – tư tưởng chỉ đạo chiến lược lớn xuyên suốt cả quá trình cách mạng Việt Nam. Rõ ràng luận điểm ấy muốn Việt Nam từ bỏ ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, từ bỏ con đường mà dân tộc ta đã lựa chọn và quyết hy sinh phấn đấu trong hơn 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Luận điểm “thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc” là một luận điệu có ý đồ chính trị rõ ràng, muốn “lập lờ đánh lận con đen”, muốn tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tách rời độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thực chất là cổ suý cho quan điểm muốn nước ra từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa, từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Tại Đại hội XI, Đảng ta chỉ rõ bài học đầu tiên của quá trình 20 năm đổi mới là: ”Phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(13). Mọi sự tách rời độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự nhận thức chưa đầy đủ, chưa hiểu hoặc cố tình xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều đó sẽ dẫn đến không nhận rõ mục tiêu chính trị của Đảng; mơ hồ, thậm chí dao động, sự mập mờ về tư tưởng bởi không nắm vững nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; và tất yếu trong hành động sẽ dẫn đến mất định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự mơ hồ về chính trị, dao động về tư tưởng, mất định hướng trong hành động như vậy sẽ là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến nguy cơ chệch định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước mà chúng ta cần tích cực, chủ động đấu tranh ngăn chặn, khắc phục.

—————————————

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2000, t1, tr 466-467

 (2) V.I.Lê-nin: Toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, t23,  tr 57

(3)Hồ Chí Minh. Sđd, t1, tr 461

(4) Hồ Chí Minh. Sđd, t2, tr 268

(5) Hồ Chí Minh. Sđd, t3, tr 268

(6) Hồ Chí Minh. Sđd, t3, tr 280

(7) Hồ Chí Minh. Sđd, t4, tr 56

(8) Hồ Chí Minh. Sđd, t4, tr 161

(9) Hồ Chí Minh. Sđd, t9, tr 156

(10) Hồ Chí Minh. Sđd, t12, tr 93

(11) Hồ Chí Minh. Sđd, t12, tr 474

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011 tr 266

(13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng, sdd , tr 70

 

 

Dương Quốc Dũng Đại tá, PGS, TS, Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội nhân văn quân đội, Bộ Quốc phòng.

 

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh – thiên tài dự báo tương lai

 

 

(Cadn.com.vn) – Chủ tịch Hồ Chí Minh là một thiên tài đa diện: là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa, nhà tư tưởng kiệt xuất, nhà lý luận lỗi lạc, nhà thơ lớn của dân tộc, nhà báo cách mạng vĩ đại, nhà chiến lược quân sự đa tài, nhà ngoại giao xuất sắc và nhà tiên tri.

Những dự báo tương lai của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hình thành là nhờ nắm vững và vận dụng sáng tạo lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, cộng với năng lực khái quát và tổng kết lịch sử – thực tiễn.

Sau những năm tháng bôn ba ra nước ngoài khảo sát, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm bắt được chính xác đặc điểm của xu thế phát triển của thời đại. Nhờ có năng lực nhìn xa trông rộng bao quát lịch sử và thời đại Người đã khai phá ra con đường cách mạng chưa từng có trong lịch sử đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc đó là: Con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ đó khơi dậy được toàn bộ sức mạnh trí tuệ tài năng của dân tộc và của thời đại.

Ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể, Người đã đưa ra những tiên đoán kỳ diệu với độ chính xác gần như tuyệt đối. Thiên hướng đó ở Người đã bộc lộ khá sớm. Trong một bức thư gửi cho nhà cách mạng yêu nước Phan Châu Trinh vào tháng 8-1914 từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành đã viết: “Tiếng súng đang rền vang. Thây người đang phủ đất. Năm nước lớn đang đánh nhau. Chín nước đang vào vòng chiến. Cháu bỗng nhớ cách đây vài tháng cháu đã nói với bác về cơn sấm động này…”. Điều đó có nghĩa là trước đó Bác đã dự đoán: cuộc đại chiến thế giới 1914 – 1918 sắp nổ ra.

Trong truyện ngắn “Con người biết mùi hun khói” – một truyện viễn tưởng đăng trên báo Nhân đạo (Pháp) ngày 20-7-1922, Nguyễn Ái Quốc đã viết về lễ kỷ niệm lần thứ 50 của ngày cách mạng thành công ở nước Cộng hòa Liên hiệp Phi, Người đã tiên đoán cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa sẽ thành công vào năm 1948. Như vậy cơ bản phù hợp với thời gian Thắng lợi Cách mạng tháng 8- 1945 ở Việt Nam, với nền độc lập của Ấn Độ (1947) và thắng lợi của Cách mạng Trung Quốc (1949). Còn quang cảnh của ngày mừng độc lập thì Người đã tả gần giống như ngày Quốc khánh của nước ta: “… Ở các bao lơn và các cửa sổ mọc ra muôn vàn tấm lá cờ đỏ phấp phới yêu kiều trước gió… Từ sáng sớm, các đường phố, các quảng trường y như một dòng sông người. Từng đoàn học sinh, giương cờ đi đầu, vừa diễu qua các phố, vừa hát Quốc tế ca, được dân chúng vỗ tay hoan nghênh…”.

Năm 1924, trong bài “Đông Dương và Thái Bình Dương” Người đã dự báo về nguy cơ bùng nổ một cuộc chiến tranh thế giới mới với tiên đoán “Thế nào rồi cũng có ngày nước Nga cách mạng phải đọ sức với chủ nghĩa tư bản”.  Người còn chỉ ra rằng Thái Bình Dương và các nước thuộc địa xung quanh Thái Bình Dương sẽ trở thành miếng mồi béo bở cho các đế quốc nên khu vực này “tương lai có thể trở thành một lò lửa của cuộc chiến tranh thế giới mà giai cấp vô sản sẽ phải nai lưng ra gánh”. 15 năm sau, điều tiên đoán này của Người đã trở thành hiện thực, năm 1939 chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ, phát-xít Đức tấn công Liên Xô, các nước xung quanh Thái Bình Dương đã trở thành một chiến trường ác liệt.

Ngày 1-1- 1942, trên báo Việt Nam độc lập số 114, Người đã làm bài thơ “Chúc mừng năm mới”, bài thơ tràn đầy niềm lạc quan và triển vọng thắng lợi của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới mặc dù cuộc chiến tranh vệ quốc của Liên Xô đang gặp khó khăn, bọn phát-xít đang làm mưa làm gió trên bầu trời Âu – Á. Cùng in trong số báo trên còn có bài “Năm mới công việc mới”, Người khẳng định: “Ta có thể quyết đoán rằng, Nga nhất định thắng, Đức nhất định bại, Anh, Mỹ sẽ được, Nhật Bản sẽ thua. Đó là một dịp rất tốt cho dân ta khởi nghĩa đánh đuổi Pháp, Nhật, làm cho Tổ quốc ta độc lập tự do”.

Vào mùa xuân Canh Ngọ (2-1942), Người biên soạn cuốn “Lịch sử nước ta”. Cuối tác phẩm có mục những năm tháng quan trọng ghi những sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc, sự kiện cuối cùng Người viết: 1945 – Việt Nam độc lập. Thật là một dự báo kỳ diệu, trong lúc các nguyên thủ của phe đồng minh dự tính phải đến năm 1946 thì mới có thể đánh bại phe phát-xít.

Năm 1949, trong truyện ngắn “Giấc ngủ mười năm” với bút danh Trần Lực do Tổng bộ Việt Minh xuất bản, Người phác họa sự biến đổi của đất nước ta và con người Việt Nam sau chiến tranh. Trong đó Người vẽ ra viễn cảnh của xã hội nước ta sau khi chiến tranh kết thúc cho đến năm 1958 với những sự kiện gần như xác thực.

Đặc biệt Người đã mô tả trận đánh cuối cùng có quy mô to lớn, ác liệt; giặc Pháp đã phải huy động “từng đàn, từng lũ máy bay… tủa ra như ong”. “Chúng dội bom xuống như mưa. Tốp máy bay này về thì tốp khác tới, chúng thay nhau ném bom… tiếng nổ long trời chuyển đất, khói lên nghi ngút như mây”. Qua sự miêu tả ấy, chúng ta đều liên tưởng đến trận đánh quyết chiến, quyết thắng mang tầm chiến lược đã diễn ra ở Điện Biên Phủ năm 1954.

Năm 1960, Người tiên đoán: chậm nhất là 15 năm nữa nước nhà sẽ thống nhất. Trong Diễn văn bế mạc Người đọc tại lễ Quốc khánh 2- 9 tổ chức ở Nhà hát Lớn Hà Nội có đoạn viết: “Trong lúc chúc mừng ngày Quốc khánh vĩ đại lần thứ 15, chúng ta càng nhớ đến đồng bào ta ở miền Nam đang anh dũng đấu tranh chống chế độ tàn bạo của Mỹ-Diệm. Chúng ta gửi đến đồng bào miền Nam mối tình ruột thịt và hứa với đồng bào rằng: Toàn dân ta đoàn kết nhất trí, bền bỉ đấu tranh thì chậm nhất 15 năm nữa (câu này gốc là gạch bỏ và Hồ Chí Minh Toàn tập k có), Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc – Nam nhất định sum họp một nhà”. Đúng 15 năm sau vào ngày 30 – 4 – 1975 đất nước ta hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất đúng như tiên đoán của Người.

Trước khi từ biệt chúng ta, Người đã tin tưởng dặn lại trong di chúc: “ … Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định hoàn toàn sẽ thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định phải thống nhất. Đồng bào Nam – Bắc nhất định sum họp một nhà”. Người còn hình dung cụ thể tình huống cuối cùng trước khi Mỹ phải cút khỏi nước ta “Sớm muộn gì đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước mọi tình huống, càng sớm càng tốt để có thời gian mà suy nghĩ, mà chuẩn bị”. Khi nhắc lại kinh nghiệm ở Triều Tiên, trước khi thua Mỹ đã ném bom hủy diệt Bình Nhưỡng, Người dự báo: “Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Thực tế đã diễn ra đúng như tiên liệu của Bác Hồ. Trước khi chịu ký kết Hiệp định Paris ngày 23-1-1973, Mỹ đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội.

Ngày nay ôn lại các dự báo của Người, chúng ta hiểu thêm một phương diện thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Lê Văn Huân

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh với phóng viên báo chí nước ngoài

Tất cả những phóng viên, nhà báo quốc tế đã từng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng giữ lại ấn tượng sâu sắc và họ luôn tìm cách lý giải về sức cảm hóa kỳ lạ, vốn hiểu biết uyên bác, tài trí thông minh tuyệt vời, ý chí, nghị lực hoặc sự giản dị, lạc quan, thẳng thắn, kinh nghiệm và tự tin kết hợp với phong cách lịch thiệp, nho nhã của Người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đoàn nhà báo L’unita của Đảng Cộng sản Italia (12/5/1959).

Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài ngày 22/1/1946: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào ủy thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như một người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.

Đánh giá được tầm quan trọng và kết quả thực tiễn to lớn của báo chí cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tâm sức và thời gian cho công tác báo chí tuyên truyền trong nước; bên cạnh đó, những kinh nghiệm trong nghề làm báo (Le Paria, Thanh niên, Việt Lập…) và viết báo (1.535 bài báo dưới 53 bút danh) đã tạo cho Người một phong cách tiếp xúc và trả lời phỏng vấn các phóng viên, nhà báo nước ngoài vô cùng minh triết, linh hoạt, khéo léo và chuẩn xác từng câu chữ.

Tháng 9/1945, các phóng viên hỏi về tiểu sử cách mạng của mình, Hồ Chủ tịch nói: “Từ khi ra đời tôi đã thấy nước mình bị nô lệ. Không muốn sống cảnh nô lệ nữa, ngay từ thuở thiếu niên, tôi đã đấu tranh để giải phóng đất nước. Có lẽ đó là công lao duy nhất của tôi”.

Tháng 10/1945, phân tích với báo giới về thái độ của Chính phủ lâm thời Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Chúng ta hoan nghênh những người Pháp muốn đem tư bản vào xứ ta khai thác những nguồn nguyên liệu chưa có ai khai thác. Có thể rằng, chúng ta sẽ mời các nhà chuyên môn Pháp cũng như Mỹ, Nga hay Tàu đến đây giúp việc cho chúng ta trong công cuộc kiến thiết quốc gia. Nhưng, phải nhắc lại rằng, điều kiện chính vẫn là họ phải thừa nhận nền độc lập của xứ này. Nếu không vậy, thì không thể nói chuyện được gì cả”. Người đề cập tới chính sách nội trị: “Chính phủ lâm thời Dân chủ Cộng hòa phải là công bộc của dân, phải làm sao cho dân tộc Việt Nam có danh với thế giới, tranh được lợi với thế giới”.

Tháng 12/1945, tiếp nhà báo Pháp Misen Henrich, Người đưa ra nhận xét rất hài hước: “Nước Pháp thật là một xứ sở kỳ lạ. nước Pháp đã sản sinh ra những tư tưởng tuyệt diệu, nhưng khi xuất cảng, chẳng bao giờ nước Pháp cho đưa ra những tư tưởng đó!”. Sau bản Tạm ước 14/9, báo chí hai bên đưa nhiều tin thất thiệt, Hồ Chủ tịch phát biểu với các nhà báo quốc tế: “Một tờ báo có ảnh hưởng trong dân chúng rất mạnh, có thể giúp chính phủ rất nhiều. Báo chí Việt – Pháp bây giờ có thể giúp nhiều về chỗ làm dễ dàng mối quan hệ giữa hai dân tộc. Cố nhiên, chúng ta tôn trọng tự do của báo chí, nhất là hai nước tôn trọng dân chủ như hai nước Pháp và Việt Nam. Vì vậy hai chính phủ phải hứa với nhau rằng, từ đây về sau các báo hoặc của chính phủ hoặc của dân chúng, sẽ thôi chửi nhau. Tục ngữ Việt Nam có câu: Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Không phải chúng tôi có cái không tưởng rằng, báo chí hai bên sẽ luôn gửi thư yêu đương cho nhau. Nhưng bao giờ một bên nào có khuyết điểm, bên kia phê bình thì cũng phải trên lập trường hữu nghị mà phê bình”.

Ngày 25/5/1948, báo “Freres d’Armes phỏng vấn Người:

– Thưa Chủ tịch, Chủ tịch ghét gì nhất?
– Điều ác.
– Thưa Chủ tịch, Chủ tịch yêu gì nhất?
– Điều thiện.
– Chủ tịch mong điều gì nhất?
– Nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên toàn cầu.
– Thưa Chủ tịch, Chủ tịch sợ cái gì nhất?
– Chẳng sợ gì cả. Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì.

Mấy ngày sau, biết tin đồng chí Võ Nguyên Giáp được phong tướng, một nhà báo Pháp phỏng vấn Người qua đài: “Xin Chủ tịch hãy cho biết dựa trên nguyên tắc nào mà phong tướng cho các vị chỉ huy?”. Bác trả lời rất hóm hỉnh: “Chúng tôi đánh du kích chống thực dân Pháp nên cũng phong hàm một cách du kích. Ví dụ: cán bộ quân đội nào đánh thắng một quan ba Pháp thì phong hàm quan ba. Theo nguyên tắc này (mà chắc ông cũng cho là hợp lý) thì đồng chí Võ Nguyên Giáp của chúng tôi đáng lẽ phải được phong mấy lần Đại tướng và Đô đốc (vì đã đánh thắng nhiều tướng và đô đốc Pháp).

Phóng viên Bơcset người Australia từng lặn lội khắp chiến trường Việt Nam đã không kìm được thắc mắc khi gặp Người: “Khi tôi hỏi Người: “Văn phòng của Chủ tịch ở đâu?”, câu trả lời khiến tôi vô cùng kinh ngạc: “Lúc nào trời tối thì ở ngoài hiên, khi nào trời mưa thì ở trong buồng ngủ”. Người ra đón tôi như đón một người quen cũ với bộ quần áo vải nâu và đôi dép cao su lốp ôtô. Tác phong giản dị không cầu kỳ đó, Hồ Chủ tịch suốt đời không thay đổi”.

Nghị sĩ, nhà báo, nhà hoạt động chính trị Agienđê ghi trong hồi ký sau lần gặp Bác Hồ: “Chủ tịch từ từ bước ra, tay chống ba toong và đi đôi dép cao su không thể nào lẫn được. Không có vẻ kiêu kỳ, không có gì ngạo mạn trong lời nói mà chỉ thấy niềm tin mãnh liệt vào nhân dân. Chúng tôi chưa bao giờ cảm thấy sự giản dị và sự vĩ đại lại đi gần với nhau như vậy. Tư tưởng và lời nói của Chủ tịch chứa đựng sự đau thương và anh dũng của cả một dân tộc đã làm nên lịch sử, nhưng sự hiền dịu tỏa ra lời nói thì chỉ có ở Người”. Sau này khi trở thành Tổng thống Chilê, một nhà báo hỏi ông rằng: “Những phẩm chất cách mạng mà ngài muốn có và nhà hoạt động chính trị nào là tấm gương của ngài?”. Agienđê trả lời ngắn gọn: “Tính trọn vẹn, lòng nhân đạo và sự khiêm tốn trang trọng của Hồ Chủ tịch”.

Ngày 12/10/1954, nhà văn Ba Lan M.Giulapxky gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Sơn Tây đã viết: “Người ra hiệu cho đồng chí phiên dịch không phải dịch. Khi nghe phóng viên báo “Sự thật” hỏi, Người trả lời bằng tiếng Nga, sau đó Người nói chuyện bằng tiếng Italia với phóng viên tạp chí “Unita”, bằng tiếng Anh với phóng viên báo “Công nhân”, rồi Người vui vẻ giải thích bằng tiếng Pháp tại sao mình nói được nhiều ngôn ngữ như vậy”.:good:

Bác sĩ Thụy Điển Giôn Tecman được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời đến uống trà một buổi sáng năm 1958, nhớ lại: “Lúc ấy tôi định phỏng vấn Người để đăng báo, nhưng cuối cùng chính Người đã phỏng vấn tôi suốt 45 phút liền, vì Người muốn hiểu biết nhiều hơn nữa về phong trào công đoàn ở Thụy Điển”.

Năm 1962, nhà văn Nga Mariani Tsêkhốp dùng bữa cơm chiều với Người gồm: rau, dưa, đĩa cá kho và ly rượu thuốc. Vì anh nói tiếng Việt còn ngượng nghịu nên nhiều khi Bác phải giải thích cho anh bằng tiếng Pháp và cả tiếng Nga nữa. Mỗi khi nhắc tới bữa cơm đó, Mariani vẫn cảm động: “Hồ Chí Minh là bậc đại tài, đại nhân, đại đức. Đồng chí Hồ Chí Minh là vĩ nhân có một không hai. Nhân dân Việt Nam thật hạnh phúc được bước trên con đường đi đến tương lai do người khai sơn phá thạch”.

Ngày 7/5/1964, khi trả lời phỏng vấn của Hãng Phát thanh – Truyền hình Pháp (RTF) về quá trình hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trước đây tôi hoạt động cách mạng, bây giờ tôi vẫn phục vụ cách mạng và tôi sẽ tiếp tục làm như vậy”. Nguyện vọng của tôi cũng như nguyện vọng của nhân dân Việt Nam là xây dựng đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, tăng cường đoàn kết và giữ gìn hòa bình lâu dài trên thế giới”.

Năm 1966, nhà thơ Bungary Đimitrôva gặp Người lúc 6 giờ sáng để tránh báo động phòng không, kể: “Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp, thứ tiếng Người nói rất giỏi. Chúng tôi uống nước chè ướp hương sen không có đường, như sinh hoạt trong một gia đình bình dị nhất. Người là chủ nhà, là chủ cả một đất nước mà chỉ mặc một bộ áo ka ki giản dị, chân đi đôi dép cao su không tất và có một lọ hoa hồng để trên bàn”. Trước lúc ra về, chị xin Người chữ ký kỷ niệm cho cuốn “Nhật ký trong tù” và ngay khoảnh khắc ấy chị phát hiện ra : “Con người vĩ đại có một thứ ánh sáng rất kỳ diệu. Người có phong cách rất tự nhiên và bình dị. Hồ Chí Minh, niềm hy vọng lớn nhất”.

Sáclơ Phuốcniô, nhà sử học Pháp đã phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1969, hồi tưởng: “Giọng nói của Người rất tự chủ, lúc nào cũng đi thẳng vào vấn đề, không chút nghi thức. Giờ phút được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh hôm ấy là một trong những giờ phút đáng ghi nhớ trong đời tôi. Người không để lộ với tôi những bí mật Nhà nước, không tìm cách dạy tôi một bài học về đạo đức hay chính trị nhưng càng nghe tôi càng thấy Người vừa nói về một vấn đề lớn của đất nước, vừa dạy cho tôi một bài học luân lý chính trị”.

Nhà báo Mađơlen Riphô nhớ như in cả một câu chuyện dài. Chị gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu năm 1946, Người động viên chị: “Bây giờ con hãy làm việc, học tập. Khi nào trở thành nhà báo, con hãy sang Việt Nam. Bác sẵn sàng đón con bất cứ lúc nào, như con gái của Bác (Ma Fille)”. Tám năm sau, chị gặp lại Bác ở Hà Nội. Người đã tặng chị hai tấm lụa để may hai chiếc áo mặc mỗi khi sang Việt Nam. Năm 1969, chị gặp Bác lần cuối cùng khi sức khỏe của Người không được tốt. Bác dặn: “Con ơi, nếu con muốn làm vui lòng Bác thì một hôm nào đó, con hãy gửi cho Bác một bộ đĩa thu lại những bài hát mà xưa kia Maurice Chevalier vẫn hát, hồi Bác còn ở Paris và lúc con chưa ra đời”. Mùa hè năm ấy, chị đã tìm thấy những đĩa hát và gửi sang cho Người. Hai ngày sau khi Bác từ trần, phóng viên thường trú tại Hà Nội báo tin cho chị: “Bác Hồ đã nhận được các đĩa hát. Bác đã nghe lại các đĩa hát đó một cách thích thú. Bác rất vui lòng”. Tại Paris, vô cùng thương tiếc Người, Riphô viết bài “Bác Hồ đi giữa mùa thu” đăng báo Nhân Đạo: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, lần này có thật là Người ra đi vĩnh viễn không?”.

Ngày 14/7/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời phỏng vấn của Marta Rohat, nữ phóng viên báo Granma (Cuba): “Đồng chí muốn biết tình cảm của tôi đối với miền Bắc và đối với miền Nam phải không? Tôi nghĩ rằng tôi chưa làm tròn nghĩa vụ cách mạng của tôi đối với đồng bào miền Nam; mặc dù như vậy, tôi biết rằng, đồng bào miền Nam vẫn yêu quý tôi cũng như tôi luôn yêu quý đồng bào. Ở miền Nam tôi không phải là Chủ tịch Hồ Chí Minh mà là Bác Hồ… Tôi yêu đồng bào ở miền Bắc cũng như đồng bào ở miền Nam. Tôi hiến cả đời cho dân tộc tôi…”.

Người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc, nhà văn hóa lớn, cây bút kiệt xuất đã trả lời cuộc phỏng vấn cuối cùng của cuộc đời mình như vậy, như Thông tấn xã TASS nhận định: “Hồ Chí Minh là hiện thân của những phẩm chất tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam và giá trị của toàn nhân loại; đó là trí tuệ, tính khiêm tốn, tài năng và sự giản dị”.

 

Chuyện ít biết về đá hình lá cờ trong Lăng Bác

12/04/2012 07:48:24

(Kienthuc.net.vn) – Với những ai đã từng vào Lăng viếng Bác hẳn sẽ không quên hình ảnh hai lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc ghép liền nhau trong phòng Bác nằm. Tuy nhiên, việc hai lá cờ được ghép lại từ những tấm đá không phải ai cũng biết.

Ngót bốn mươi năm đã qua, kể từ những ngày miệt mài với công việc dán ghép các mặt đá tạo hình lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc trong Lăng Bác, song với GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu, ký ức ấy vẫn chưa hề phai nhòa.

 

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu (ngoài cùng bên phải) bên công trình Lăng đang xây dựng (ảnh tư liệu).

 
Tìm đá quý

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu mở đầu câu chuyện từ lý do ông được chọn là người dán các mặt đá ghép thành hình lá cờ trong Lăng Bác. Ông nhớ lại: “Năm 1969, tôi bảo vệ thành công luận án PTS ở Mát-xcơ-va. Về nước, tôi làm cán bộ giảng dạy ở Trường Đại học Bách khoa.

 

Sau đó, tôi cũng đã có vài công trình ứng dụng về nhựa epoxy – là loại nhựa có nhiều tính năng kỹ thuật tốt, dùng để dán kim loại và phi kim loại như sắt với sắt, đá với đá… Chính vì thế mà tôi được chọn thực hiện công việc này”.

Ấy là hồi năm 1974, ông Nguyễn Phúc Ứng, Trưởng phòng Kỹ thuật của Xí nghiệp đá hoa An Dương xuống trường đặt vấn đề, mời cùng thực hiện công việc. “Đây là Xí nghiệp duy nhất được Bộ Xây dựng lựa chọn để giao cho việc cắt, mài, dán đá tạo hình lá cờ ở phòng nghỉ của Bác trong Lăng. Khi được mời cộng tác, khỏi phải nói tôi vui sướng và vinh dự biết dường nào”, ông không giấu được xúc động.

Việc tìm đá có màu sắc tương ứng với hai màu đỏ và vàng được gấp rút thực hiện. “Bình Định nổi tiếng là nơi có nhiều đá granit và đá rất đẹp. Tuy nhiên, do điều kiện đất nước đang có chiến tranh nên việc lấy đá ở trong đó chuyển ra rất khó khăn. Cũng có một số người phát hiện thấy đá có màu đỏ, đem trình Bộ Chính trị nhưng đá này có màu xỉn kiểu tiết gà để lâu, không có thần nên đã không được chọn.

 

Cũng trong thời gian đó, hai cán bộ địa chất băng từ Sơn La sang Lào, có qua miền Tây Thanh Hóa. Khi đến huyện Bá Thước, họ thấy có những hòn đá chỉ to bằng quả bưởi nằm lăn lóc bên đồi, dùng búa chuyên dụng gõ vào thì thấy đá bật ra màu đỏ rất đẹp. Loại đá này đã được Bộ Chính trị duyệt”, ông Diệu nhớ lại.

Sấy đá

Đá được vận chuyển từ Thanh Hóa ra Hà Nội, tập kết tại Xí nghiệp đá hoa An Dương. Đầu tiên, những hòn đá phải được cắt ra thành từng miếng. Việc cắt đá cũng khá công phu.

 

Dù phía Liên Xô có hỗ trợ máy cắt nhưng chủ yếu vẫn phải làm thủ công. Theo đó, người thợ sẽ rắc cát rải lên thanh thép rồi cắt dần. Làm như thế nên khá mất công và tốn thời gian. Đá được cắt xong sẽ được mài cho nhẵn.

 

“Theo thiết kế, hai lá cờ có tổng kích thước chung là 6m x 6m với 96 tấm đá. Trước khi đem dán, chúng tôi phải tiến hành ráp sơ bộ để đảm bảo khi dán ghép không xảy ra sai sót. Sau đó, chúng tôi phải dùng aceton lau sạch mặt đá cần dán vì aceton sẽ tẩy sạch những chất hữu cơ bám trên bề mặt và quan trọng là nhanh bay hơi hơn cồn. Đá được lau xong sẽ đặt lên bàn sấy. Đây là khâu rất quan trọng vì nếu không sấy, khi gặp trời nồm ẩm, dán đá sẽ rất khó bám”, ông kể.

Cũng theo ông Diệu, bàn sấy được trang bị hệ thống đèn hồng ngoại vì tia hồng ngoại sẽ cấp nhiệt tốt hơn. Thời điểm đó, tìm được loại đèn này rất khó vì đèn rất hiếm. Tuy nhiên, do tính chất cấp bách của việc xây Lăng nên việc trang bị mấy chục bóng đèn hồng ngoại nhanh chóng được đáp ứng.

 

 

GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu và bản thiết kế hai lá cờ trong Lăng Bác.

Bị bảo vệ gọi sang vì “trong đá có kim loại”

Một kỷ niệm trong quá trình dán đá mà GS Diệu nhớ mãi và theo lời ông thì “mỗi lần nhắc lại cũng đủ khiến mình… thót tim”. Chuyện là khi 96 tấm đá hoàn thành, chuẩn bị chuyển vào Lăng thì đồng chí an ninh ở phòng bảo vệ gọi vào gặp.

“Ngày thường, tôi cùng kỹ sư Vĩnh (Xí nghiệp Đá hoa An Dương) làm việc ở cạnh phòng bảo vệ. Thú thực là tôi cũng không thấy đó là áp lực, vì nghĩ việc ai người nấy làm. Tuy nhiên, sớm hôm ấy tôi bị họ gọi vào. Tôi cũng khá hồi hộp và lo lắng. Họ nói khi kiểm tra đã phát hiện trong hầu hết các tấm đá đều có kim loại. Họ cần tôi phải giải trình.

 

Tôi liền đưa tấm bản đồ ra. Theo đó, trong quá trình cắt, mài đá, độ dày mỏng của từng viên rất khác nhau. Nếu cứ mài mãi cho đến khi bằng nhau sẽ rất tốn công sức và mất thời gian. Tôi cùng kỹ sư Vĩnh đã nghĩ ra cách phải lót tấm thép phía mặt sau của những tấm đá mỏng để tôn lên, đảm bảo khi dán các mặt đá sẽ nằm trên cùng một mặt phẳng, không bị tụt xuống.

 

Đó là chuyện nhớ đời của tôi vì có ai vẽ ra cho mình vị trí kê đâu, toàn tự mình mày mò đấy chứ”, ông kể. Sau đó, bộ phận an ninh đã kiểm tra lại và quyết định chuyển những tấm đá vào Lăng.

Mời lái xe của Bác chở đá vào Lăng

Việc vận chuyển đá cũng phải vô cùng thận trọng. “Chính đồng chí lái xe cho Bác Hồ được giao việc chở đá vào Lăng bằng xe Gas 69”, ông xác nhận.

Theo thiết kế, xe Gas 69 có thùng phía sau. “Họ đóng kệ gỗ hình chữ A ở trên thùng, mỗi bên chỉ để một tấm, mỗi lần chở hai tấm. Mỗi tấm đá được dùng chăn dạ bọc lại, cẩn thận như thế vì thời gian hết rồi, nếu bị vỡ sẽ không còn đá mà làm tiếp mà phải đợi đi tìm thêm”, ông Diệu cho hay.

Thời gian từ lúc cắt đá đến lúc dán thành hai lá cờ trong Lăng mất chừng 3 – 4 tháng, kết thúc trước ngày 30/4/1975. “Thời gian làm việc khá căng thẳng và có nhiều áp lực vì đây là công trình đầu tiên của tôi về khâu dán đá. Tôi lại chưa có kinh nghiệm mà chỉ có kiến thức được học. Sau này, có một số tấm phải dán lại. Từ đó đến giờ không bao giờ phải dán lại nữa”, GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu kết thúc câu chuyện bằng một nụ cười mãn nguyện.

 

“Ngoài việc dán hai lá cờ, tôi còn tham gia dán dòng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh phía trên Lăng. Đây là công việc khó nhất vì đá sẽ được khoét lõm, sau đó mới đặt đá xếp thành chữ vào. Khi ấy khoét bằng máy siêu âm, chậm vô cùng, có khi khoét chữ H lên tới cả tuần. Do không kịp tiến độ nên chúng ta phải nhờ cả thợ đá của Liên Xô có búa chuyên dụng để đục”.
   
“Những ngày tham gia dán đá, tôi được nhà trường cho nghỉ để toàn tâm toàn ý cho công việc. Vợ tôi cũng tạo điều kiện rất nhiều. Thế nhưng, có một lần bà ấy đùa tôi. Hôm đó, khoảng 2, 3 giờ sáng, khi tôi vừa chợp mắt được vài tiếng thì nghe bà ấy báo thức, bảo “Anh dậy mau, người trong Lăng gọi”. Tôi vội vàng bò dậy thay quần áo, định chạy xuống tầng một lấy xe thì bà ấy cười “Em đùa đấy”. Thực sự, lúc đó cũng chẳng giận vợ đâu. Đó cũng là kỷ niệm khó quên của tôi”.
GS.TSKH Trần Vĩnh Diệu

Thanh Thủy

 

Chuyện Bác Hồ đặt tên các cận vệ

Giadinh.net – Mười hai năm làm công tác bảo vệ và phục vụ Bác Hồ từ những ngày đầu cách mạng, là 1 trong 8 người cận vệ vinh dự được Bác Hồ đặt tên: “Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi”, sau này, ông là người đã được giữ nhiều chức vụ quan trọng như:

 

Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu lịch sử Đảng, Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và là người giữ chức vụ cao nhất của Tổng cục Thể dục Thể thao (giai đoạn 1981 – 1992). Ông chính là Tạ Quang Chiến – người “ở giữa” trong số 8 cận vệ được Bác Hồ đặt tên.

 

 

Đồng chí Tạ Quang Chiến đang cung cấp tư liệu cho tác giả tại nhà riêng năm 2008.

 

Ông Tạ Quang Chiến (tên thật là Nguyễn Hữu Văn) sinh năm 1925 tại Thanh Hoá, quê hương giàu truyền thống cách mạng. Năm 10 tuổi cậu bé Văn theo gia đình ra Hà Nội sinh sống. Lớn lên Nguyễn Hữu Văn đã chọn con đường cách mạng là con đường đi của mình, tình nguyện tham gia vào tổ chức Thanh niên Cứu quốc.

 

Cách mạng tháng Tám thành công cũng là lúc Nguyễn Hữu Văn vừa tròn 20 tuổi. Với thành tích và nhiệt huyết cách mạng, Nguyễn Hữu Văn được tuyển vào đội tự vệ chiến đấu Hoàng Diệu, đơn vị vũ trang đặc biệt trực thuộc Thành uỷ Hà Nội.

 

Những ngày đầu cách mạng, công tác bảo vệ Bác Hồ gặp rất nhiều khó khăn. Tháng 10/1945, Trung ương Đảng quyết định tăng cường lực lượng bảo vệ Bác. Qua đồng chí Trần Quang Huy, Bí thư Thành uỷ Hà Nội giới thiệu, đồng chí Nguyễn Lương Bằng đã chọn Nguyễn Hữu Văn vào tổ giúp việc cho Bác Hồ.

 

 

Chân dung đồng chí Tạ Quang Chiến.

Bảo vệ Bác vào “hang hùm” Quốc Dân Đảng

 

Hỏi về những kỷ niệm bảo vệ Bác Hồ trong những ngày đầu cách mạng, ông như sống lại trong những ngày hào hùng của dân tộc, ông kể lại: “Một lần, vào cuối tháng 11/1945 trước cửa Ngân hàng Đông Dương (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) xảy ra vụ một Pháp kiều tên là Acnu, giáo viên trường Kỹ nghệ Đông Dương bị bắn chết.

 

Kẻ ám sát đi một chiếc xe ôtô Ford màu xanh đen giống xe của Bác Hồ thường đi. Nguyên nhân của sự việc chưa rõ, nhưng Lư Hán – Tổng Tư lệnh quân Tưởng ở Việt Nam đã biết. Hắn tỏ vẻ bất bình và nhân cơ hội này đã gửi thư mời Bác đến trụ sở của hắn ở đường Trần Hưng Đạo để giải quyết hậu quả. Bác đã nhận định rõ ý đồ của tên tướng quân đội Tưởng cáo già này, nhưng Người vẫn bố trí đến gặp. Trước khi đi, Người gọi điện thoại đến đại diện Mỹ ở Hà Nội yêu cầu bố trí để Người đến làm việc vào ngay buổi trưa hôm đó sau khi gặp Lư Hán.

 

Khi đến trụ sở của Lư Hán, hắn viện lý do không tiếp, yêu cầu Bác gặp cấp dưới của hắn và cho xe chở đầy lính áp tải xe của Bác về Quân đoàn Bộ (quân đoàn 3) trụ sở làm việc của Chu Phúc Thành tại phố Phạm Ngũ Lão (nay là trụ sở của Bộ Tư lệnh Quân khu Thủ đô). Trước thái độ xấc xược của quân Tưởng, tổ bảo vệ chúng tôi rất lo lắng và sẵn sàng đối phó. Khi Bác đến gặp, Chu Phúc Thành cố tình kéo dài thời gian tìm mọi cách đổ lỗi vụ ám sát người Pháp kiều cho ta nhưng không thành. Cũng lúc căng thẳng đó là đến giờ hẹn gặp đại diện Mỹ, nên bọn Tưởng buộc phải để Bác về”.

 

8 người cận vệ được Bác Hồ đặt tên

 

Theo lời kể của ông Tạ Quang Chiến thì: “Đầu năm 1947, để bảo toàn lực lượng, các cơ quan Trung ương Đảng được lệnh trở về vùng căn cứ Việt Bắc. Đi với Bác là bộ phận rất gọn nhẹ gồm 8 anh em cận vệ, gồm: Võ Chương, Vũ Long Chuẩn, Nguyễn Văn Lý, Văn Lâm, Ngọc Hà, Nguyễn Quang Chí, Trần Đình và tôi. Nói là cận vệ Bác nhưng thực tế chúng tôi làm tất cả các công việc Bác giao như cảnh vệ, công tác văn phòng, thư ký, liên lạc và hậu cần với tinh thần một người thạo nhiều việc. Song dù làm việc gì, bảo vệ Bác vẫn là nhiệm vụ quan trọng nhất.

 

Để đảm bảo tuyệt đối an toàn cho Bác, khoảng 2 – 3 tuần tổ cận vệ lại chuyển chỗ ở. Ngày 4/3/1947 trời lạnh như cắt da cắt thịt nhưng theo kế hoạch chúng tôi vẫn di chuyển đến chỗ ở mới, đó là nhà ông Nguyễn Văn Nguyên (bố vợ đồng chí Đỗ Văn Mô – Phó Bí thư Huyện uỷ, kiêm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ).

 

Hai ngày sau, trước lúc bắt tay vào công việc của một ngày mới, 8 anh em chúng tôi ngồi quây quần bên Bác quanh đống lửa. Bác nhìn mọi người rồi nói với giọng trầm ấm: “Chiến sự đang ngày một lan rộng, các chú phải quân sự hoá mọi sinh hoạt. Đi ô tô không tiện nữa, ai có xe đạp thì sử dụng. Các chú may cho mỗi người một chiếc ba lô để đựng đồ dùng, may cho Bác một chiếc để Bác đeo máy chữ”.

 

Bác thân mật nói tiếp: “Hôm nay Bác đặt tên lại cho các chú tính theo vòng tròn các chú đang ngồi: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi”. Đặt xong tên Bác trìu mến hỏi: “Các chú có biết tại sao Bác đặt tên cho các chú như vậy không?”. Anh em chúng tôi chưa hiểu ý Bác, ngồi yên lặng. Bác giải thích: “Nhiệm vụ của Bác cháu ta hiện nay vừa là trước mắt, vừa lâu dài là cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đưa cuộc kháng chiến này đến thắng lợi. Vì vậy, Bác đặt tên lại cho các chú để các chú trở thành khẩu hiệu sống bên  Bác, nhắc nhở mọi người hàng ngày phải hoàn thành nhiệm vụ của mình”.

 

Thế là cái tên Tạ Quang Chiến thay cho Nguyễn Hữu Văn từ ngày đó. Kể đến đây, ông dừng lại nhìn thăm thẳm vào không gian và nhoà đi bởi ngấn lệ, xúc động nói: “Thế mà thấm thoắt, 8 anh em nay chỉ còn mình tôi, các anh ấy đã ra đi với Bác cả rồi!”.

 

Trong suốt chặng đường trường kỳ kháng chiến, 8 đội viên được Bác đặt tên đã đi theo Bác trong những năm tháng gian khổ nhưng lúc nào cũng thấy vinh dự vẻ vang. Người nào thay đổi công tác, người khác vào thay lại được mang tên đó để khẩu hiệu “Trường Kỳ Kháng Chiến Nhất Định Thắng Lợi” luôn được liên tục, thường xuyên bên Bác.

 

Những cận vệ được Bác Hồ đặt tên

 

Trong những đồng chí cận vệ và giúp việc Bác có 3 người được kế tiếp nhau tên là Trường, 2 người tên là Nhất và 2 người tên là Thắng.

 

Người mang tên là Trường đầu tiên là Võ Chương, quê gốc ở Huế, nguyên là giáo viên hoạt động cách mạng ở Hà Nội. Tháng 10/1945 được đồng chí Nguyễn Lương Bằng bổ sung vào đội cận vệ của Bác. Năm 1949 đồng chí bị bệnh đã qua đời. Người thứ hai  tên thật là Hoàng Văn Phức, người dân tộc Tày, trước khi được điều về làm cận vệ cho Bác đồng chí là giải phóng quân ở Cao Bằng. Người thứ ba tên thật Phạm Văn Nền, sau này là lái xe cho Bác cho đến khi Bác đi xa.

 

Người mang tên Kỳ, tên thật là Vũ Long Chuẩn, quê ở Thường Tín (Hà Nội). Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đồng chí được chọn là thư ký giúp việc Bác Hồ cho đến lúc Người đi xa.

 

Người mang tên Kháng tên thật là Nguyễn Cao, quê ở Tiền Hải (Thái Bình). Về sau đồng chí trở thành Cục trưởng Cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ) – Bộ Công an.

 

Người đầu tiên mang tên Nhất tên thật là Hồ Văn Trường, là chiến sỹ giải phóng quân được chọn về làm cận vệ của Bác Hồ. Sau đó đồng chí được giao nhiệm vụ coi giữ kho tài sản của Ngân hàng Nhà nước. Người thứ hai là Tiên Phong, làm cận vệ cho Bác đến năm 1958 thì xin chuyển về quê.

 

Người mang tên Định tên thật là Chu Phương Vương –  dân tộc Tày, quê ở Cao Bằng. Năm 1952 vì hoàn cảnh gia đình đồng chí chuyển công tác. Về sau là Phó Chủ nhiệm công ty xây lắp cơ khí Thái Nguyên.

 

Người thứ nhất mang tên Thắng tên thật là Nguyễn Quang Chí, phục vụ Bác một thời gian ngắn rồi chuyển công tác. Đồng chí thứ hai tên là Thắng tên thật là Triệu Văn Cắt người dân tộc Dao quê Định Hoá (Thái Nguyên). Năm 1954, được phân công ở lại địa phương công tác, về sau giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban Hành chính khu Tự trị Việt Bắc.

 

Người mang tên là Lợi, tên thật là Trần Đình người dân tộc Nùng, quê ở Cao Bằng. Về sau vì hoàn cảnh gia đình đồng chí được chuyển về địa phương công tác.

Nguyễn Đức Quý

 

Con đường Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác-Lê nin 16:6′, 23/3/ 2004 (GMT+7)

Từ khi học thuyết Mác-Lê nin ra đời đến nay đã có nhiều người tiếp cận, nhưng không phải ai cũng thành công, thậm chí có người còn phản bội lại nó. Điều đó phụ thuộc vào phẩm chất cá nhân của từng người. Hồ Chí Minh đã đến và tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê nin bằng con đường riêng của mình.

* Sang phương Tây

Hồ Chí Minh lớn lên khi tiếng súng của phong trào Cần Vương đã tắt. Cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám cũng kết thúc trong sự thất bại. Con đường cứu nước Việt Nam chuyển dần sang một hướng mới mà nhiều người kỳ vọng. Đó là con đường chịu ảnh hưởng ý thức hệ tư sản, với lãnh tụ nổi tiếng là Phan Bội Châu. Lúc bấy giờ không ít thanh niên Việt Nam lên đường sang Nhật trong phong trào Đông du của chí sĩ họ Phan. Nhưng Nguyễn Tất Thành đã từ chối. Người chọn một hướng đi mới: sang phương Tây.

Tại sao sang Phương Tây? Phương Tây có gì hấp dẫn? Câu trả lời được tìm thấy ngay trong lời kể của Người: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái (…). Và từ thưở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau ba chữ ấy”1. Thế là Người sang phương Tây, sang Pháp, “đến tận hang ổ của kẻ xâm lược để xem nước Pháp và các nước khác làm ăn như thế nào rồi trở về giúp đồng bào. Đây là điểm mới rất quan trọng thể hiện bản lĩnh độc lập và tư duy sáng tạo của Nguyễn Tất Thành”2. Và mục đích sang phương Tây của Người cũng khác với những người đi ra nước ngoài khác. Cụ Phan Chu Trinh cũng đã nhiều năm sống ở Pa-ri nhưng không phát hiện được bản chất của chủ nghĩa thực dân, Cụ vẫn đặt niềm tin vào con đường “ỷ Pháp cầu tiến”. Còn Nguyễn Tất Thành sang phương Tây là để khảo sát, nghiên cứu, “xem người ta làm thế nào”, chứ không phải đi cầu viện. Chính vậy, Người đã hiểu rất sâu sắc bản chất của chủ nghĩa thực dân. Đây là điểm khác biệt đầu tiên của Hồ Chí Minh so với những nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và đương thời trong việc tìm đường cứu nước.

* Bằng lao động của chính mình và đi vào quần chúng

Một sự độc đáo nữa của Hồ Chí Minh là Người ra đi nước ngoài không phải bằng một sự trợ giúp nào. Cụ Phan Chu Trinh sang Pháp nhờ vào Hội nhân quyền của Pháp. Cụ Phan Bội Châu sang Nhật nhờ vào lòng “hằng tâm hằng sản” của nhiều người. Còn Nguyễn Tất Thành ra đi bằng chính sức lao động của mình. Người chấp nhận cuộc đời lao động chân tay rẻ mạt của một người vô sản làm thuê để kiếm sống. Và bằng con đường “vô sản hóa” đó, Người đã đặt chân lên hầu khắp các lục địa – điều mà chưa một nhà cách mạng nào cho đến lúc bấy giờ làm được. Các Mác, Lê nin dù có đi nhiều nơi, nhưng cũng chưa đến phương Đông. Chủ tịch Mao Trạch Đông trong cuộc đời của mình chỉ có một lần duy nhất đi ra nước ngoài là đến Liên xô năm 1957 để dự Hội nghị các Đảng cộng sản và công nhân các nước họp ở Mát-xcơ-va. Có thể nói Hồ Chí Minh đã làm một cuộc khảo sát có một không hai về chủ nghĩa thực dân, về các chính quốc và thuộc địa.      

Cần nói thêm rằng, trong thời gian từ khi Người đặt chân lên đất Pháp cho đến khoảng 10 năm sau đó, ở Pháp cũng như ở châu Âu chủ nghĩa cơ hội đang hoành hành. Nhưng nhờ phương pháp đi vào quần chúng “bên dưới” mà Hồ Chí Minh không sa vào chủ nghĩa cơ hội. Nhờ vậy, Người đã thâm nhập vào đời sống thực tế của quần chúng lao động, hiểu sâu sắc cuộc sống của họ. Từ đó Người khái quát: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”3. Đây là một bước phát triển mới về nhận thức của Hồ Chí Minh. Nhận thức đó đã đưa Hồ Chí Minh đến gần với chủ nghĩa Mác-Lê nin.

* Trên tinh thần yêu nước và mục tiêu giải phóng dân tộc

Yêu nước và tìm đường giải phóng dân tộc là yếu tố thường trực trong tâm trí Hồ Chí Minh. Đi đâu, ở đâu, làm gì, Người cũng đều hướng vào mục tiêu này.

Theo nhiều tài liệu, Hồ Chí Minh đã từng đọc “Tư bản” và một số tác phẩm của Các Mác trước khi đọc Luận cương của Lê nin. Nhà sử học Mỹ William J.Duiker cho biết: “Một lần Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu Jean Longuet (cháu ngoại của Các Mác – chú thích của người viết) giải thích về học thuyết Mác, Jean Longuet lưỡng lự và nói rằng câu hỏi quá phức tạp và gợi ý Nguyễn đọc bộ Tư bản của Mác. Sau đó, Nguyễn Ái Quốc đã đến thư viện gần Quảng trường Italia mượn tác phẩm đồ sộ đó để đọc cùng với số tác phẩm mác xít khác”4. Sau này Người thừa nhận đó là bộ sách “gối đầu giường” của mình. Tuy nhiên, Người vẫn chưa nhận ra con đường cứu nước, bởi bộ sách đồ sộ này của Mác không có dòng nào về thuộc địa, về cách mạng giải phóng dân tộc – điều mà Người quan tâm bậc nhất. Chỉ đến khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất luận cương các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa do Lê nin viết chuẩn bị trình Đại hội II Quốc tế cộng sản, Người mới phát hiện ra con đường giải phóng dân tộc. Bởi vì, vấn đề thuộc địa và giải phóng dân tộc là một trong những nội dung quan trọng của Luận cương.

Từ đó, Người tin theo Quốc tế III (Quốc tế III cũng đưa vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa vào chương trình nghị sự). Cũng vì tin theo Quốc tế III, Người bỏ phiếu tán thành thành lập Đảng cộng sản Pháp tại Đại hội XVIII Đảng Xã hội Pháp (12-1920). Người trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Sau đó, Người có điều kiện nghiên cứu kỹ hơn chủ nghĩa Mác-Lê nin trong khoảng thời gian từ giữa năm 1923 đến cuối năm 1924 khi học ở Đại học Phương Đông. Đến đây, Người thực sự trở thành “người học trò nhỏ” của Mác-Lê nin.

Và chủ nghĩa Mác-Lê nin trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong suốt cuộc đời Hồ Chí Minh.

. Lê Văn Lợi

(Đại học Quy Nhơn)

 

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập I, tr.477

(2) Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh- Quá trình hình thành và phát triển – NXB Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.16

(3) Hồ Chí Minh Toàn tập – NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập I, tr.266

(4) Xem Hoàng Văn Lân – Tạp chí Xưa và Nay số 154, tháng 12 -2003

 

Cuộc gặp gỡ giữa chủ tịch Hồ Chí Minh & Raul Castro

Cách đây hơn 40 năm, vào ngày 3/11/1966, Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Cách mạng Cuba do Tổng thống Osvaldo Dorticós dẫn đầu, sang thăm Việt Nam. Tham gia đoàn có đồng chí Raul Castro, Bí thư thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Các lực lượng vũ trang cách mạng (Bộ Quốc phòng) và một số cán bộ cao cấp của Đảng và Chính phủ nước Cộng hòa Cuba.

Đoàn sang thăm Việt Nam vào thời điểm đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh, đánh phá ác liệt miền Bắc nước ta bằng không quân, và cũng là lúc quan hệ Xô – Trung và tình hình đoàn kết quốc tế có những diễn biến phức tạp, gây bất lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ta.

Đoàn chỉ ở thăm hai ngày, đến và đi đều vào ban đêm, để tránh máy bay địch đánh phá. Mọi hoạt động của đoàn được giữ bí mật cho đến giờ chót. Sau cuộc chiêu đãi trọng thể, đoàn lên xe đi thẳng ra sân bay quân sự, khi báo chí thế giới đưa tin về sự có mặt của đoàn ở Việt Nam, thì đoàn đã rời Hà Nội.

Do tính chất quan trọng của chuyến thăm và thời gian thăm rất ngắn, nên Bác Hồ trực tiếp điều khiển chương trình tiếp và làm việc với đoàn.

Nhiều năm tháng đã trôi qua, nhưng câu chuyện sau đây vẫn còn in đậm trong ký ức của tôi, đó là cuộc hội đàm giữa hai đoàn do Bác chủ trì từ đầu đến cuối.

Được học tập tiếng Tây Ban Nha ở Cuba và công tác tại Bộ Ngoại giao, tôi vinh dự được giao nhiệm vụ ghi chép biên bản cuộc hội đàm giữa hai đoàn.

Đồng chí Raul Castro đã dùng từ “Tío” (nghĩa là Bác) để xưng hô với Bác Hồ một cách thân mật và kính trọng.

Đồng chí Raul Castro (người đứng giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đồng chí Võ Nguyên Giáp) trong buổi mít tinh chào mừng đoàn

Sau khi đồng chí Phạm Văn Đồng và đồng chí Raul Castro trình bày những nét lớn về tình hình của mỗi nước và một số vấn đề quốc tế mà hai bên cùng quan tâm, không khí phòng hội đàm có phần trầm lặng.

Bác đề nghị nghỉ giải lao ít phút.

Trước khi tiếp tục cuộc hội đàm, bất chợt, Bác thân tình hỏi đồng chí Raul Castro:

– Chú có yêu vợ không? Có bao giờ cô, chú cãi nhau không?

Sau một phút ngạc nhiên, đồng chí Raul trả lời:

– Dạ, có chứ.

Dường như hiểu được ý Bác muốn nói, mọi người cười ồ lên rất thoải mái, làm thay đổi hẳn không khí của phòng họp.

Tiếp đó, với thái độ chân tình, Bác nói tiếp, đại ý:

– Thế đấy, vợ chồng sống yêu thương nhau như vậy mà có lúc cũng va chạm, cãi nhau, huống chi giữa các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và cả phong trào Cộng sản Quốc tế bao la, làm sao tránh khỏi những bất đồng ý kiến.

Nắm được ý nghĩa sâu xa trong những lời Bác nói, đồng chí Raul Castro không nén được cảm động, bày tỏ:

– Thưa Bác, Bác nói rất đúng. Sau khi về nước, chúng tôi sẽ truyền đạt cho đồng chí Fidel Castro về ý kiến của Bác.

Trước khi kết thúc hội đàm, Bác vui vẻ yêu cầu đồng chí Dorticos và Raul Castro cho biết cảm tưởng về các cán bộ phiên dịch phục vụ đoàn thế nào? Và nói thêm: “Họ học tiếng Tây Ban Nha ở Cuba đấy!”.

Đồng chí Raul Castro tế nhị đáp:

– Thưa Bác, để có được kết quả tốt đẹp của chuyến thăm Việt Nam lần này, và nhất là của cuộc hội đàm, phần quan trọng là nhờ sự cố gắng của các cán bộ phiên dịch. Thông qua họ, chúng ta càng thêm hiểu biết và thông cảm lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực.

Thấy vấn đề đã đi vào đúng ý của mình, Bác chân thành cảm ơn đồng chí Fidel Castro và nhân dân Cuba đã tạo điều kiện tốt cho thanh niên Việt Nam học tập tại Cuba, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn Đảng, Chính phủ và nhân dân Cuba đã dành cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam sự giúp đỡ quý báu và ủng hộ chí tình.

Cuộc hội đàm đã kết thúc trong bầu không khí rất hữu nghị, đầy tình cảm anh em.

Giờ đây, trong lúc phong trào học tập và làm theo gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang phát triển sâu rộng, câu chuyện kể trên ít nhiều cũng góp phần làm phong phú thêm những bài học còn nguyên giá trị lịch sử về nhiều mặt, trong đó rõ nét nhất là vấn đề đoàn kết nội bộ và đoàn kết quốc tế, sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp cách mạng của Người.

( tổng hợp )

 

Cuộc hội ngộ giữa Bác Hồ và danh họa Dương Bích Liên

GiadinhNet – Người vẽ thành công nhất chân dung Bác Hồ chính là Dương Bích Liên. Ở chiến khu Việt Bắc, sinh hoạt cùng nơi với Bác nên những hình ảnh trong cuộc sống bình dị của Người đã ăn sâu vào tâm khảm người họa sĩ.

> Tiết lộ đầu tiên về bức thư cuối cùng của danh họa Dương Bích Liên

 

Cốc sữa dê giữa núi rừng

 

Đại danh họa Dương Bích Liên sinh ngày 17/7/1924 trong một gia đình trí thức quan lại. Ông là con trai duy nhất của một tri phủ, nhưng chàng công tử con quan lại chẳng đoái hoài gì đến chốn quan trường. Ngay từ năm 17 tuổi, những nét vẽ mê đắm lòng người như đã thôi miên cậu con trai nhà quan. Đến nỗi, năm 1941, gặp danh họa Hoàng Lập Ngôn khi đó vừa thiết kế xong chiếc xe ngựa mang tên Nhà Lăn Mê Ly để đi khắp chốn vẽ người và thiên nhiên, Dương Bích Liên liền bỏ nhà quyết theo Hoàng Lập Ngôn.

 

 

Họa sĩ Dương Bích Liên

 

Nhưng khi xe mới vào đến Thanh Hóa thì người nhà quan phủ tìm ra và cậu công tử bị áp giải về. Nhưng dù có bị ngăn cản khỏi chuyến đi của Hoàng Lập Ngôn thì niềm say mê hội họa của Dương Bích Liên vẫn không nguôi ngoai. Ông quyết ghi tên thi vào Trường Mỹ thuật Đông Dương – chiếc nôi hội họa lớn nhất, uy tín nhất không chỉ Việt Nam mà trên cả cõi Đông Dương thời bấy giờ. Một loạt những tên tuổi lớn của nền hội họa Việt Nam như: Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân, Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên, Nguyễn Tư Nghiêm, Lương Xuân Nhị, Phan Kế An, Nguyễn Sáng, Hoàng Lập Ngôn… đều học ở ngôi trường danh tiếng này.

 

Ngôi trường có chế độ tuyển sinh khắt khe, mỗi khóa chỉ nhận 7 đến 9 học sinh, trong quá trình học, không ít học sinh lại không trụ nổi chương trình đào tạo mà “rụng” giữa chừng. Chưa kể, ngôi trường đặc biệt này không có “hệ” tuyển sinh định kỳ như đại học của ta bây giờ, mà chỉ tuyển sinh khi “thấy” có người tài. Vì thế, số lượng học sinh được nhận tấm bằng Diplome de L’ecole des Beaux-arts de l’indochine chỉ có 45 người. Có nghĩa chỉ có 45 tấm bằng tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương do chính Toàn quyền Đông Dương ký công nhận mà thôi. Dương Bích Liên là một trong những học trò cuối cùng của Trường Mỹ thuật Đông Dương. Ông học khoa Hội họa, khóa XVIII (1944-1945) và bắt đầu sự nghiệp của người họa sĩ từ đây.

 

Năm 1951, khi ấy Dương Bích Liên đã trở thành một họa sĩ danh tiếng thì ông được cử đi vẽ Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc. Dạo đó, Dương Bích Liên đang làm việc tại tòa soạn báo Vệ quốc quân do nhà thơ Thâm Tâm và Thôi Hữu phụ trách, thì được đồng chí Tố Hữu điều động đến ở với Bác Hồ để vẽ Bác. Đồng chí bảo vệ của Bác đưa ngựa đến đón họa sĩ xuyên rừng tới nơi Bác ở. Tới nơi, danh họa liền xuống ngựa chào Bác, vừa đúng lúc người giúp việc bê lên cho Bác một bát sữa.

 

Thấy họa sĩ có vẻ lúng túng, Bác liền bảo người giúp việc lấy thêm cái bát, rồi sẻ bát sữa ra làm hai, trao cho Dương Bích Liên một bát rồi bảo: Chú đường xa mới đến, uống cho đỡ mệt! Đấy là bát sữa dê mà hàng ngày người ta vắt từ mấy con dê sữa làm chế độ bồi dưỡng cho Bác. Họa sĩ cảm động lắm, bởi thấy Bác thật gần gũi, giản dị trong đối xử. “Chú đã lập gia đình chưa?”, Bác thân mật hỏi. “Thưa Bác chưa ạ”. “Này chú có biết không, hai người yêu nhau cứ nhìn mắt là biết đấy”, Bác nói giọng hóm hỉnh và cười rất vui. Rồi Bác nói ngay vào công việc: “Dạo này Bác bận nhiều nên không thể ngồi cho chú vẽ được. Vậy chú ở đây, hoàn toàn tự do vẽ, nhớ là thích vẽ thì mới vẽ đấy nhé”. Thế là Dương Bích Liên sống cùng những người giúp việc cho Bác, hàng ngày được theo dõi Bác làm việc, hội họp, tập thể dục…

 

 

Bác Hồ tại chiến khu Việt Bắc – hình ảnh đã được rất nhiều nghệ sĩ khắc họa.  Ảnh: TL

 

Nhớ buổi chia tay đặc biệt

 

Suốt thời gian đầu, Dương Bích Liên chỉ chăm chú quan sát Bác. Ông vẽ ghi chép, ký họa là chính. Khi thì ông vẽ đôi bàn chân đi dép của Bác, khi lại vẽ những ngón tay Bác kẹp điếu thuốc lá trong các tư thế khác nhau, khi vẽ Bác vừa ngồi viết vừa gãi chân, ống quần hất lên lộ cả đầu gối gầy ốm… Chỉ mới ghi chép sơ sơ như thế đã mất hơn nửa tháng. Ông còn định tiếp tục ghi chép nhiều nữa để có thể thuộc từ ánh mắt đến sợi râu của Bác rồi mới vẽ thành tranh, thì được đồng chí lãnh đạo văn nghệ gọi lên báo cáo về những gì đã vẽ. Xem xong những ký họa, ghi chép đó, đồng chí lãnh đạo văn nghệ tỏ vẻ thất vọng.

 

Bởi lúc ấy, quan niệm lãnh tụ là sự vĩ đại, lớn lao, là tinh hoa của dân tộc, thì vẽ về lãnh tụ phải biểu hiện được cái tầm lớn lao ấy. Thế là hôm sau, Dương Bích Liên được điều động trở lại cơ quan cũ “theo yêu cầu công tác”. Theo lệnh của tổ chức, anh mang ba lô lên vai, tạm biệt những đồng chí phục vụ Bác, lên đường từ sáng sớm mà không được bố trí để chào tạm biệt vị lãnh tụ kính yêu.

 

 

Chiến khu Việt Bắc – nơi họa sĩ Dương Bích Liên đã từng được sống và vẽ Bác Hồ kinh yêu. Ảnh: TL

 

Trưa hôm đó, Bác Hồ thấy vắng người họa sĩ. Bác hỏi đồng chí phục vụ: “Thế chú họa sĩ lâu nay vẽ Bác đâu rồi, sao hôm nay không thấy”. Người phục vụ báo cáo với Bác là họa sĩ đã được điều động về đơn vị. Bác ngạc nhiên nói: “Mời họa sĩ lên vẽ Bác thì trước khi đi phải để Bác gặp cảm ơn và tạm biệt chứ. Thế chú ấy đã đi lâu chưa?”. “Thưa Bác, chắc cũng được nửa đường rồi ạ”, người phục vụ đáp.

 

Dương Bích Liên đã làm đúng lời dặn của Bác và ông trở thành một họa sĩ lớn của cách mạng Việt Nam, đượt xếp vào bộ tứ của nền hội họa hiện đại Việt Nam: “Sáng, Liên, Nghiêm, Phái”.

 Lại nói về danh họa Dương Bích Liên, lúc ấy đang cuốc bộ dọc đường rừng bỗng thấy một người cưỡi ngựa đuổi theo, rồi dừng lại trước mặt: “Mời họa sĩ lên ngựa trở lại gặp Bác”. Dương Bích Liên leo lên ngựa mà trong lòng lo lắng không nguôi. Nhưng khi gặp Bác, danh họa mới vỡ lẽ là “ông Cụ” muốn được xem những bức vẽ và mời bữa cơm chia tay. Khi xem những bức ký họa của Dương Bích Liên, Bác rất vui. “Chú ghi chép như vậy là tốt”, Bác thân mật nói. “Bác cũng đã xem tranh của chú hồi triển lãm mỹ thuật toàn quốc (1946) thấy bức “Học chữ Quốc ngữ” thể hiện không khí những ngày đầu kháng chiến chống Pháp tốt lắm. Còn bức “Hành quân đêm” bút pháp có vẻ hiện đại nhưng màu sắc nâu vàng rất Việt Nam. Chú nên cố gắng”.

 

Rồi Bác lại hỏi: “Chú đã xem tranh Picasso chưa?”. “Thưa Bác, cháu chỉ mới được xem vài tranh in trên báo, chưa được xem tranh gốc của ông ấy”, Dương Bích Liên thành thật nói. “Bác đã xem tranh gốc của Picasso rồi, Bác có gặp ông ấy ở Pháp. Ông ấy có vẽ cho Bác một bức. Đấy là một họa sĩ bậc thầy của trường phái lập thể”. Rồi Bác nói về một số trường phái hội họa Pháp. Dương Bích Liên chăm chú nghe, khâm phục sự hiểu biết kỳ lạ của Người về hội họa. Sau bữa cơm chia tay, Bác hỏi Dương Bích Liên có đề nghị gì không. Danh họa liền xin Bác cho đi vẽ về những người miền núi. Bác đồng ý và còn dặn thêm: “Chú vẽ Bác, Bác rất cảm ơn. Nhưng chú nên tập trung vẽ quần chúng cách mạng của chúng ta. Vì cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”.

 

Lã Xưa

(Theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

 

Phòng Tuyên truyền- Giáo dục

 

Trong thời gian hoạt động ở Pháp (1917-1923), Nguyễn ái Quốc bị chính quyền thực dân theo dõi rất gắt gao, bọn mật thám luôn theo sát Người từng bước. Mặc dù ở vào hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm nhưng Nguyễn ái Quốc vẫn tìm mọi cơ hội để thông tin rộng rãi về vấn đề thuộc địa ở Đông Dương để dư luận Pháp và thế giới biết rằng: nhân dân Đông Dương đang sống lầm than tủi nhục bởi những chính sách thực dân vô cùng tàn bạo.

Tháng 5 năm 1920, Nguyễn ái Quốc đã cho ra đời cuốn sách với nhan đề Những người bị áp bức (Les opprimés). Đây được coi là cuốn sách đầu tiên mà Nguyễn ái Quốc viết tại Pháp nhưng tới nay còn ít người biết đến. Để có thêm thông tin về tác phẩm này, xin trích giới thiệu với bạn đọc những bản báo cáo mật có liên quan đến cuốn sách này do một mật thám chuyên theo sát anh Nguyễn ký tên Jean gửi về văn phòng Bộ thuộc địa Pháp từ tháng 1.1920 đến tháng 5.1920 (do các tác giả Thu Trang và Trần Thái Bình dịch từ nguyên bản tiếng Pháp):

Báo cáo ngày 19-1-1920

Tối hôm ấy, vào 8 giờ phó quản Lâm và Quốc đi xem hát ở rạp Nouveau Lyrique. Trong khi chờ đợi mở màn và trong giờ nghỉ họ đã trao đổi với nhau:

          Lâm: Anh đã làm gì từ mấy hôm nay?

          Quốc: Vẫn là việc đi tìm sách.

          Lâm: Bao giờ anh sẽ viết xong quyển ấy?

          Quốc: Tôi không thể trả lời ngay được, vì tôi rất cần nhiều tài liệu. Tôi không muốn tự mình viết lấy, vì như thế không có giá trị trung thực. Tôi sẽ dùng những đoạn văn trong số sách đã viết về thực dân Pháp. Tôi sẽ cố gắng làm đậm nét những đoạn ấy. Sự sắp đặt quyển sách sẽ có 4 phần:

Phần I: Tình trạng của Đông Dương trước khi Pháp chiếm đóng

Phần II: Họ đã đem lại những gì cho Đông Dương.

Phần III: Tình trạng Đông Dương hiện tại.

Phần IV: Đông Dương trong tương lai

          Lâm: Anh làm thế nào để xuất bản? Anh biết việc ấy cần có nhiều tiền chứ?

          Quốc: Tôi sẽ làm rất giản dị thôi. Khi nào tôi hoàn thành xong quyển sách ấy, tôi sẽ đem bản thảo tới một đảng viên Xã hội hay bất cứ ai khác. Sau khi biết giá tiền để in, tôi sẽ bán thân tôi cho họ như một người đày tớ. Chả nhẽ tôi không biết đánh giày hay dọn bàn hay sao?

Báo cáo ngày 21-1-1920

Lâm đã dẫn Nguyễn ái Quốc vào rạp hát Abri, phố Montmartre. Câu chuyện trao đổi giữa hai người như sau:

Lâm: Khi nào anh xong cuốn sách?

Quốc: Hai tháng hoặc lâu hơn chút nữa.

Lâm: Người ta bảo tôi: Có những hội kín cung cấp tiền cho những người lưu vong Trung Hoa và Nhật Bản.

Quốc: Tôi cần gì một hội kín? Tôi có một nguyên tắc của tôi “Tự lực cánh sinh”. Một hội kín? Cũng đẹp đấy. Mỗi người một ý kiến. Mỗi người một lời hứa. Và cuối cùng mỗi người tự rút lui… Không, tôi chỉ trông vào bản thân mình. Khi tôi viết xong cuốn sách, tôi sẽ đem bán nó cho nhà xuất bản. Đó là kế hoạch hiện nay của tôi. Tôi thường tự hỏi làm sao mình có thể chuyển nó về nước.

Lâm: Đây là điều khó khăn hơn cả. Nhưng rồi chúng ta sẽ có thời gian để toan tính từng bước. Tôi không đi ngay bây giờ. Tôi đề nghị lui thêm hai, ba tháng nữa.

Quốc: Còn tên cuốn sách, ta nên đặt nó là gì đây? Gọi là “Những người bi áp bức” được chứ?

Lâm: Nên nhè nhẹ thôi, đừng lúc nào cũng mạnh quá. Mạnh quá rồi nó sẽ dẫn mình đến đâu? Hãy đặt là “Annam: xưa và nay”. Như thế nó có vẻ sử học, có vẻ tiểu thuyết. Chỉ cái tên như thế mới hấp dẫn được mọi người.

Quốc: Không! Tôi giữ cái tên “ Những người bị áp bức”.

Lâm: Cứ cho là cái tên ấy đập vào sự chú ý của những người trong đảng Xã hội. Nhưng liệu các nhà xuất bản có cho phép anh lấy những trích dẫn từ các cuốn sách mà anh đã lấy làm cơ sở để viết cuốn của anh? Hãy coi chừng! Các nhà xuất bản họ sẽ kiện anh đấy!

Quốc: Tôi có gì mà họ kiện tôi? Tôi sẽ đi từ tòa án này đến tòa án khác để tuyên truyền cho chính mình. Đấy lại là dịp may để tôi làm quảng cáo, làm tuyên truyền, trước mặt các quan tòa và dân chúng đứng trước các tòa án!

-Báo cáo ngày 27-1-1920

Lúc 8h, phó quản Lâm đã mời ông Quốc và ông Hộ đến rạp hát Đế Chế. Ông Quốc đã nói về những tâm phim ảnh chụp Stêrêô về Đông Dương mà ông đã mua ở nhà Richard. Ông đã có ý định sẽ cho chiếu những ảnh về Đông Dương ấy lên màn ảnh để cho dân chúng Pháp làm quen được một chút với Đông Dương.

Ông Quốc đã đề nghị ông Lâm cho đánh máy những trích đoạn cuốn sách ông đã viết.

– Báo cáo ngày 29-1-1920

Ông Khánh Ký vừa đi xa về; ông đã đến ông Quốc cùng với Lâm, lúc 7h tối. Ông Khánh Ký đã nhận được tin cho 2000 lính Bắc Kỳ đã đổ bộ lên Marseille có lẽ sẽ được gửi sang Nga, để dẹp những người bônsêvich. Ông Quốc đã đưa cho ông Lâm những trích đoạn đã xong của cuốn sách của mình. Ông đã bảo ông này sắp xếp cho có thứ tự. Ông Quốc sẽ đi Saint – Denis ngày 1-2-1920 để dự bữa tiệc mừng thắng lợi của những đảng viên đảng xã hội.

– Báo cáo ngày 3-2-1920

Lúc 9h30’, ông Lâm đã đi đến nhà ông Quốc để sắp xếp thứ tự cho những đoạn trích mà ông đã làm cho cuốn sách của ông Quốc. Ông Quốc đã gói một gói, có lẽ là quần áo, để gửi cho ông Phan Chu Trinh ở Pons… Họ đã chia tay nhau lúc 11h45… Ông Lâm đã hẹn gặp ông Quốc buổi chiều tối, vào lúc 7h. Ông Lâm đã đến nhà ông Quốc và họ đã cùng đi đến rạp Athénée.

Ông Quốc đã nói về cuộc họp của các đảng viên xã hội ngày chủ nhật 1-2 ở Saint Denis. Ông đã không nói được gì, bởi ghi tên quá muộn và người ra đã không có đủ thì giờ để trình bày xong các diễn văn. Chỉ có một vài đảng viên xã hội có uy tín có thể phát biểu. Nhưng – như ông nói – tôi không có thể nói được, nhưng tôi đã có thể phân phát những tờ yêu sách!

…Ông Quốc nói ông đang thiếu những báo cáo của ông Messimy và ông Violette lấy trích dẫn, đưa vào cuốn sách của ông. Ông đã bảo ông Lâm đi lùng ở các quán sách cũ bên bờ sông Seine.

Báo cáo ngày 11-2-1920

Ông Quốc vẫn đang soạn cuốn sách, mặc dù thiếu tiền. Quốc chưa biết làm thế nào để in, hiện đang tìm cách nhưng chưa biết cách nào.

Ông Quốc nghĩ là cuốn sách in xong, thế nào Bộ trưởng Bộ Thuộc địa cũng đút tiền cho những nhà xuất bản mà ông đã trích dẫn sách của họ để họ đi kiện. Ông sẽ có dịp đi từ tòa án này đến tòa án khác để tuyên truyền.

Ông Quốc muốn đi sang ý trong 2 tháng tới để dự hội nghị quốc tế các đảng xã hội. Tôi không thể tin rằng ông có khả năng đi được bởi tình trạng tài chính của ông hiện giờ.

Báo cáo từ 9 đến 16-3-1920

Ông Quốc đã viết xong cuốn sách. Ông sẽ đi gặp các ông Cachin, Longuet để đề nghị viết cho lời tựa. Ông dự tính in cuốn sách bằng tiền của chính mình. Ông đã bảo ông Lâm rằng ông có số tiền tiết kiệm được 300 Frăng sẽ dùng cho in lần đầu. Ông sẽ đi làm ở Pons đểkiếm tiền tiết kiệm cho lượt in lần thứ hai.

Hiện nay ông đang lấy từ cuốn “Tinh thần pháp luật” ( L’esprit des lois) của Montesquieu dịch ra tiếng Annam.

Theo hiểu biết của tôi, thì ông Quốc không được một hội kín tài trợ. Ông ta rất tự trọng, muốn cuốn sách được in ra bằng tiền tiết kiệm của chính ông.

Báo cáo từ 10 đến 23-3-1920

Ông Nguyễn ái Quốc bây giờ đang nghỉ ngơi. Ông ít khi đến thư viện. Những buổi trưa, ông thường đến các bảo tàng, đi cùng với phó quản Lâm. Ông chưa có lời tựa của ông Louguet cho cuốn sách của ông. Ông nói rằng ông Louguet đang mắc nhiều việc bận.

Báo cáo từ 23 dến 29-3-1920

Ông Nguyễn nhờ một đảng viên Xã hội trẻ, làm nghề họa sĩ, vẽ bìa cho cuốn sách của ông. Ngày thứ ba 25-3, người họa sĩ mang đến cho ông bản vẽ phác thảo, trong đó Đông Dương (trên bản đồ) được vẽ thành một con vật đẫm máu và bị xiềng xích, một tên lính thuộc địa đánh đập nó bằng một chiếc dùi cui.

Báo cáo ngày 29-4-1920

Hôm nay Nguyễn ái Quốc đã viết xong phần kết luận của cuốn sách, trong đó ông nói về sự vô ích và gây phiền nhiễu cho nước Pháp vì đã có thuộc địa.

Báo cáo ngày 15-5-1920

Nguyễn ái Quốc đã đưa cuốn sách của ông đến cho ông Cachin ngày thứ năm 13 tháng 5 để xin đề tựa. Ông này sẽ chuyển cho bà Chủ tịch hội Phụ nữ để có một lời tựa nữa của bà Chủ tịch.

Ông Quốc nói rằng ông Trưởng ban trị sự báo L’humanité (Nhân Đạo) đã hứa sẽ xuất bản cuốn sách mà không lấy tiền. Cuốn sách sẽ được L’humanité đứng ra bán để trang trải cho những kinh phí in ấn.

Trên đây là những thông tin về cuốn sách được Nguyễn ái Quốc viết từ năm 1920 tại Pháp. Tuy nhiên cho tới nay chúng ta vẫn chưa thấy bản thảo hoặc bản in nào của cuốn sách này được công bố? Cũng có giả thiết cho rằng đây là bản sơ thảo của cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp” xuất bản năm 1925. Nhưng qua những tư liệu trên, có thể thấy nội dung hai cuốn sách khác hẳn nhau, vì vậy chắc chắn đây là một tác phẩm riêng biệt. Vấn đề cần xác minh là liệu cuốn sách này có được xuất bản không (Vì cũng có thông tin nói rằng bản thảo này đã bị mật thám Pháp lấy mất)? Nếu không thì nhà xuất bản nào phát hành? Và bản thảo cuốn sách hiện đang lưu giữ ở đâu? 

Dạy và học Tư tưởng Hồ Chí Minh tại các trường đại học, cao đẳng

17:8′ 10/7/2006

 

Nghiên cứu, học tập và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng (ĐH, CĐ) có vai trò quan trọng trong hình thành, củng cố nền tảng tư tưởng cho đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước. Qua khảo sát một số trường ĐH, CĐ trên toàn quốc thì 93,6% số sinh viên (SV) được điều tra cho rằng môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh rất bổ ích. Từ học môn này, nhiều SV đã cố gắng phấn đấu toàn diện cả về học tập, tu dưỡng đạo đức để trở thành đoàn viên ưu tú, cảm tình đảng và đảng viên. Tuy nhiên, chúng tôi thấy đang có khó khăn cần có những giải pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn rất quan trọng này.

 Hiện nay, đội ngũ giảng viên (ĐNGV) dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh còn thiếu và chất lượng chưa cao. Cả nước có trên 2.000 giáo viên (GV) dạy các bộ môn Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu căn cứ vào số SV và số giờ giảng chuẩn của một GV trong một năm thì ĐNGV hiện có mới chỉ đáp ứng được một nửa nhu cầu. Đội ngũ giảng viên môn Tư tưởng Hồ Chí Minh hầu như chưa được đào tạo chính quy, chuyên sâu, mới chỉ được bồi dưỡng ngắn hạn, học bổ trợ qua một khóa khoảng sáu tháng. Giảng viên Tư tưởng Hồ Chí Minh phần lớn nằm trong khoa, tổ bộ môn Mác-Lênin. Theo số liệu thống kê của Ban Đại học Thành ủy Hà Nội, có 17 trường trong Khối ĐH, CĐ Hà Nội thành lập khoa Mác-Lênin, 22 trường có tổ bộ môn, 3 trường không thành lập khoa, tổ. Nhiều GV dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tốt nghiệp đại học cách đây hàng chục năm, vốn kiến thức mà họ tiếp thu được ở các trường ĐH, CĐ lạc hậu so với cuộc sống. ở các trường khối văn hóa, nghệ thuật, ĐNGV còn mỏng hơn… Việc GV dạy quá nhiều giờ vẫn tồn tại do quy mô đào tạo tăng (có trường số giờ dạy/năm của một GV trên dưới 1.000 giờ quy đổi). Thực trạng này làm cho ĐNGV không còn thời gian nghiên cứu khoa học, chuẩn bị kỹ bài giảng trước khi lên lớp. Bên cạnh đó, nhiều thầy, cô chưa thật sự tâm huyết với nghề. 

Mặt khác, nhiều cấp ủy đảng, nhà trường chưa chăm lo đầy đủ để nâng cao trình độ các mặt cho lực lượng GV một cách cụ thể, đúng mức. Các chính sách hỗ trợ chưa đồng bộ, chưa tạo động lực thu hút người giỏi, có tâm huyết vào lĩnh vực giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ thống tổ chức quản lý công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ dạy và học còn phân tán, thiếu sự phối hợp.

Nội dung giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh ở nhiều trường ĐH, CĐ ít sát thực tiễn, nặng tính sách vở, chậm được đổi mới, chưa tạo được sự hấp dẫn. Nhiều nội dung trong các giáo trình còn trùng lặp, chưa cô đọng, thiếu tính lô gích giữa các phần, các thí dụ minh họa chưa có tính thuyết phục cao… Khi biên soạn giáo trình, các bộ, ban, ngành chưa tập hợp được ý kiến rộng rãi của giảng viên, cập nhật những vấn đề mới của thực tiễn.

Cán bộ giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh thường hạn chế về ngoại ngữ, nắm bắt các phương tiện giáo dục hiện đại… nên rất ít trường áp dụng phương pháp mới mà chủ yếu là cách dạy truyền thống, giáo viên đọc, sinh viên ghi, không nghiên cứu tài liệu trước. Nhiều GV lấy nhiệt tình bù tri thức, giản đơn hoá khi phân tích lý luận khoa học; chưa nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, chỉ thiên về thành tích, ưu điểm, theo ý muốn chủ quan, hoặc dựa trên những kết luận có sẵn. Bên cạnh đó, khâu kiểm tra, đánh giá chất lượng giảng dạy thiếu thường xuyên, nhiều trường chưa coi trọng công tác tổng kết thực tiễn của đơn vị mình để rút kinh nghiệm và bổ sung những nội dung mới về lý luận vào bài giảng. Hình thức thảo luận tại tổ, lớp tuy có áp dụng nhưng hạn chế; tổ chức xem phim tư liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác, tham quan các viện bảo tàng chưa nhiều. Việc sử dụng các thiết bị, phương tiện hiện đại vào giảng dạy như đèn chiếu, mô hình, đĩa CD… còn ít.

Đại bộ phận SV chưa có suy nghĩ rằng Tư tưởng Hồ Chí Minh là môn học chính, chưa nhận thức được tính khoa học và sự cần thiết của môn học này. Sinh viên thường quen cách “học thuộc lòng” nên không nắm được bản chất vấn đề, ít suy nghĩ vận dụng, liên hệ giữa lý luận và thực tiễn.

Từ khảo sát chất lượng giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh tại một số trường ĐH, CĐ thấy nổi lên một số giải pháp có hiệu quả sau:

Xây dựng quy hoạch, kế hoạch bồi dưỡng, khai thác đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, giáo viên lý luận Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở nghiên cứu kỹ Chỉ thị của Ban Bí thư ngày 27-3-2003 về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, đảng ủy trường, tổ chức đảng ở các khoa, tổ bộ môn Mác-Lênin lãnh đạo các tổ chức chuyên môn tiến hành rà soát, xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng giáo viên lý luận có hiệu quả hơn, chỉ rõ những hạn chế, bất cập để có phương án khắc phục; lập kế hoạch và phương án bồi dưỡng ngắn hạn đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của trường về vai trò, vị trí của công tác giáo dục lý luận chính trị, qua đó nâng cao nhận thức về công tác này. Cấp ủy, ban giám hiệu có chủ trương, chỉ đạo các phòng, khoa tạo điều kiện thuận lợi để GV luân phiên đi đào tạo, nghiên cứu thực tế trong nước, ngoài nước; tham dự các đợt tập huấn, bồi dưỡng do Bộ Giáo dục – Đào tạo tổ chức; tăng kinh phí đầu tư cho lĩnh vực giáo dục Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh; cân đối chế độ lương, thưởng, trợ cấp, kinh phí cho GV khi đi học, làm đề tài…

Thời gian qua, Đảng bộ trường ĐH Quốc gia, Kinh tế quốc dân, Bách khoa, Giao thông vận tải… đã chủ động phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh mở các lớp lý luận chính trị cao cấp cho đội ngũ cán bộ chủ chốt, GV dạy các bộ môn này. Mấy năm gần đây, việc nâng cao chất lượng giảng dạy các bộ môn Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được đưa vào nghị quyết đảng bộ các trường, theo đó ban chủ nhiệm khoa Mác-Lênin, tổ bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh xây dựng chương trình, phối hợp các khoa, đoàn thanh niên tổ chức các hội thảo có ý nghĩa và tác dụng tích cực như “Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn khoa học Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học khối kỹ thuật” (ĐH Bách khoa Hà Nội); “Nâng cao hiệu quả hoạt động của các bộ môn” (ĐH Khoa học xã hội và nhân văn); “Nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ cán bộ trẻ” (ĐH Nông nghiệp I)…

Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, đổi mới phương pháp dạy trong ĐNGV – khâu đột phá nâng cao chất lượng giảng dạy. Các thầy giáo, cô giáo phải tìm tòi, đổi mới cách dạy. Dạy cái gì, dạy thế nào để học trò hiểu sâu, nhớ lâu, tiến bộ nhanh. NGND, nhà sử học Lê Mậu Hãn – Tổ tưởng tổ bộ môn Tư tưởng Hồ Chí Minh (ĐH Khoa học xã hội và nhân văn) cho rằng: Yếu tố có tính quyết định bảo đảm chất lượng giảng dạy là ĐNGV có kiến thức chuyên sâu về Tư tưởng Hồ Chí Minh, có phương pháp giảng dạy khoa học. Chính ĐNGV phải là tấm gương rèn luyện về tư tưởng, đạo đức theo gương Hồ Chí Minh mới giáo dục được học trò.

Không ít trường đã tăng cường cử GV đi đào tạo văn bằng hai, thạc sĩ và tiến sĩ tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, ĐH Sư phạm Hà Nội, Khoa học xã hội và nhân văn… Từ năm 2001 đến nay, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh mở ba khóa đào tạo GV Tư tưởng Hồ Chí Minh cho 300 học viên là cán bộ giảng dạy của các trường ĐH, CĐ trên toàn quốc. Trong các chương trình đào tạo, GV được nghiên cứu sâu các chuyên đề Tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam: Văn hóa, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh v.v… Họ còn được nghiên cứu cả kiến thức của khoa học tự nhiên. Qua đây, GV có tri thức rộng, khả năng phân tích sâu tư tưởng của Người thông qua lời nói, bài viết, hành động trong những hoàn cảnh, thời gian cụ thể để thấy tài năng kiệt xuất, tầm nhìn xa, trông rộng, tư tưởng vĩ đại của vị lãnh tụ. Nhiều trường chú trọng bồi dưỡng ĐNGV bằng nhiều hình thức như: Tham dự các khóa học ngắn hạn do Bộ Giáo dục – Đào tạo tổ chức, các hội thảo do Ban Tư tưởng – Văn hóa TƯ, Ban Khoa giáo TƯ… mở. ở ĐH Dân lập Duy Tân (TP.Hồ Chí Minh), cán bộ, đảng viên phần lớn đã dự các lớp bồi dưỡng Tư tưởng Hồ Chí Minh do Thành uỷ TP. Hồ Chí Minh tổ chức; đối với GV cơ hữu và trợ giảng của tổ bộ môn Mác-Lênin đã có 60% tham gia bồi dưỡng về Tư tưởng Hồ Chí Minh do Bộ Giáo dục – Đào tạo tổ chức và cấp chứng chỉ.

Nhiều trường chú trọng tạo nguồn, trang bị kiến thức rộng và sâu về Tư tưởng Hồ Chí Minh cho những sinh viên khá, giỏi ngay sau khi mới tốt nghiệp đại học. Năm 2005, cả nước mở ba lớp đào tạo SV tốt nghiệp chính quy từ loại khá trở lên do các trường tuyển chọn và cử đi học để về làm GV các môn lý luận Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. ở ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội, hầu hết GV trẻ được tuyển chọn từ các khoa chuyên ngành kinh tế sang dạy Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, sau đó được cử đi học bằng đại học thứ hai ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền. ở ĐH Thương mại, một số GV thuộc bộ môn Lịch sử Đảng, Chủ nghĩa xã hội khoa học được gửi đi đào tạo tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh để về giảng dạy Tư tưởng Hồ Chí Minh…

Đào tạo, bồi dưỡng GV tại chỗ cũng được nhiều trường áp dụng. Giảng viên đã kinh qua giảng dạy bộ môn Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh lâu năm, vững về kiến thức, có kinh nghiệm thực tiễn đã trực tiếp giúp đỡ giáo viên trẻ. Qua các buổi sinh hoạt chuyên đề, nghiên cứu khoa học, hội thảo về Tư tưởng Hồ Chí Minh, thao giảng, thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh… ĐNGV trẻ được nâng cao về nhiều mặt.

Các biện pháp đó đã góp phần nâng cao trình độ ĐNGV bộ môn Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện cả nước có gần 50 giáo sư, phó giáo sư, 310 tiến sĩ, 773 thạc sĩ. Hầu hết các trường đều có GV đạt trình độ thạc sĩ, nhiều trường đạt tới 50-60%, có trường 90-100%.

Việc lựa chọn phương pháp giảng dạy thích hợp là rất cần thiết đối với cả thầy và trò. Giảng viên Đặng Hữu Tiến ở ĐH Dân lập Duy Tân phát biểu: Người thầy phải chắt lọc những nội dung cơ bản, không giảng tràn lan những sự kiện hoặc kể lể tư liệu. Người thầy cần hướng dẫn cho SV tìm đọc tài liệu tham khảo, đến các viện bảo tàng để tham quan, nghiên cứu, phục vụ cho nội dung bài đã học trên lớp.

Cùng với phương pháp truyền thống, các khoa, tổ bộ môn Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh của ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, Sư phạm Hà Nội, Văn hóa, Đà Nẵng, Cần Thơ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền… còn áp dụng phương pháp đối thoại và nêu vấn đề. Phương pháp này tạo thành một quy trình gắn kết nhận thức giữa thầy và trò, tạo thế liên hoàn giúp SV có thể nắm bắt một cách cơ bản những quan điểm, tư tưởng, cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Thầy và trò trao đổi ngay những vấn đề được nêu ra, giải đáp những khúc mắc trong thực tế. Cách học mang tính gợi mở, người học phải động não, người thầy phải nhuần nhuyễn kiến thức cơ bản, có kinh nghiệm thực tiễn và thật sự “tất cả vì học sinh”. Trong bài giảng, GV dẫn giải những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, chủ động sử dụng máy quay đĩa CD, Overhead, máy chiếu Projector… hỗ trợ cho việc này. áp dụng cách tạo “cây kiến thức”. Thầy chỉ cung cấp “thân”, “rễ”, còn SV phải tìm ra “cành” và “lá” cho “cây kiến thức” của mình, tức là SV phải làm việc thật sự, phải tìm tòi. Khi tham gia một cách chủ động vào bài học SV hiểu, nhớ và vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống sẽ dễ dàng, hiệu quả hơn. Người thầy còn hướng dẫn SV cách nghiên cứu, viết tiểu luận. Đây là cơ hội để SV nhìn vấn đề có hệ thống, toàn diện, sâu sắc… Cách dạy, học này tạo cho SV sự hứng thú, say mê với môn học; SV hiểu những đóng góp lớn lao của Hồ Chí Minh, cả về lý luận và trong thực tiễn, có quyết tâm phấn đấu thực hiện tư tưởng của Người.

Một số trường đề ra quy chế bắt buộc tiến hành kiểm tra giữa kỳ với hệ số 0.3, điểm thi hết môn hệ số 0.7. Việc này làm tăng trách nhiệm GV, tạo ra cơ chế cho SV học tập, nghiên cứu thường xuyên.

Các khoa, phòng, đoàn thể cùng tham gia và tạo ra sân chơi cho thế hệ trẻ. Các tổ chức đoàn, hội sinh viên các trường ĐH, CĐ trên cả nước đã tổ chức, tham gia nhiều cuộc thi; thành lập các câu lạc bộ tìm hiểu, học tập theo gương Hồ Chí Minh. Một số đoàn trường lồng ghép việc giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh vào các buổi sinh hoạt chi đoàn, mỗi buổi nêu ra một chủ đề dưới dạng những câu hỏi để thảo luận. Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh tổ chức cuộc thi “Tuổi trẻ học và làm theo Tư tưởng Hồ Chí Minh” nhiều SV các trường ĐH, CĐ tham dự. Thành Đoàn Hà Nội phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức cuộc thi “Bác Hồ với Tuổi trẻ – Tuổi trẻ với Bác Hồ”, các cuộc thi Olympic các môn khoa học Mác-Lênin,  Tư tưởng Hồ Chí Minh giữa các trường ĐH, CĐ, cuộc thi “Theo dòng lịch sử” về chủ đề Tư tưởng Hồ Chí Minh trên VTV2 Đài Truyền hình Việt Nam… Nhiều SV như Nguyễn Minh Cần, Phạm Văn Lộc (ĐH Khoa học tự nhiên TP. Hồ Chí Minh) cho biết, khi tìm hiểu Tư tưởng Hồ Chí Minh, càng tìm hiểu càng không thể dừng lại. Còn SV Doãn Thu – ĐH Kinh tế quốc dân thì tâm sự: Mình học thống kê, chỉ thích những con số nhưng khi học Tư tưởng Hồ Chí Minh không thấy khô khan, khó tiếp cận. Và Doãn Thu chân thành: Hãy học đi, bạn sẽ thấy ở đó tính giản dị, sự lạc quan và kiên định rất cần cho hành động của giới trẻ. Sinh viên Trần Gia Phúc – Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP. Hồ Chí Minh – cho rằng: Hội thi chỉ có tính chất khơi gợi, điều cốt lõi vẫn là sự tự giác trong nhận thức của mỗi người.

Sau mỗi hoạt động thực tế, tham quan, một số trường như ĐH Dân lập Phương Đông, Khoa học xã hội và nhân văn, Quản lý và kinh doanh Hà Nội, Khoa học tự nhiên Hà Nội… đều yêu cầu SV có bài thu hoạch nêu cảm nghĩ của mình theo chủ đề được ban tổ chức xây dựng trước khi đi tìm hiểu. Những hoạt động tập thể hấp dẫn, bổ ích là một phương pháp bổ trợ trong việc học Tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, tạo động lực để đoàn viên, SV phấn đấu trở thành đảng viên. Trong vài năm gần đây, số SV tham gia lớp tìm hiểu về Đảng của ĐH Sư phạm Hà Nội tăng đều, trung bình hằng năm kết nạp từ 35 đến 50 đảng viên trẻ. ở ĐH Dân lập Tin học – Ngoại ngữ TP. Hồ Chí Minh có 40 SV trong tổng số 58 đảng viên được kết nạp trong vòng 5 năm (2000-2005). Đại học Đà Nẵng 5 năm qua kết nạp được 106 SV vào Đảng…

Nghiêm túc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, ngẫm suy những lời nhắn gửi của các nhà cách mạng lão thành, thời gian qua, các cấp ủy đảng, các trường ĐH, CĐ trên toàn quốc đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Tư tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng niềm tin, lý tưởng, hoài bão sống và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại cho thế hệ trẻ Việt Nam.

THUỶ ANH

 

Cựu Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hòe và những câu chuyện về ngày đầu thành lập nước

 

 

Báo CAND xin giới thiệu bài viết về cuộc gặp của những nhà báo CAND với cụ Vũ Đình Hòe cách đây 5 năm (2006) như một nén hương thơm tưởng nhớ người nhân sỹ yêu nước đặc biệt Vũ Đình Hòe.

Cụ Vũ Đình Hòe, nguyên Bộ trưởng Quốc gia giáo dục đầu tiên, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên trong Chính phủ Việt Nam từ 2/9/1945, đại biểu Đảng Dân chủ (trước đây), khu vực Hà Nội, được bầu vào Quốc hội khóa I (1946) vừa mất tại TP HCM, hưởng thọ 100 tuổi.Ngày 11/2, tang lễ cụ Vũ Đình Hòe được tổ chức trang trọng tại TP HCM…

Sinh năm 1912, hậu duệ đời thứ 4 của Tiến sĩ Vũ Tông Phan (1800-1841) nguyên quán làng Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Cách mạng tháng 8-1945 thành công, Vũ Đình Hòe đang là chủ nhiệm Báo Thanh Nghị, thành viên Đảng Dân chủ (trước đây), Phó Chủ tịch Hội truyền bá quốc ngữ thì được cử vào Chính phủ Nhân dân lâm thời, giữ chức Bộ trưởng Quốc gia giáo dục đầu tiên…

Trải qua hơn 60 năm, trong Chính phủ lâm thời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày ấy, hiện còn trường thọ 2 Bộ trưởng là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Luật gia Vũ Đình Hòe. Mới đây, được sự giới thiệu của nhà văn Sơn Tùng, cụ Vũ Đình Hòe đã dành thời gian tiếp chúng tôi trong dịp cụ và phu nhân từ TP HCM ra Hà Nội để cùng người con trai chuẩn bị tư liệu cho tập tiếp theo của bộ sách 3 tập “Tư tưởng pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh”. Thật hiếm người như cụ Vũ Đình Hòe, ở tuổi 94 mà đầu óc còn minh mẫn, nhạy cảm và giọng nói sang sảng như 60 năm trước khi phải thuyết trình đề nghị Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh yêu cầu tất cả các trường học ở Việt Nam phải dạy và học bằng tiếng Việt.

Nhà giáo ưu tú Vũ Đình Khôi, con trai của cụ Vũ Đình Hòe kể lại, một lần xem bức ảnh chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh với các thành viên Chính phủ đầu tiên năm 1945, anh đùa cha một câu cốt để “moi” tư liệu: “Thưa cha, có phải ngày ấy cha nhanh chân nên được đứng bên phải Cụ Hồ không?”. Nghe hỏi, cụ Vũ Đình Hòe mắng luôn: “Anh là trí thức mà hỏi thế sao?”. Rồi cụ bảo: “Trên bức ảnh, đứng hàng thứ nhất có 5 người đều do đích thân Cụ Hồ sắp xếp vị trí. Cụ Hồ đứng giữa, bên trái Cụ là ông Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Thông tin và cụ Nguyễn Văn Tố, Bộ trưởng Cứu tế; bên phải Cụ là tôi và ông Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ. Cụ Hồ xếp 5 người ở hàng thứ nhất như vậy là nằm trong thế ngũ hành Kim Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ, thế của sự uyển chuyển biến ứng nhanh nhạy lắm”. Tôi nghĩ phải chăng đó cũng là thế của tư tưởng chỉ đạo “Dĩ bất biến ứng vạn biến” mà sau này Bác Hồ đã căn dặn quyền Phó Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng trước lúc Người sang Pháp hội đàm với chính quyền thực dân năm 1946.

Là một luật gia, một trí thức yêu nước, một nhà báo sắc sảo, độc lập, một đảng viên Đảng Dân chủ có quan hệ thân thiện với nhiều cán bộ cộng sản uy tín như đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Quý…, có thể nói Vũ Đình Hòe được Mặt trận Việt Minh giới thiệu làm Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên trong Chính phủ Lâm thời của Hồ Chí Minh là có lợi nhất cho đất nước khi vừa mới giành được độc lập.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Giáo dục Vũ Đình Hoè (bên phải hàng đầu) dự lễ khai giảng Đại học Việt Nam (15/11/1945).

Điều mà cụ Hòe đặc biệt có ấn tượng trong những ngày đầu tiên làm Bộ trưởng là được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia cuộc họp các Bộ trưởng góp ý vào Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam mới. Quả thật lúc đó, cụ cũng bị bất ngờ. Cụ kể:

– Đó cũng là cuộc họp để Chính phủ chuẩn bị ra mắt quốc dân. Chúng tôi đang ngồi thì Cụ Hồ tới. Dáng đi thoăn thoắt, vẻ mặt ung dung, Người mời tất cả ngồi xuống: “Chào các ngài Bộ trưởng. Chúc sức khỏe. Tôi xin lỗi, vào hơi chậm. Ta bắt đầu làm việc nhỉ? Thời gian gấp rút”. Rồi Cụ Hồ khiêm tốn nói tiếp: “Xin đưa bản thảo Tuyên ngôn Độc lập mà tôi đã chuẩn bị để các vị xét duyệt. Đề nghị duyệt kỹ. Vì ta sẽ đọc không phải chỉ đồng bào cả nước ta nghe, mà còn cho cả Chính phủ Pháp và nhân dân Pháp, cho cả các nước đồng minh nghe…”. Chúng tôi cầm bản thảo đánh máy, chăm chú xem từng câu, từng chữ rồi suy nghĩ… Ai cũng thấy hay quá, sáng sủa, chắc nịch, đơn giản mà hùng hồn, đanh thép, chỉ thêm bớt vài ý nhỏ, sửa mấy chữ lặt vặt, sau đó mỗi người ký vào bản của mình theo yêu cầu của Chủ tịch…

Cụ Vũ Đình Hòe kể tiếp, đây là buổi làm việc đầu tiên với cương vị Bộ trưởng bên cạnh Cụ Hồ và chính nhân cách vĩ đại Hồ Chí Minh đã hấp dẫn cụ suốt cuộc đời.

Còn một sự kiện quan trọng khác, cụ Vũ Đình Hòe cũng kể với chúng tôi như một minh chứng hùng hồn nhất về tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta khởi xướng. Còn nhớ trong cuộc Tổng tuyển cử bầu đại biểu Quốc hội ngày 6/1/1946, cụ Vũ Đình Hòe được bầu là 1 trong 6 đại biểu Quốc hội khóa I của khu vực Hà Nội. Trong 6 đại biểu của Thủ đô thì có 3 người thuộc Đảng Dân chủ là Vũ Đình Hòe, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện, kỹ sư canh nông Hoàng Văn Đức. Riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh ứng cử với danh nghĩa tự khai thuộc Đảng Quốc gia, bác sĩ Trần Duy Hưng là đại biểu thuộc Việt Minh, Giáo sư Nguyễn Thị Thục Viên là đại biểu không thuộc đảng phái. Cụ Hòe bảo cách lựa chọn ấy thực đúng với đường lối liên hiệp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thế nhưng, còn có một sự kiện quan trọng trong tiến trình của nền dân chủ nước ta là chuyện bổ sung 70 ghế thuộc Đảng Việt cách, Việt quốc vào Quốc hội mà không thông qua tổng tuyển cử bổ sung. Cụ Vũ Đình Hòe lúc đó đã được Bác Hồ cử làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp, khi được Bác Hồ tham khảo ý kiến, thay mặt cụ Vũ Đình Hòe, luật sư Phan Anh đã nói: “Thưa Cụ, cơ sở pháp lý mạnh nhất là ý chí của dân, Quốc hội đại diện cho toàn dân, là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Sẽ để Quốc hội quyết định trước khi dẫn các vị ấy vào họp”. Nghe xong, Bác cười nói: “Tôi cũng nghĩ thế, nhưng hỏi thêm chú cho chắc ăn”.

Vậy là sau đó, tại phiên họp đầu tiên của Quốc hội khai mạc ở Nhà hát Lớn thành phố Hà Nội ngày 2/3/1946, Hồ Chủ tịch thay mặt Chính phủ Liên hiệp lâm thời báo cáo với Quốc hội đại ý: Các đảng phái ở hải ngoại về chưa kịp tham gia ứng cử để bầu cử. Nhưng xét thấy họ từng có công gây dựng phong trào chống Pháp, đánh đuổi ngoại xâm. Nay trình với Quốc hội thay mặt cho toàn dân cho ý kiến bổ sung 70 ghế cho các đảng phái, nhằm bảo đảm đại đoàn kết toàn dân để ứng phó với ngoại xâm. Các đại biểu Quốc hội vốn đã nắm chắc tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ nên đã nhất trí tán thành, lúc ấy 70 vị bổ sung mới vào Hội trường.

Hơn 50 năm đã qua, câu chuyện thanh liêm về người Bộ trưởng Giáo dục đầu tiên từng ký góp ý vào bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh dự thảo, người Bộ trưởng Tư pháp cống hiến không mệt mỏi suốt 15 năm từ lúc vận nước còn muôn vàn khó khăn mọi chuyện với cụ dường như vẫn còn nóng hổi. Vĩnh biệt cụ, vĩnh biệt một nhân cách lớn, nhưng bài học về một nhân sỹ yêu nước như cụ mãi mãi còn…

Nhớ người 15 năm làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp (1946-1960)

Sang năm 1946, tình thế cách mạng trong nước có nhiều biến động. Thực dân Pháp sau khi gây hấn ở miền Nam đang đánh dần ra miền Bắc, quân đội Tưởng Giới Thạch sách nhiễu, bọn phản động Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội quấy rối. Với chủ trương liên hiệp các đảng phái cùng phụng sự Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhượng bộ cho Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội mà đứng đầu là Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh 70 ghế trong Quốc hội không phải qua bầu cử, đồng thời cho họ giữ 7 ghế Bộ trưởng trong Chính phủ Liên hiệp. Hồ Chủ tịch đã mời nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng ra nhận chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ, luật sư Phan Anh làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã giao cho cụ Vũ Đình Hòe đảm nhiệm thay cho luật sư Vũ Trọng Khánh (2/3/1946).

Để làm tốt công việc tu luật cũng như nhằm nâng cao chất lượng công tác tư pháp, lãnh đạo Bộ Tư pháp rất coi trọng việc thu hút các luật gia giỏi, các thân sĩ có uy tín tham gia vào hoạt động nghiên cứu, tư vấn xây dựng pháp luật. Tháng 3/1946, Bộ trưởng Tư pháp thành lập Hội đồng cố vấn pháp luật. Cùng thời gian đó, Bộ Tư pháp đã chủ trì việc tuyển chọn thẩm phán đệ nhị cấp (tức là thẩm phán cấp tỉnh trở lên) được tiến hành đối với số cử nhân luật đã tốt nghiệp Đại học Luật ông Dương (12 khóa liên tiếp), các công chức đã làm việc tại các tòa án thời trước, các luật sư. Đồng thời, lãnh đạo Bộ Tư pháp đã tổ chức lớp huấn luyện cấp tốc sáu tháng cho các sinh viên luật chưa ra trường và những người có bằng tú tài tự nguyện nộp đơn xin vào ngạch thẩm phán để đào tạo thẩm phán sơ cấp (thẩm phán cấp huyện).

Ngày 30/4/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đích thân đến dự buổi lễ tuyên thệ long trọng của những thẩm phán đầu tiên của chế độ dân chủ nhân dân. Tại buổi lễ, đã có 38 thẩm phán được Hội đồng tuyển lựa đề nghị. Bộ Tư pháp duyệt y, hai ông Chánh nhất (Nguyễn Huy Mẫn) và Chưởng lý (Vũ Trọng Khánh) của Tòa Thượng thẩm được Chủ tịch Chính phủ bổ nhiệm, tuyên thệ (Vũ Đình Hòe: Hồi kí – NXB Hội Nhà văn 2004, tr.745).

Thay mặt Chính phủ, Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hòe tuyên bố nhận lời tuyên thệ thiêng liêng trước Tổ quốc của những thẩm phán mới được bổ nhiệm: “Tôi thề sẽ trung thành với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tôi thề sẽ mang hết sức và công tâm ra phụng sự chức vụ của tôi, sẽ giữ khẩn mật những cuộc thẩm nghị, và luôn luôn cư xử cho xứng đáng là một vị thẩm phán cương trực và đủ tư cách”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ân cần dặn dò 40 thẩm phán vừa tuyên thệ là thẩm phán của dân, xử án vì dân. Hãy luôn luôn làm đúng những khẩu hiệu mà tự mình đã viết: “Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”…

Từ lớp thẩm phán đầu tiên ấy, Bộ Tư pháp, với chức năng giúp Chính phủ quản lý công tác tư pháp, đã không ngừng đóng góp tâm sức, lực lượng vì sự nghiệp xây dựng nền pháp luật và tư pháp nhân dân, tập hợp những luật gia, luật sư yêu nước dưới ngọn cờ pháp quyền nhân nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự nguyện tận tụy phấn đấu theo tinh thần “Phụng công thủ pháp, chí công vô tư vì công lý, công bằng cho mọi người dân trong một Nhà nước độc lập, dân chủ”.

Có lẽ những lời nhận xét sau đây của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự đánh giá cao nhất công lao suốt 15 năm trên cương vị Bộ trưởng Bộ Tư pháp (từ năm 1946 đến khi Bộ được giải thể vào năm 1960) của cụ Vũ Đình Hòe:

“Trong cuộc kháng chiến này, các bạn đã góp một phần lực lượng lớn. Từ Bộ trưởng, Thứ trưởng đến toàn thể nhân viên, ai cũng chịu khổ chịu khó tận tụy hy sinh, để làm tròn nhiệm vụ. Đó là một sự vẻ vang cho giới tư pháp ta”.

Đầu Xuân Tân Mão, khi trả lời một tạp chí về những ước nguyện đầu Xuân về giáo dục, cụ vẫn rất minh tuệ trả lời:

“Nhà báo hỏi tôi những điều ước nguyện đầu Xuân về giáo dục.

Với tôi, một người đã gần đất xa trời, nói “ước nguyện” e rằng xa vời quá. Tôi chỉ xin có 3 mong muốn nhỏ nhoi.

Một mong trẻ em không bị bạo hành, được thương yêu và lại được hưởng Điều 15 của Hiến pháp 1946 như từng được hưởng trong những năm Dân chủ Cộng hoà đầy khó khăn gian khổ, đó là: “nền sơ học cưỡng bách và không học phí“. Và chí ít ra, ngày chủ nhật ông bà được nhìn thấy lũ cháu chắt nghỉ ngơi, vui chơi để phát triển hài hoà tự nhiên về thể lực, trí tuệ và tâm hồn đặng trở thành những chủ nhân ông mạnh mẽ, năng động và thông minh mà nhân hậu của đất nước mai sau.

Hai mong người già được con cháu và toàn thể xã hội kính trọng và chăm sóc để được yên vui và thanh thản hưởng tuổi trời.

Ba mong nền giáo dục của ta thực sự là “giáo dục vị nhân sinh”, nghĩa là phục vụ các nhu cầu thiết thực của mỗi con người về vật chất cũng như tinh thần, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững một nước Việt Nam Dân chủ, văn minh và phồn vinh”.

Kiều Mai Sơn

 

Điều ít biết về ngày Tuyên ngôn Độc lập 2.9

Thứ Năm, 2.9.2010 | 07:10 (GMT + 7)

Là người Việt Nam, ai cũng biết về ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định nước Việt Nam độc lập – tự do trước toàn thế giới.

Sau khi đã họp với Thường vụ Trung ương Đảng quyết định chọn ngày 2.9 để tổ chức đại lễ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra mắt quốc dân, Bác Hồ hỏi ý kiến đồng chí Trường Chinh ai có thể cáng đáng việc tổ chức ngày độc lập này? Suy nghĩ một lát, đồng chí Trường Chinh trả lời là ông Nguyễn Hữu Đang (1913-2007, đảng viên năm 1939, Ban Trị sự Hội Truyền bá quốc ngữ, hoạt động trong Hội Văn hoá cứu quốc ngay từ đầu, sau đó bị Pháp bắt, vừa được đi dự Quốc dân Đại hội Tân Trào trở về, vừa mới được cử làm Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền).

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9.1945.

 

 

Trong cuốn hồi ký của mình, cụ Đang nhớ lại ngày 28.8.1945, Bác Hồ gọi cụ tới gặp để trao nhiêm vụ Trưởng ban tổ chức Ngày Độc lập. Bác hỏi: Chú có làm được không?

“…Tôi hiểu là không thể hoãn. Cụ Hồ giục tôi về ngay để bắt tay vào việc. Tôi không về nhà mà đi thẳng đến Bộ Tuyên truyền, gọi dây nói cho các báo hàng ngày, yêu cầu họ nghe tôi đọc chậm một thông báo thượng khẩn về một ngày đại lễ mà tôi nghĩ ra ngay một cái tên gọi rất hợp, làm nổi bật ý nghĩa lớn là “Ngày Độc lập”. Tôi yêu cầu – vì đã được Cụ Hồ cho phép – họ phải đăng kịp vào số báo ra sáng ngày mai.

Đêm ấy – đêm 28.8.1945, Cụ Hồ thức suốt sáng để viết Tuyên ngôn Độc lập, còn tôi ở lại Bộ Tuyên truyền cũng thức suốt đến sáng để nghiên cứu kế hoạch, chương trình tổ chức “Ngày Độc lập”. Trời sáng rõ, tôi nhờ Trần Kim Xuyến, Đổng lý Văn phòng Bộ Tuyên truyền liên lạc ngay với Trần Lê Nghĩa, Phạm Văn Khoa ở Hội Truyền bá quốc ngữ, Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Văn Lợi ở Hội Văn hoá cứu quốc, Nguyễn Dực ở Đoàn hướng đạo (Tráng sinh), Trần Lâm ở Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, và một số bạn đã cùng hoạt động xã hội với tôi nhiều năm ở thủ đô để thành lập ban tổ chức ngay tối hôm 29.8.1945…” (trích hồi ký cụ Nguyễn Hữu Đang).

Nhìn lễ đài ngày Tuyên ngôn Độc lập năm ấy, ai cũng thấy giản dị nhưng thật trang nghiêm. Đạt được kết quả như vậy mà lại trong một thời gian chỉ có gần hai ngày, là công sức đóng góp của kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh. Sáng 1.9.1945, ông Phạm Văn Khoa tìm đến ông, trao đổi yêu cầu nhiệm vụ với ông, ông phấn khởi nhận lời và hẹn ông Khoa đến 12 giờ trưa hôm ấy quay lại xem bản vẽ. Ngay lập tức, ông Quỳnh chuẩn bị mấy thứ nhà nghề, đi ngay đến vườn hoa Ba Đình để khảo sát thực địa và vẽ 3 kiểu. 12h30 ngày 1.9, bản vẽ lễ đài được thông qua. Lễ đài bắt đầu được thi công. Mọi người làm việc không kể giờ giấc. Gần 6 giờ sáng hôm sau (ngày 2.9), lễ đài được hoàn thành, cao hơn 4 mét, rộng và sâu hơn 4m, trên đó có một cột cờ cao hơn 10m, hai bên có hai lư hương lớn bằng gỗ.

Khung lễ đài đã cơ bản xong, tuy nhiên không thể thiếu các phương tiện thông tin như loa đài, micrô, máy khuếch đại để đảm bảo cho hơn nửa triệu người nghe được đầy đủ. Công việc tưởng như đơn giản nhưng lại rất hệ trọng này đã có ông Nguyễn Dực ở Đoàn hướng đạo lo. Ông Dực đã được biết việc này sớm hơn ông Ngô Huy Quỳnh, nên ông đã tức tốc đi lo được 7 cái loa to và lắp ráp được 3 máy khuếch đại 40W cùng 3 micrô ( tất cả dụng cụ này đều là của riêng của ông Dực).

Ai cũng lo loa đài chỉ có như vậy khó mà đủ công suất để phục vụ. Vốn là một chuyên gia lâu năm, với nhiều kinh nghiệm làm việc, ông đi cùng một số anh em để bàn bạc công việc cụ thể vị trí đặt 7 cái loa và đo khoảng cách với lễ đài để dự trù đường dây loa. Mãi sáng mùng 2.9, lễ đài mới dựng xong, đang trang trí bên ngoài thì nhóm ông Dực mới đặt được máy, đến 11 giờ trưa mới thử được máy, đi đến từng loa nghe rất tốt… lác đác có những đoàn đã đi vào quảng trường.

Đúng 2 giờ chiều thì đoàn xe có 2 ôtô đi đến lễ đài, theo sau là cả một đoàn xe đạp. Có hai xe máy đi hai bên… Khi cả đoàn đã đi lên trên lễ đài, thì vừa có tiếng hô: “Nghiêm! Chào cờ!”. Đoàn quân nhạc xếp hàng trước lễ đài cử bài “Tiến quân ca”. Qua khe hở của sàn lễ đài, ông Dực lần đầu tiên được thấy rõ Hồ Chủ tịch cao và gầy. “Khi vừa chào cờ xong thì Hồ Chủ tịch nhìn vào 3 micrô và sẽ thổi trước micrô “Philíp” ở giữa, đèn báo trên máy đỏ lên và lập tức có tiếng “phù” từ cái loa dội lại. Hồ Chủ tịch lùi lại một chút rồi nói: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Ở dưới đã vang lên: “Có ạ”.

Tôi đã từng lắp micrô nhiều lần, nhưng lần đầu tiên tôi mới thấy một người thành thạo như vậy. Thường thì người ta lấy tay gõ nhẹ vào mặt micrô xem có tiếng loa kêu lóc cóc trở lại không, hoặc có người đếm một…hai…Tôi rất sung sướng và nói ngay với bạn: Chưa có người nào am hiểu về micrô như vậy và rất tôn trọng quần chúng. Sau đấy, Cụ Hồ chậm rãi đọc một mạch hết bản Tuyên ngôn Độc lập. (Trích hồi ký của ông Nguyễn Dực).    

Nguyễn Xuân sưu tầm

 

Hồ Chí Minh – Cha đẻ của văn học viễn tưởng Việt Nam

Trong bài “Nguyễn Ái Quốc và văn học Pháp ngữ”, Hồ Chí Minh không chỉ là một trong những nhà văn Pháp ngữ Việt Nam sớm nhất và thành công nhất, mà còn là cha đẻ của thể loại văn học viễn tưởng hiện đại Việt Nam.

Tác phẩm đầu tiên là “Con người biết mùi hun khói” (Enfumé), in trên tờ L’Humanité, số ra ngày 20/7/1922. Chắc chắn truyện ngắn này là một trong những truyện hư cấu hiện đại đầu tiên của văn chương Việt Nam – cùng năm với “Ai làm được” của Hồ Biểu Chánh, bốn năm trước “Tố Tâm” và hàng chục năm trước Tự Lực Văn Đoàn.

Đúng như Giáo sư Hoa Kỳ Brent Hayes Edwards đã nhận định trong “The Shadow of Shadows, và tôi cũng đã viết trong bài “Nguyễn Ái Quốc và văn học Pháp ngữ”, đây là một truyện ngắn đặc sắc về nhiều mặt. Trong đó, độc đáo hơn cả tính viễn tưởng. Mặc dù được công bố vào năm 1922, nhưng bối cảnh câu chuyện lại diễn ra vào năm 1998, nghĩa là sau đó 75 năm. Chúng ta hãy đọc đoạn mở đầu:

“Thành phố Haoussas cờ xí tưng bừng. Tưởng đâu như một vị chúa xuân đã gõ cây đũa thần lên gỗ ván khô khốc ở các bao lơn và các cửa sổ, làm mọc ra muôn vàn tấm lá đỏ phấp phới yêu kiều trước gió. Ấy là lễ kỷ niệm lần thứ năm mươi ngày thành lập Cộng hòa Liên hiệp Phi”.

Trong cảnh lễ hội đó, nhân vật chính, cố Kimengo, “tuổi đã chín mươi, là một cựu chiến sĩ của quân đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hòa da đen”, kể lại câu chuyện xưa: Những người dân thuộc địa Pháp nghèo khổ không có tiền nộp thuế, phải bỏ trốn vào hang. Bọn thực dân hun khói làm những người trong hang chết ngạt. Riêng cố Kimengo may mắn ở gần một kẽ nứt, đào một cái ngách, thoát ra được và trở thành “chiến sĩ của quân đội cách mạng, một trong những người sáng lập Cộng hòa da đen”. Cố Kimengo “không những đã ra sức thức tỉnh anh em cùng màu da ra khỏi giấc ngủ mê say của con người nô lệ, mà còn cố gắng phá tan mọi thành kiến dân tộc và chủng tộc, tập hợp những người bị bóc lột thuộc các màu da trong cuộc đấu tranh chung”.

“Con người biết mùi hun khói” của Nguyễn Ái Quốc có lẽ là tác phẩm đầu tiên thuộc thể loại viễn tưởng trong văn chương hiện đại Việt Nam.

Nhưng điều còn kỳ lạ hơn cả tính viễn tưởng là tính tiên tri của nó. Nếu lưu ý rằng trong truyện, lễ kỷ niệm lần thứ 50 ngày thành lập Cộng hòa liên hiệp Phi trong truyện diễn ra vào năm 1998, ta sẽ thấy Nguyễn Ái Quốc đã tiên đoán rất chính xác sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa cuối thập kỷ 40 (của thế kỷ XX).

“Con người biết mùi hun khói” không phải là truyện viễn tưởng duy nhất của Hồ Chí Minh. Sau này, tác giả còn trở lại với thể loại này trong “Giấc ngủ mười năm” (1949) với bút danh Trần Lực. “Giấc ngủ mười năm” có văn phong giản dị, thậm chí chất phác, phù hợp với tính cách của nhân vật chính – “Nông Văn Minh, người Nùng Cao Bằng. Sinh năm 1920”. Nông Văn Minh là con nhà nghèo, lên mười tuổi đã phải đi ở chăn trâu. Được giác ngộ cách mạng, sau năm 1945, anh tham gia vào Vệ Quốc quân đánh Tây. Trong trận đánh đèo Bông Lau năm 1947, Minh bị thương vào đầu, ngất đi, khi tỉnh lại, thấy mình đang nằm trong bệnh viện. Một cô gái trẻ ông chầm lấy anh hôn lấy hôn để làm Minh ngượng nghịu. Đây là đoạn cao trào trong bệnh viện:

“- Đồng chí chớ làm thế. Anh em họ cười chết! Đây là đâu, hử cô? Cô là ai?

Cô ấy nhẹ nhàng trả lời:

– Đây là Dinh dưỡng đường Cụ Hồ. Tôi… là…

Nghe nói Cụ Hồ, tôi liền hỏi:

– Cụ ở đâu? Cụ có mạnh khỏe không, đồng chí?

– Cụ vẫn khỏe luôn. Cô ấy vừa nói vừa ghé cốc sữa gần miệng tôi, bảo tôi uống một hớp.

Uống xong hai hớp sữa, tôi hỏi tiếp:

– Cô biết bộ đội của tôi nay ở đâu không? Trận Bông Lau thắng chứ?

Cô bé ngập ngừng một phút rồi nói:

– Bộ đội… ở… hình như đóng ở Thủ đô… Trận Bông Lau… Trận Bông Lau quân ta thắng to.

Nghe nói vậy, tôi mừng quá. Tôi muốn ngồi dậy, đi tìm bộ đội của tôi ngay. Cô bé dịu dàng bảo tôi khoan dậy đã. Quen giữ kỷ luật, tôi cứ nằm im rồi hỏi:

– Thế thì Việt Bắc thế nào rồi? Giặc Pháp thất bại chứ? Tôi đến đây đã mấy hôm?

Cô bé mỉm cười không trả lời. Nhè nhẹ bước qua buồng bên cạnh. Sau một phút trở vào, tay cầm quyển lịch, chỉ cho tôi xem. Tôi lẩm bẩm đọc: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa/ Độc lập, Tự do, Hạnh phúc/ 15 tháng 8 năm 1958”.

Tôi giật mình rú lên:

– Trời ơi! Tôi vào đây mười năm rồi sao? Tôi ngủ mười năm rồi sao?

Cô bé lại ôm tôi hôn. Tôi lại nhè nhẹ đẩy cô ta ra.

Cô vừa khóc thút thít vừa nói:

– Cha quên con rồi sao? Cha không nhận được con nữa hay sao? Con là Đào đây mà!”.

Hóa ra cô gái chính là con gái anh, nay đã lớn, đang học Đại học Y khoa. Cô con gái ngồi kể cho bố nghe về những đổi thay trên quê hương đã hoàn toàn độc lập.

Cũng giống như “Con người biết mùi hun khói”, truyện “Giấc ngủ mười năm” có tính tiên tri lạ lùng. Được Tổng bộ Việt Minh xuất bản tại Việt Bắc năm 1949, nhưng phần lớn các sự kiện được tác giả mô tả diễn ra trong khoảng thời gian từ 1948 đến 1958. Tác giả đoán trước thời điểm và diễn biến nhiều sự kiện: sự tăng cường viện trợ quân sự của Mỹ cho Pháp (“Năm 1949, chúng tiếp được viện binh bằng máy bay. Quân ta bắn rơi mấy chiếc, xét ra không phải máy bay của Pháp, mà của một nước ngoài…”); thành công của phong trào Bình Dân học vụ (“Thi đua bắt đầu từ tháng 6/1948 đến tháng 6/1953, trong nước ta già trẻ gái trai đều biết đọc biết viết hết, chỉ sót một người”); và đặc biệt là ngày toàn thắng (Thời điểm nhân vật tỉnh dậy và gặp đứa con gái đang học Trường Y vào năm 1958).

Đọc đoạn sau đây ta có cảm giác như là tác giả nói về Chiến dịch Điện Biên Phủ: “Quân ta yên lặng, để mặc chúng kéo vào các làng. Bất thình lình, một tiếng hiệu lệnh, bốn phía đạn bay. Quân địch bị ta vây kín. Chúng không thể cứu viện được nhau, bị ta tiêu diệt gần hết. Trong lúc hai bên đang kịch chiến ở ngoài thì các đội cảm tử của ta lẻn vào thành từ trước, toán thì đột kích vào các cơ quan của địch, toán thì mò vào phá máy bay, đốt kho dầu. Trận đó là trận cuối cùng”. Và “Tin thất bại về đến Pháp, cả nước xôn xao, đòi lập tức giảng hòa với ta”.

“Giấc ngủ mười năm” có thể khiến ta liên tưởng đến chuyện Từ Thức, nhưng hãy so sánh nó với “Rip Van Winkle” của văn hào Mỹ Washington Irving. Truyện kể về một anh chàng chất phác, vô công rồi nghề, trốn tránh vợ con vào rừng cùng con chó và khẩu súng săn. Anh ta uống rượu với những người lùn rồi ngủ quên. Khi trở về, anh ta ngạc nhiên trước những đổi thay của cuộc sống. Hóa ra giấc ngủ của anh kéo dài tới… 20 năm. Là một người am tường văn hóa Mỹ và từng sống ở Mỹ, hẳn Hồ Chí Minh có đọc Washington Irving.

Tuy nhiên, “Giấc ngủ mười năm”, cũng giống “Con người biết mùi hun khói”, có một ý nghĩa tiên tri mà tác phẩm của Washington Irving không có.

( tổng hợp )

 

Hồ Chí Minh -Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam

01-07-2010

PGS.TS. Bùi Đình Phong
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

(TCTG)- Đại hội đồng UNESCO khóa họp lần thứ 24 tại Pari từ ngày 20 tháng 10 đến ngày 20 tháng 11 năm 1987 đã thông qua Nghị quyết 24 C/18.65 về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh- Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Nghị quyết có đoạn viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh, một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

 

Nhận thấy những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật chính là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”(1).

Ở đây có mấy điểm quan trọng cần nhấn mạnh. Trước hết, không phải bất cứ ai hoạt động và sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa cũng đều được công nhận là “nhà văn hóa”, mà chỉ được thừa nhận là “nhà văn hóa” nếu chủ thể hoạt động và sáng tạo đó vươn tới tầm cao của tri thức văn hóa của thời đại, đưa những tri thức rộng rãi mình có ra phục vụ dân tộc mình và các dân tộc trên thế giới, đem lại cho họ những lợi ích thiết thực, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển phong phú đa dạng của nền văn hóa dân tộc, sự tiến bộ và văn minh nhân loại. Thứ hai, trong lịch sử Việt Nam cũng như lịch sử các dân tộc trên thế giới, có nhiều danh nhân nhưng hiếm có trường hợp nào vừa là anh hùng giải phóng dân tộc vừa là nhà văn hóa(2). Trường hợp Hồ Chí Minh là một “hiện tượng hiếm thấy”, cùng một lúc đạt “hai lần danh nhân” như cách nói của bè bạn thế giới. Đó là một trong những viên ngọc hiếm, sáng lấp lánh trong bầu trời dân tộc và nhân loại của thời đại chúng ta. Thứ ba, cần nhận thức đúng đắn chất “anh hùng” và chất “văn hóa” luôn luôn hòa quyện trong con người Hồ Chí Minh. Nếu hiểu văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh của con người nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn; văn hóa là hiểu biết làm người, hiểu biết xử sự, xử thế và trong xã hội còn áp bức, bóc lột, bất công thì xử sự, xử thế có ý nghĩa nhất là làm cách mạng để xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc sống của các dân tộc bị áp bức, thì Hồ Chí Minh là một nhà văn hóa lớn đúng theo nghĩa chân chính và trọn vẹn nhất của khái niệm đó. Thứ tư, chính vì vậy, một khía cạnh văn hóa ở nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là văn hóa cách mạng. Ngay từ đầu cuộc đời cách mạng, Người đã hiểu tầm quan trọng của văn hóa đối với đời sống con người, đối với sự nghiệp giải phóng xã hội và canh tân đất nước, đối với việc xây dựng tình đoàn kết và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Người ý thức sâu sắc bước khởi đầu của cuộc tìm đường là phải trang bị một bản lĩnh văn hóa để có được sự soi sáng về nhận thức và lý luận. Từ khi ra đi tìm đường cứu nước cho đến cuối đời, Người luôn luôn hăng hái chiến đấu trên mặt trận văn hóa, kết hợp chặt chẽ văn hóa với cách mạng theo tinh thần “kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến”. Và chính vì vậy, sự nghiệp văn hóa quan trọng nhất của Người là đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một trong những học trò xuất sắc của Bác Hồ khẳng định: “Sự nghiệp văn hóa quan trọng nhất của Người là đã lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm trong thời đại mới, giành lại cho nhân dân những quyền sống của con người, một cuộc sống có văn hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với loài người loại trừ một trở lực to lớn trên con đường tiến lên thế giới văn minh, xóa đi một vết nhơ trong lịch sử là chế độ thuộc địa”(3).

Nhận thức về văn hóa cách mạng, văn hóa hành động để thức tỉnh quần chúng, giúp cho con người năng lực tự giải phóng và sự giải phóng con người đã được các nhà văn hóa trên thế giới bàn đến từ sớm. Nhà văn hóa lớn Côlômbia là G.G. Macket (Gbriel Garcia Market), người được giải thưởng Nôben về văn học, tại cuộc gặp lần thứ hai các nhà trí thức Mỹ Latinh, đầu tháng 12-1985 đã phát biểu: “Bản thân cách mạng cũng là một sự nghiệp văn hóa, nó biểu hiện trọn vẹn một thiên hướng và khả năng sáng tạo, chứng minh và đòi hỏi ở tất cả chúng ta một niềm tin sâu sắc ở tương lai”(4). Ngay từ năm 1983, để chuẩn bị cho sự ra đời của tác phẩm loại từ điển tiểu sử mang tên Văn hóa thế kỷ XX (XX Century culture) do Alan Bullock và R.B Wodinger chủ biên (do Harper and Row xuất bản năm 1983), 300 nhà khoa học trên thế giới đã được hỏi ý kiến để bình chọn danh nhân văn hóa thế kỷ XX. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được chọn là một nhân vật tra cứu trong công trình đó với lý do: “Hồ Chí Minh là người khởi xướng và giương cao ngọn cờ giải phóng các dân tộc thuộc địa và trở thành người dẫn đường chủ chốt mặc nhiên thừa nhận và kính trọng của châu Á và của thế giới thứ ba”(5).

Nhà văn hóa kiệt xuất Hồ Chí Minh có sự kết hợp đẹp đẽ, hài hòa giữa tinh hoa văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa của nhân loại. Người là sản phẩm vừa của lịch sử dân tộc, vừa của thời đại.

Là sản phẩm của lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh không những đã kết tinh truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam, giữ vững và phát triển liên tục dòng chảy của văn hóa dân tộc, mà còn kích thích cho nền văn hóa và cộng đồng các dân tộc Việt Nam phát triển, tạo ra một sức mạnh văn hóa mới, một khuôn mặt lịch sử mới trong thời kỳ giải giáp chủ nghĩa thực dân. Chính sức mạnh văn hóa đó đã làm nên những chiến công kỳ diệu trong khởi nghĩa giành chính quyền, kháng chiến chống xâm lược và bước đầu xây dựng xã hội mới.

Là sản phẩm của thời đại, trên bước đường học tập và nghiên cứu, Hồ Chí Minh đã được tôi luyện trong môi trường của văn hóa phương Tây với các dòng tư tưởng tự do, dân chủ, tiến bộ mà cội nguồn là chủ nghĩa nhân văn cổ Hy Lạp- La Mã thời Phục Hưng, Thế kỷ Ánh sáng và đỉnh cao là chủ nghĩa nhân văn mácxít. Người luôn tiếp nhận có chọn lọc văn hóa phương Tây nói riêng, văn hóa nhân loại nói chung, kết hợp với truyền thống văn hóa của gia đình, quê hương, dân tộc, để biến thành một vũ khí có lợi cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mình và giải phóng các dân tộc khác cùng chung số phận. Chính vì vậy, Bác Hồ đã để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại, hiện thân cho một nền văn hóa hòa bình và thấm đượm tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc. Người là điểm hội tụ của các giá trị về Chân – Thiện – Mỹ – Dân chủ – Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Đúng như một nữ đại biểu đã phát biểu trong Hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1990 tại Hà Nội: “Chúng tôi đến đây, có người theo đạo Hồi, có người theo đạo Phật, đạo Tin Lành, đạo Thiên chúa, trước chúng tôi không hiểu nhau, qua hai ngày hội thảo, chúng tôi có thể ngồi lại nói chuyện vui vẻ với nhau, vì chúng tôi có cái chung là lý tưởng Hồ Chí Minh: muốn cho nhân loại được tự do, hạnh phúc”.

Hồ Chí Minh có sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn, biện chứng giữa truyền thống với hiện đại, dân tộc với nhân loại, phương Đông với phương Tây. Người đã tìm thấy cái “cốt” trong sắc thái văn hóa Đông và Tây. Trong văn hóa phương Đông, đó là tính hòa đồng, “cầu đồng tồn dị” (lấy điểm tương đồng chế ngự sự dị biệt); “quốc dĩ dân vi bản” (nước lấy dân làm gốc); đề cao tính cộng đồng, tập thể; v.v.. Văn hóa phương Tây thường lấy lý tính và khoa học làm tiêu chuẩn chân lý, nặng về cá nhân. Nhưng điểm đặc sắc nổi bật của Hồ Chí Minh là trên nền tảng phép biện chứng duy vật mácxít , Người đã tìm thấy mẫu số chung của các nền văn hóa, từ đó thúc đẩy sự tiến bộ của nhân loại trên căn bản quy tụ thay vì loại trừ. Bằng chứng hùng hồn là những ngày trên đất nước có kẻ thù xâm lược, đáp từ trong buổi chiêu đãi của Thủ tướng Pháp là G. Biđôn ngày 2-7-1946, Hồ Chí Minh nói: “Chúng ta chẳng đã ruồng bỏ được cái chủ nghĩa đế quốc xâm lược và cái chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi không còn thích hợp với thế giới hiện tại đấy ư? Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân” (Điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác)(6). Đúng như nhà triết học Pháp Patxcan (Pascal) đã viết, “người ta không vĩ đại khi chỉ đứng ở một cực, mà phải nối liền hai cực và lấp đầy khoảng giữa”.

Là nhà cách mạng đồng thời là nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo dục lớn, Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn hóa vô cùng trong sáng và đẹp đẽ, mang chất lượng cách mạng hóa và hiện đại hóa nền văn học, nghệ thuật Việt Nam. Là tác giả của hơn 250 bài thơ, khoảng 2000 bài báo, nhiều truyện ngắn, văn chính luận, tiểu phẩm văn học, nhưng Người khước từ mọi danh hiệu văn hóa- văn nghệ mà mọi người gắn cho mình, chỉ nhận là nhà cách mạng chuyên nghiệp. Văn, thơ, báo chí của Người luôn luôn mang hơi thở của cuộc sống, của thời đại. Từ khát vọng của dân tộc và mục tiêu của cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đặt ra cho mình và cũng là những lời nhắc nhở ân cần đối với những người viết văn, làm báo những câu hỏi: “Viết cho ai?” “Viết để làm gì?” “Viết như thế nào?”. Câu trả lời của Người có điểm chung là viết cho quần chúng số đông, để giác ngộ và nâng cao dân trí, giúp quần chúng hiểu và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ của mình. Với một vốn liếng ngoại ngữ phong phú, Người đã sử dụng ngòi bút làm một vũ khí sắc bén lên án chế độ thực dân đế quốc, tuyên truyền tổ chức quần chúng nhân dân đứng lên làm cách mạng. Là nhà văn hóa kiệt xuất, suốt đời Người miệt mài đi gieo ánh sáng văn hóa, ánh sáng cách mạng cho nhân dân ta và góp phần đem lại ánh sáng cho nhân dân nhiều nước khác để xua tan bóng tối của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc sống của các dân tộc bị áp bức.

Với sự hiểu biết sâu sắc ý nghĩa của sự kết hợp văn hóa với cách mạng, ngay sau ngày tuyên bố độc lập, Bác Hồ đã đích thân phát động toàn dân chống giặc dốt, đi đôi với chống giặc đói và chống giặc ngoại xâm. Người coi dốt nát cũng là một loại giặc và chống giặc dốt cũng như chống giặc ngoại xâm. Nhận thức rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”; “dốt thì dại, dại thì hèn”, Hồ Chí Minh đề cập trước hết nhiệm vụ phải xóa nạn mù chữ, tất cả mọi người Việt Nam phải biết đọc biết viết, phải có kiến thức mới để giữ vững nền độc lập dân tộc và tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Học để làm việc, làm người, bảo vệ và xây dựng đất nước. Học phải đi đôi với hành. Người nói: “Chúng ta có nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục lại nhân dân chúng ta. Chúng ta phải làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập”(7). Không chỉ như vậy, giáo dục còn có một sứ mệnh cao cả là làm cho “non sông Việt Nam trở nên tươi đẹp, dân tộc Việt Nam bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu ”(8).

Cùng với cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ, Bác Hồ phát động phong trào xây đời sống mới, cải cách lối sống và phong cách làm việc, nhằm đưa văn hóa đi sâu vào cuộc sống vào tâm lý của quốc dân, dùng văn hóa mới “sửa đổi tham nhũng, lười biếng, phù hoa, xa xỉ”. Theo Người, “văn hóa phải làm thế nào cho mọi người dân Việt Nam, từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai cũng hiểu nhiệm vụ của mình và biết hưởng hạnh phúc mà mình nên hưởng”. Cuộc vận động xây dựng đời sống mới theo tinh thần của Người từng bước đi vào đời sống nhân dân, dần dần hình thành những phong trào với những thuần phong mỹ tục mới như xây dựng gia đình văn hóa mới; “tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”; “tết trồng cây”; “rèn luyện thân thể”; “người tốt việc tốt”; v.v.. Phong trào văn hóa quần chúng do Người phát động thật sự tạo ra cái nền vững chắc để giữ vững chính quyền cách mạng thời kỳ trứng nước, nhằm đánh thắng kẻ thù xâm lược, xóa bỏ từng bước tình trạng lạc hậu nghèo nàn, xây dựng xã hội mới.

Là nhà văn hóa kiệt xuất, Hồ Chí Minh chăm lo việc “trồng người”, gieo mầm cách mạng, đào tạo những thế hệ con người mới. Quan điểm xuyên suốt của Người là con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng; “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Đào tạo con người mới, đặc biệt là thế hệ trẻ, là để nắm vững kiến thức vô tận của loài người; để có lý tưởng và đạo đức cách mạng, có khả năng làm chủ đất nước, đưa dân tộc nhịp bước cùng thời đại.

Văn hóa là hiểu biết xử sự, xử thế, hiểu biết làm người. Một khía cạnh của nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là ứng xử văn hóa. Là nhà văn hóa, mỗi người có một vẻ độc đáo trong ứng xử và thể hiện lòng nhân ái, nhưng ứng xử văn hóa của Bác Hồ mang cốt cách, diện mạo, sắc thái Hồ Chí Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét, Người “vừa dân tộc, vừa quốc tế. Vừa rất mực nhân từ, vừa triệt để cách mạng. Rất uyên bác mà cực kỳ khiêm tốn. Rất nguyên tắc về chiến lược lại rất linh hoạt về sách lược. Vừa nhìn xa trông rộng, vừa thiết thực cụ thể. Vừa vĩ đại vừa vô cùng bình dị. Vừa là chiến sĩ, vừa là nhà thơ. Trong phong ba bão tố Người vẫn ung dung tự tại, lạc quan nhìn về tương lai. Trong khó khăn gian nguy, Người vẫn thanh thản chủ động, vững tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Ở Người là sự thống nhất giữa nước với dân, giữa dân tộc với giai cấp, giữa quốc gia với quốc tế. Ở Người, lòng yêu nhân dân, yêu nhân loại không bao giờ thay đổi. Người là một hình mẫu cao đẹp của con người mới trong thời đại mới, một biểu tượng của chủ nghĩa nhân văn với đầy đủ ý nghĩa của nó. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại có một cách nhìn tinh tế, cho rằng “phong cách riêng của nhà văn hóa lớn Hồ Chí Minh là lòng nhân ái bao la, sự hồn nhiên giản dị, khiến cho tâm hồn Hồ Chí Minh vượt qua không gian và thời gian, đến với con người dễ dàng và thấm thía lạ lùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người thương yêu, kính trọng, tin tưởng, biết đòi hỏi và nâng đỡ con người, đối với từng người và đối với đông đảo nhân dân lao động, quan tâm đến số phận của mọi người, dù ai đó hôm qua là kẻ thù, hoặc là người lầm đường lạc lối nay hối cải. Trái tim yêu thương Hồ Chí Minh dành cho đồng bào mình cũng dành cho cả loài người tiến bộ. Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh nhằm mục đích phát huy các khả năng vô tận của con người, tôn trọng quyền và phẩm giá con người, nâng cao con người lên đỉnh cao của trí tuệ và đạo đức. Câu khẩu hiệu “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!” là chân lý, là tiếng nói của lương tri phục hồi và phát triển những tư tưởng về nhân quyền và dân quyền đã được nêu trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn của cách mạng Pháp năm 1789”.

Năm nay, trong không khí hướng tới Đại lễ kỷ niệm ngàn năm Thăng Long- Hà Nội, kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ôn lại sự nghiệp văn hóa cao quý của Chủ tịch Hồ Chí Minh -Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, chúng ta lại nhớ tới nhận xét của nhà báo Liên Xô Oxíp Manđenxtam: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Quả đúng như vậy! Bác Hồ có một cuộc sống cần kiệm về vật chất nhưng rất giàu đẹp về văn hóa. Đó là cuộc sống vì tự do, hạnh phúc của con người. Người biết tìm hạnh phúc trong sự gắn bó với con người và thiên nhiên; trong cuộc đấu tranh không mệt mỏi cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, tiến bộ và tình đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc.

Di sản văn hóa của Người sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!./.

————————–

(1) Nghị quyết 24C/18.65 của UNESCO về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(2) Lê Lợi (1385-1433) là anh hùng giải phóng dân tộc nhưng không phải là nhà văn hóa. Lê Qúy Đôn (1726-1784) là nhà văn hóa, không phải là anh hùng giải phóng dân tộc.

(3) Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia- Ủy ban quốc gia UNESCO của Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh-Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr.21.

(4) Dẫn trong bài của Bộ trưởng Văn hóa Trần Văn Phác, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 4-1989.

(5) Dẫn theo Tạp chí Heral Tribune, số 8-10-1993.

(6), (7), (8) Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, t.4, tr.267, 8, 33

 

Trần Gia Phụng

HỒ CHÍ MINH VÀ HỘI TAM ĐIỂM

1.-   NGUYỄN ÁI QUỐC VÀO HỘI TAM ĐIỂM

Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử hiện đại hoạt động kín đáo, thường thay tên đổi họ, và thường che giấu hành tung của mình.  Một trong những điều được ông che giấu suốt đời là việc ông gia nhập Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) Pháp năm 1922.  Hồ Chí Minh đã dùng tên khác, viết sách để tự ca tụng mình, nhưng hoàn toàn không hé lộ một tý nào về việc ông gia nhập hội Tam Điểm.  Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) cũng tránh né không nói đến trong các bản tiểu sử của Hồ Chí Minh.

Tài liệu bằng tiếng Việt đầu tiên và duy nhất lưu hành ở Hà Nội, nói về việc Hồ Chí Minh gia nhập Hội Tam Điểm có lẽ là sách Nguyễn Ái Quốc tại Pari 1917-1923, Nxb: Thông Tin Lý Luận ấn hành năm 1989, tác giả là bà Thu Trang.  Trong sách nầy, bà Thu Trang viết rằng: “Theo một mật báo đã ghi ngày 14 tháng 6 năm 1922, Nguyễn Ái Quốc được chấp nhận vào Hội Franc-Maçonnerie (Tam điểm)…” (tr. 201.)

Mẩu tin nầy không bị ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương đảng CSVN kiểm duyệt hay gạch bỏ, có thể nhờ câu tiếp theo của bà Thu Trang: “Điều nầy chứng tỏ là Nguyễn Ái Quốc đã đến với bất cứ tổ chức chính trị nào có tính cách tiến bộ.  Mặc dù theo truyền thống, Hội trên chỉ dành cho giới giáo sĩ, quý tộc hoặc những nhà trí thức bác học tên tuổi v.v… Nguyễn Ái Quốc được chấp nhận vào hội nầy là do được sự giới thiệu (ít nhất phải có hai hội viên cũ giới thiệu) như một nhà báo lỗi lạc, hay một nhà cách mạng đã có tên tuổi?  Khó mà đoán được…” (tr. 201.)

Cần chú ý các điểm:  1) Bà Thu Trang không phải là người Việt ở trong nước, mà bà đã định cư ở Paris từ năm 1961.  Bà được Nhà xuất bản Thông Tin Lý Luận Hà Nội giới thiệu là “một nữ trí thức Việt kiều ở Pháp, với lòng tôn kính Bác Hồ”(Lời nhà xuất bản, tr. 5.)  2) Năm xuất bản là năm 1989, tức 20 năm sau khi Hồ Chí Minh qua đời (1969).  Năm đó, nhà cầm quyền cộng sản các nước trên thế giới tương đối cởi mở, kể cả Liên Xô, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, nên mẩu tin nầy không có gì làm mất uy tín đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN).  3)  Đa số người Việt trong nước ít biết Hội Tam Điểm là hội gì, chủ trương như thế nào?  

Hội Tam Điểm (Franc – Maçonnerie do tiếng Anh: Freemasonry) nguyên là một hội đoàn giáo dục, nhắm truyền bá cho hội viên một triết lý sống có đạo đức.  Xuất hiện ban đầu ở Anh vào thế kỷ 17 như một nhóm nghề nghiệp (thợ nề, thợ chẻ đá).  Về sau nhóm trở thành một hội đoàn hướng đến lý tưởng cao cả như bác ái (fraternity), bình đẳng (equality) và hoà bình (peace).  Dần dần hội cho gia nhập cả những người giàu có hoặc có địa vị trong xã hội.  Lý tưởng chấp nhận tự do tín ngưỡng và bình đẳng giữa mọi người của hội Tam Điểm đi đôi với chủ nghĩa tự do thời thế kỷ 18.  Hội Tam Điểm phổ biến ở các nước nói tiếng Anh, bị Giáo hội Ky-Tô giáo La Mã chống đối, vì Giáo hội cho rằng hội Tam Điểm tranh quyền với Giáo hội.  Do đó, hội Tam Điểm không được chấp nhận ở các quốc gia theo Ky-Tô giáo La Mã.  Dầu vậy, dần dần hội Tam Điểm phát triển khắp nơi.  Hiện nay, trên thế giới, hội Tam Điểm đông nhất là hội Hoa Kỳ, chiếm khoảng 75% hội viên toàn cầu.  Có nơi hội Tam Điểm chia ra thành nhiều phái và có khi chống đối nhau.(1)

Như thế, tuy cùng đề cao lý tưởng và quyền lợi công nhân, nhưng hội Tam Điểm phóng khoáng, tự do, trong khi đảng Cộng sản là một tổ chức chính trị độc tài và hai bên rất chống đối nhau.  Nguyễn Ái Quốc đã gia nhập đảng Cộng Sản Pháp từ cuối năm 1920 đầu năm 1921.  Nguyễn Ái Quốc chuyển qua hội Tam Điểm là hội đối nghịch với đảng CS vào năm 1922.  Bà Thu Trang giải thích rằng “Điều nầy chứng tỏ là Nguyễn Ái Quốc đã đến với bất cứ tổ chức chính trị nào có tính cách tiến bộ…”   Tuy nhiên, xin đừng quên một điều là lúc đó, đời sống Nguyễn Ái Quốc tại Paris rất khó khăn.  Tình trạng nghèo khó nầy được ông mô tả lại khá rõ trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch dưới bút danh Trần Dân Tiên.  Phải chăng Nguyễn Ái Quốc vào hội Tam Điểm để tìm kiếm một cơ hội thăng tiến mưu sinh mới?

Nguyễn Ái Quốc vào Hội Tam Điểm ngày 24-6-1922, thì trong tháng 7-1922, Nguyễn Ái Quốc hai lần gặp gỡ Phạm Quỳnh tại Paris, cũng là một nhân vật Tam Điểm Việt Nam.  Nguyên lúc đó, vua Khải Định (trị vì 1916-1925) hướng dẫn phái đoàn Việt Nam sang dự cuộc đấu xảo (hội chợ triển lãm) ở Marseille (Pháp).  Phạm Quỳnh tháp tùng theo phái đoàn nầy.  Lúc đó, Phạm Quỳnh là một nhà báo, nghị viên Hội đồng thành phố Hà Nội, và đã gia nhập Hội Tam Điểm ở Hà Nội.

Theo lời mời của chính quyền Pháp, Phạm Quỳnh đến Paris diễn thuyết tại Trường Thuộc Địa (École Coloniale) ngày 31-5-1922 về đề tài “Sự tiến hóa về đường tinh thần của dân Việt Nam từ ngày đặt bảo hộ đến giờ”.  Sau đó, Phạm Quỳnh ở lại Paris để đi diễn thuyết vài nơi, kể cả Viện Hàn lâm Pháp.

Trong thời gian ở Paris, Phạm Quỳnh ghi nhật ký là đã gặp gỡ những “chí sĩ vào hạng bị hiềm nghi”, và không nêu tên những người ông đã gặp trong nhật ký.  Tuy nhiên, trên sổ lịch để bàn, Phạm Quỳnh ghi rõ: [Thứ Năm, 13-17]: “Ăn cơm Annam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Villa des Gobelins)”.  [Tờ lịch Chủ nhật 16-7]: “Ở nhà, Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” [Chủ nhật 16-7] [Chuyền có thể là Nguyễn Thế Truyền.] (Xin xem phần tài liệu phía dưới.)

Vài tháng sau khi gia nhập Hội Tam Điểm, Nguyễn Ái Quốc ra khỏi hội nầy và suốt đời giấu kín việc vào hội Tam Điểm vì một điều dễ hiểu, hội Tam Điểm đối nghịch với đảng CS.  Vậy phải chăng vì Phạm Quỳnh biết rõ chuyện Nguyễn Ái Quốc gia nhập hội Tam Điểm ở Paris sau hai cuộc tiếp xúc vào tháng 7-1922, mà Hồ Chí Minh tức Nguyễn Ái Quốc, ra lệnh thủ tiêu Phạm Quỳnh ngày 6-9-1945, tại một địa điểm cách Huế 20 km, để giấu kín bí mật của mình?

Theo lời tác giả Thu Trang, “Nguyễn Ái Quốc đã không ở lâu trong Hội nầy [Tam Điểm], vì cuối năm 1922 trên báp L’Humanité, Nguyễn Ái Quốc đã thẳng tay chỉ trích hội ấy với những lời lẽ hết sức cứng rắn.”(sđd. tr. 201.)  Thật ra, lý do chính Nguyễn Ái Quốc dứt điểm hội Tam Điểm, vì lúc đó ông được đại diện Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản mời sang Nga hoạt động.  Lời mời nầy vẽ ra trước mắt ông một cơ hội thăng tiến mưu sinh mới.

Nguyên vào tháng 10-1922, D. D. Manuilsky, đại diện ĐTQTCS, từ Moscow qua Paris dự Đại hội kỳ 2 đảng CS Pháp.  Nhân đó Manuilsky mời Nguyễn Ái Quốc sang Moscow tham gia Hội nghị Quốc tế Nông dân vào năm 1923.(2)  Sự việc nầy có nghĩa là Manuilsky chọn Nguyễn Ái Quốc để đưa qua Liên Xô huấn luyện.  Nhận được lời mời Manuilsky, Nguyễn Ái Quốc vĩnh biệt hội Tam Điểm.  

Ra khỏi hội Tam Điểm để gia nhập một tổ chức khác thích hợp với mình hơn, là chuyện bình thường.  Chuyện bất bình thường ở đây là vào tháng 6 tuyên thệ gia nhập hội Tam Điểm, thì khoảng chưa đầy nửa năm sau, Nguyễn Ái Quốc lại “thẳng tay chỉ trích hội ấy với những lời lẽ hết sức cứng rắn.”(Bà Thu Trang, đã dẫn.)  Ngay từ lúc nầy, mới bước vào con đường chính trị, Nguyễn Ái Quốc đã tự chứng tỏ là một con người “cơ hội chủ nghĩa”, vừa lật lọng, vừa phản bội.

Bên cạnh sách bằng tiếng Việt, bà Thu Trang, với tên Thu Trang-Gaspard viết lại chuyện Nguyễn Ái Quốc ở Paris bằng tiếng Pháp, nhan đề sách là Hồ Chí Minh à Paris (1917-1923), do Nxb. Éditions L’Harmattan ấn hành tại Paris năm 1992, nội dung giống sách trên.

Về việc Nguyễn Ái Quốc gia nhập hội Tam Điểm, ngoài những tài liệu của bà Thu Trang trên đây, còn có một số tài liệu chi tiết hơn của các tác giả Pháp.  Một trong những người nầy là Jacques Dalloz.  Ông viết sách Francs-maçons d’Indochine, Paris: Éditions Maçonniques de France, 2002.  Sách nầy trình bày đầy đủ những nhân vật Tam Điểm ở Việt Nam, trong đó có Phạm Quỳnh và Nguyễn Ái Quốc.

Riêng về Nguyễn Ái Quốc, ngoài sách trên, trong bài báo nhan đề “Les Vietnamiens dans la franc-maçonnerie coloniale” [Người Việt trong hội Tam Điểm thuộc địa], tạp chí Revue française D’Histoire d’Outre-mer, Tam cá nguyệt 3, 1998, Paris: Société Française d’Histoire d’Outre-mer, tr. 105, Jacques Dalloz viết: : “Vào đầu năm 1922, do sự giới thiệu của một nhà chạm trỗ tên là Boulanger, ông ta dự lễ gia nhập của tổ Fédération universelle (Paris GODF).  Phiếu của ông ta ghi là: “Nguyễn Ái Quấc, sinh ngày 15-2-1895 (Việt Nam), thợ tô sửa hình, thợ vẽ.” (tạm dịch từ nguyên bản Pháp văn là: “Au début de 1922, il s’est présenté à l’initiation de la loge la Fédération universelle (Paris GODF), recommandé par le graveur Boulanger.  Sa fiche indique: “Nguyen Ai Quâc, né le 15-2-1895 (Annam), retoucheur en photo, dessinateur”.)  (3)  

Trong mệnh đề nầy có hai điều đáng chú ý:  Thứ nhất là danh xưng Nguyễn Ái Quấc và thứ hai ngày sinh của Nguyễn Ái Quấc.

2.-   DANH XƯNG NGUYỄN ÁI QUẤC (QUỐC) và HỒ CHÍ MINH

Danh xưng Nguyễn Ái Quấc (Quốc) lúc đầu không phải là tên một người, mà là tên chung của bốn người.  Đó là Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành.(4)  Cả bốn ông (Trinh, Trường, Truyền, Thành) cùng dùng một bút hiệu chung là Nguyễn Ái Quốc, đồng ký bản “Revendications du peuple annamite” [Thỉnh nguyện thư của dân tộc Việt], bằng Pháp văn do Phan Văn Trường viết, gởi cho các cường quốc trên thế giới, đang họp Hội nghị Versailles (Paris) sau thế chiến thứ nhất, bắt đầu từ 18-1-1919.  Thỉnh nguyện thư của các ông xuất hiện lần đầu trên báo L’Humanité [Nhân Đạo] ngày 18-6-1919.  

Trong bốn người cùng dùng chung biệt hiệu (Nguyễn Ái Quốc), Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường sống và hoạt động chính trị tại Pháp khá lâu, đang bị mật thám Pháp theo dõi, không tiện ra mặt.  Nguyễn Thế Truyền (1898-1969) là sinh viên du học, đang hưởng học bỗng của Pháp để theo học ngành hóa học,(5) nên không thể công khai chống Pháp.

Chỉ có Nguyễn Tất Thành là người mới đến, chưa bị mật thám chú ý.  Nguyễn Tất Thành tên thật là Nguyễn Sinh Cung, sinh tại Nghệ An, con ông Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929) và bà Hoàng Thị Loan.  Lúc nhỏ, Nguyễn Sinh Cung học chữ Nho, rồi chuyển qua tân học, theo chương trình Pháp.  Sau khi đậu tiểu học khoảng năm 17 tuổi, Nguyễn Sinh Cung vào học lớp nhất niên (năm thứ nhất bậc trung học tức lớp 6 ngày nay) trường Quốc Học (Huế) năm 1907.

Một người bạn học cùng lớp với Nguyễn Sinh Cung ghi nhận lúc học Quốc Học, Cung vẫn mang tên nầy.  Tài liệu nầy cho biết thêm rằng đang học lớp nhất niên trường Quốc Học [tương đương với lớp ngày nay], Cung cùng học sinh Quốc Học tham gia biểu tình trong vụ Trung Kỳ dân biến tại Huế tháng 4-1908.  Pháp đàn áp cuộc dân biến.  Cung lo sợ bị bắt, liền bỏ học, trốn vào nam.(6)  Ông ghé Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, rồi làm giáo viên dạy Quốc ngữ và chữ Pháp ở trường Dục Thanh (Phan Thiết) vào năm 1910, với tên mới là Nguyễn Tất Thành.(7)  Như vậy, có thể Nguyễn Sinh Cung đổi tên thành Nguyễn Tất Thành trong khoảng thời gian nầy.  

Trong khi đó, phụ thân của Nguyễn Sinh Cung là Nguyễn Sinh Huy (tên cũ là Nguyễn Sinh Sắc) đang làm thừa biện [thư ký] bộ Lễ ở Huế, được bổ làm tri huyện Bình Khê (Bình Định) tháng 5-1909, tức được thăng chức.  Điều nầy chứng tỏ Pháp và triều đình Huế lúc đó không quan tâm đến hoạt động của học sinh Nguyễn Sinh Cung, nên không ghép Nguyễn Sinh Huy vào tội không biết dạy con và mới cho phụ thân của Cung thăng quan.  Năm sau (1910), quan huyện Nguyễn Sinh Huy dùng roi mây đánh chết người nên bị sa thải.

Dạy học tại trường Dục Thanh được nửa năm, Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn, lấy tên là Ba, xin làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche-Tréville và theo tàu nầy rời Sài Gòn, đi Pháp ngày 5-6-1911.  Ông đặt chân đến Marseille, hải cảng miền Nam nước Pháp, ngày 6-7-1911.

Sau hơn hai tháng có mặt ở Pháp, Nguyễn Tất Thành viết tay hai lá đơn đề ngày 15-9-1911, có nội dung giống nhau; một gởi cho tổng thống Pháp, một gởi cho bộ trưởng bộ Thuộc địa Pháp, xin vào học École Coloniale (Trường Thuộc địa) ở Paris, nơi đào tạo những quan chức cho các nước thuộc địa Pháp.  Đơn của Nguyễn Tất Thành bị người Pháp từ chối.  

Nguyễn Tất Thành tiếp tục đi tàu biển một thời gian.  Sau đó, ông cư trú ở Luân Đôn (London), thủ đô của Anh.  Giữa năm 1919, Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp, tiếp xúc với nhóm Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền.  Nhờ sự giới thiệu của ba người nầy, Thành bắt đầu làm quen với giới chính trị Paris, nhất là giới chính trị đối lập với chính phủ Pháp.  

Sau khi cả bốn người cùng ký bản “Revendications du peuple annamite”, ba người trước tránh mặt vì lý do an ninh, Nguyễn Tất Thành thường đại diện nhóm, dùng tên Nguyễn Ái Quốc để liên lạc với báo giới và chính giới.  Có thể do đó, dần dần Thành dùng luôn bút hiệu Nguyễn Ái Quốc làm tên riêng của ông.  Trong suốt cuộc đời còn lại, Nguyễn Sinh Cung hay Nguyễn Ái Quốc còn có cả vài chục tên khác nhau, cho đến khi ông lấy tên cuối cùng là Hồ Chí Minh.

Có một điểm đáng chú ý: Nguyễn Sinh Cung bắt đầu sự nghiệp chính trị bằng tên Nguyễn Ái Quốc và kết thúc sự nghiệp chính trị bằng tên Hồ Chí Minh.  Hai tên nầy đều do Nguyễn Sinh Cung chiếm dụng của người khác.  

Nguyên tại Nam Kinh (Trung Hoa), Hồ Học Lãm, một nhà cách mạng Việt Nam, đã lập ra Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh.  Khi đến Hồ Nam năm 1937, Hồ Học Lãm lấy bí danh là Hồ Chí Minh.(8)  Năm 1938, Nguyễn Sinh Cung, lúc đó lấy bí danh là Hồ Quang, từ Liên Xô qua Trung Hoa lần thứ ba.  Theo lệnh của Hồ Quang, những đảng viên cộng sản như Lâm Bá Kiệt (Phạm Văn Đồng), Dương Hoài Nam (Võ Nguyên Giáp), Lý Quang Hoa (Hoàng Văn Hoan)… len lỏi vào hàng ngũ của Hồ Học Lãm.  Hồ Học Lãm già yếu, ít hoạt động.  Các đảng viên cộng sản liền núp dưới danh hiệu Việt Minh để hoạt động cho đảng CS, rồi dần dần chiếm dụng danh xưng nầy.  Thủ lãnh Hồ Quang, cũng chiếm dụng luôn bí danh thủ lãnh Hồ Chí Minh từ năm 1942.(9)

Riêng danh xưng Hồ Chí Minh, Nguyễn Sinh Cung rất thích thú với tên nầy.  Theo Trần Quốc Vượng, sử gia Hà Nội, trong bài “Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia (kinh nghiệm điền dã)“, thì ông Nguyễn Sinh Sắc, phụ thân của Hồ Chí Minh, không phải là con của ông Nguyễn Sinh Nhậm, mà là con ông Hồ Sĩ Tạo.  Trước khi đám cưới, bà vợ của ông Nguyễn Sinh Nhậm đã có mang với cử nhân Hồ Sĩ Tạo, cho nên ông Nguyễn Sinh Nhậm chỉ là người cha trên giấy tờ của ông Nguyễn Sinh Sắc mà thôi.  Theo Trần Quốc Vượng, Hồ Sĩ Tạo thương đứa con rơi, mới gởi gắm Nguyễn Sinh Sắc vào học trương Quốc tử giám ở kinh đô Huế.   Trần Quốc Vượng còn viết rằng: “Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải là cụ Nguyễn Sinh Nhậm.“(10)  
 
3.-  NGÀY SINH CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ HỒ CHÍ MINH

Khi đến Pháp năm 1911, Nguyễn Sinh Cung dưới tên mới là Nguyễn Tất Thành, làm đơn xin vào học trường Thuộc Địa Paris.  Trong đơn, Nguyễn Tất Thành tự khai là sinh năm 1892.(Xin xem tài liệu phía dưới.)  Nay trong đơn vào hội Tam Điểm, Nguyễn Ái Quấc tức Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Cung, tự khai là sinh ngày 15-2-1895.  Theo tài liệu của đảng CSVN, Hồ Chí Minh tức Nguyễn Sinh Cung lúc nhỏ, sinh ngày 19-5-1890.  Ngày sinh nầy được đưa ra chính thức năm 1946, khi Hồ Chí Minh mới cầm quyền chưa được một năm.

Nhìn vào ba ngày hay năm sinh do chính Nguyễn Sinh Cung, tức Nguyễn Tất Thành, rồi Nguyễn Ái Quấc, rồi Hồ Chí Minh, tự tay viết ra, rõ ràng hoàn toàn không giống nhau cả năm lẫn ngày tháng.  Năm 1911, khi xin vào học trường Thuộc Địa, có thể lúc đó phải theo điều kiện tuổi tác ghi danh vào học, Nguyễn Tất Thành đề là sinh năm 1892, tức vừa trên 18 tuổi vào năm 1911.  Năm 1922, khi xin vào hội Tam Điểm, không hiểu dựa vào đâu, Nguyễn Ái Quấc ghi rằng ông ta sinh năm 1895, tức 27 tuổi vào năm 1922.

Chuyện ngày 19-5, sinh nhật Hồ Chí Minh là một thủ thuật chính trị.  Nguyên sau khi Nhật Bản đầu hàng ngày 14-8-1945, theo quyết định của tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, quân đội Nhật bị giải giới bởi quân Trung Hoa ở bắc vĩ tuyến 16 và bởi quân Anh ở Nam vĩ tuyến 16.  Tối hậu thư nầy không nói đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân Nhật bị giải giới, nên Pháp liền lợi dụng kẻ hở nầy, trở lại Đông Dương.

Ở nam vĩ tuyến 16 (từ Tam Kỳ trở vào), Pháp theo quân Anh, đến Sài Gòn rồi dần dần tái chiếm miền Nam.  Ở bắc vĩ tuyến 16, Pháp thương lượng với Trung Hoa, và đi đến hiệp ước Trùng Khánh ngày 28-2-1946, theo đó Trung Hoa chịu rút quân từ ngày 1 đến 15-3-1946, và chậm nhất là ngày 31-3-1946.  Ngược lại, Pháp trả về cho Trung Hoa các tô giới Pháp ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, bán cho Trung Hoa thiết lộ Vân Nam, sửa đổi quy chế người Hoa ở Đông Dương, miễn thuế người Hoa ở Hải Phòng, và người Hoa chuyên chở hàng hóa ngang qua Bắc Việt sẽ khỏi phải chịu thuế.

Sau hiệp ước nầy, sáng sớm ngày 6-3-1946, sư đoàn 9 bộ binh Pháp đến Hải Phòng, dưới sự chỉ huy của trung tướng Jean Valluy.  Túng thế, Hồ Chí Minh liền báo tin cho Pháp biết là ông ta đồng ý ký hiệp ước với Pháp.  Vào buổi chiều cùng ngày, tại số 38 đường Lý Thái Tổ, Hà Nội, Hồ Chí Minh, với tư cách chủ tịch chính phủ Liên hiệp kháng chiến, vội vàng ký thỏa ước Sơ bộ với Pháp.  Cùng ký bản văn nầy, ngoài Hồ Chí Minh, còn có Vũ Hồng Khanh (lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng), phó chủ tịch Quân sự uỷ viên hội của chính phủ.  Về phía chính phủ Pháp, đại diện là Jean Sainteny.

Trong khi đó, từ tháng 9-1945, quân đội Pháp theo quân Anh đến Đông Dương, chiếm Nam Lào, nhưng không tiến lên phía Bắc, vì vùng nầy do quân đội Trung Hoa giữ.  Sau hiệp ước Trùng Khánh ngày 28-2-1946, quân Trung Hoa rời khỏi Lào ngày 12-3-1946.  Pháp liền chiếm Vạn Tượng (Vientiane hay Viang Chan) ngày 23-4-1946. 

Giải quyết xong việc Trung Hoa chịu rút quân khỏi Việt Nam, từ ngày 14-5-1946, đô đốc D’Argenlieu, cao uỷ Pháp tại Đông Dương, bắt đầu mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 lần đầu tiên.  D’Argenlieu đến Vạn Tượng ngày 17-5-1946, và dự tính sẽ đến Hà Nội vài ngày sau. 

Đô đốc D’Argenlieu là cao uỷ Pháp tại Đông Dương, nghĩa là vừa đại diện nước Pháp, vừa được xem là nhà lãnh đạo các nước Đông Dương.  Việt Nam mới ký thỏa ước Sơ bộ 6-3-1946 theo đó điều 1 ghi rằng Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp.  Hồ Chí Minh đón rước D’Argenlieu nghĩa là đón rước quốc trưởng đến thăm Hà Nội.

Việc Hồ Chí Minh ký thỏa ước Sơ bộ với Pháp, chính thức hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp tại Việt Nam, hoàn toàn trái ngược với lời thề diệt Pháp của Hồ Chí Minh khi trình diện chính phủ vào ngày 2-9-1945, gây sự bất bình trong các đảng phái chính trị và trong đại đa số quần chúng.    Nay lại đón rước D’Argenlieu đến Hà Nội và phải theo đúng nghi thức quốc gia, ít nhất phải có treo cờ chào mừng.  Chắc chắn điều nầy càng gây thêm bất bình nơi quần chúng.  Tuy nhiên, nhà cầm quyền VM vẫn ra lệnh treo cờ trong ba ngày 18, 19 và 20-5-1946.  Việt Minh cho biết treo cờ không phải để chào đón đô đốc D’Argenlieu, mà để mừng sinh nhật Hồ Chí Minh, ngày 19-5.   D’Argenlieu đến Hà Nội chiều ngày 18-5-1946.  Hồ Chí Minh và D’Argenlieu gặp nhau hai lần trong hai ngày liên tiếp 19 và 20-5-1946, nhưng không đạt kết quả đáng kể.(11) 

Trước sự kiện nầy, có dư luận cho rằng Hồ Chí Minh lúng túng trong việc phải treo cờ đón D’Argenlieu cho đúng nghi thức, mới có sáng kiến đặt chuyện treo cờ để mừng sinh nhật, nhắm làm cho ông ta và chính phủ của ông ta khỏi mất thể diện, đồng thời làm cho dân chúng khỏi bất bình. Dư luận nầy có phần hữu lý ở chỗ trước đó, Hồ Chí Minh không bao giờ nói đến chuyện sinh nhật của mình, nay tự nhiên bày ra chuyện mừng sinh nhật.  Hơn nữa, có điểm đáng chú ý là trong đơn xin vào hội Tam Điểm, Nguyễn Ái Quấc ghi rằng ông ta sinh ngày 15-2-1895; nay Hồ Chí Minh lại công bố sinh nhật của ông ta là 19-5.  Thế là nghĩa làm sao?

*

Tóm lại, ngày nay, không ai lấy làm lạ về việc Nguyễn Sinh Cung đã đổi nhiều tên, nhiều họ, nhiều năm sinh, tháng đẻ khác nhau, cho đến tên cuối cùng là Hồ Chí Minh với sinh nhật là ngày 19-5-1890.  Điều đặc biệt là ngày chết của Hồ Chính Minh cũng không phải là một ngày.  Người Việt Nam xem ngày chết rất quan trọng, thường tổ chức kỵ giỗ để tưởng nhớ người quá cố.  Thế mà ngày chết của Hồ Chí Minh cũng được đảng Lao Động chính trị hóa, để phỉnh lừa dân chúng.

Nhiều người cho rằng vì hoạt động chính trị, Nguyễn Sinh Cung phải hành động như thế.  Điều nầy chẳng có gì sai trái.  Vấn đề là những hoạt động chính trị của Nguyễn Sinh Cung đã đem lại được gì cho đất nước Việt Nam? 

Nguyễn Sinh Cung tức Hồ Chí Minh nói rằng ông tranh đấu để giải phóng dân tộc.  Cái giá của việc giải phóng theo kiểu Hồ Chí Minh mà dân tộc Việt phải trả thật quá cao.  Nếu chọn lựa đi một con đường khác, không phải là con đường cộng sản, thì có thể tốt hơn.  Hơn nữa, dân tộc Việt Nam ra khỏi tay thực dân Pháp thì rơi vào tay thực dân nội địa (autocolonisation) [chữ của nhà báo Pháp Jean Lacouture], tức đảng CSVN, còn ác độc hơn thực dân Pháp.  Giải phóng là cởi bỏ xiềng xích thực dân chứ không phải thay đổi xiềng xích thực dân, và để tiến lên chứ không phải để đi xuống.

Hồ Chí Minh nói rằng ông ta chống Pháp để giành lại độc lập?  Nước Việt Nam càng ngày càng nhượng bộ và lệ thuộc Trung Quốc.  Hồ Chí Minh bảo rằng ông ta tranh đấu cho tự do dân chủ?  Dân chủ của Hồ Chí Minh là dân chủ theo kiểu “đảng cử dân bầu”.  Còn về tự do, sau năm 1954, khi các nhà trí thức, văn thi sĩ Bắc Việt yêu cầu trả văn học nghệ thuật lại cho văn nghệ sĩ, nghĩa là để cho văn nghệ sĩ được tự do sáng tác, thì Hồ Chí Minh và đảng Lao Động trả lời bằng cách bắt bớ, giam cầm, đày đọa cho đến cuối đời hàng lọat trí thức, văn thi sĩ, mà rõ nét nhất là vụ Nhân Văn Giai Phẩm ở Hà Nội năm 1956. 

Hồ Chí Minh cải cách ruộng đất, hứa hẹn để thăng tiến đời sống nông dân?  Hơn hai trăm ngàn người chết vì cải cách ruộng đất, toàn bộ đất đai của dân chúng do cha ông để lại bị quốc hữu hóa vào tay nhà nước cộng sản.  Hồ Chí Minh đánh Mỹ để cứu nước?  Thật ra là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc…  (12)

Đó là những câu trả lời về mục đích cuộc đời chính trị của một nhân vật lịch sử thay tên đổi họ, như tắc kè thay màu da, chỉ để làm những việc hại dân, hại nước, nhất là du nhập và ứng dụng chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam.

TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto 21-6-2007)

CHÚ THÍCH

  1. Tam Điểm:  Các hội viên Franc-Maçonnerie khi viết thư cho nhau, thường gọi nhau là huynh đệ/anh em (frère), hay thầy (maýtre), thường viết tắt: F hay M và thêm vào phía sau 3 chấm (điểm) như 3 đỉnh hình tam giác đều.  Vì vậy, người ta gọi hội Franc-Maçonnerie là hội Tam Điểm. (Tập san Historia Spécial, Paris: số 48, tháng 7-8/ 1997, tr. 127.)
  2. Chính Đạo, Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại 1892-1924, tập 1: 1892-1924, in lần thứ hai, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 224.
  3. Hội Tam Điểm gồm nhiều “obédiences”, xin tạm dịch là “phân bộ”.  Mỗi obédience gồm nhiều “loges”, xin tạm dịch là “tổ”.  Ở đây, Nguyễn Ái Quấc gia nhập vào tổ (loge) Fédération universelle thuộc obédience (phân bộ) GODF.  GODF là viết tắt của chữ : Grand Orient de France.
  4. Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l ‘ Indochine au Vietnam [Hồ chí Minh, từ Đông Dương đến Việt Nam], Paris: Nxb. Gallimard, 1990, tt. 44-45.
  5. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 374.  Học bỗng lên tới 5,759.50 francs.  Lúc đó, số tiền nầy khá lớn.
  6. Lê Thanh Cảnh, tạp chí Hoài niệm Quốc Học, Huế: 1956, tr. 37-39.  Ông Lê Thanh Cảnh là bạn học cùng lớp với Nguyễn Sinh Cung.
  7. Hồ Tá Khanh, Thông sử công ty Liên Thành, Paris: 1983, tr. 34.
  8. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, sđd. t. 168.
  9. Chính Đạo, Hồ Chí Minh, tập 2, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1993, tr. 281.
  10. Trần Quốc Vượng, Trong cõi, Nxb. Trăm Hoa, California, 1993, tt. 256, 258.
  11. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu tập A 1939-1946, Houston, Nxb. Văn Hóa, 1996, tt. 333-334.
  12. Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày (hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422, phần chú thích.

TÀI LIỆU 1: Lịch để bàn của Phạm Quỳnh, do bà Phạm Thị Hoàn, thứ nữ của Phạm Quỳnh, cung cấp.

TÀI LIỆU 2: Xin chú ý trong đơn nầy, năm sinh của Nguyễn Tất Thành: 1892.

 

Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng 1951: “Đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa”

Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng 1951:

“Đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa”

Lời dẫn (trích): Tư liệu hiếm dưới đây có lẽ chưa bao giờ được công bố. Đó là một bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951, do một phóng viên của tờ Học tập liên khu 4 ghi lại nguyên văn.[1] Tại Đại hội này, Đảng Lao động Việt Nam ra công khai sau 6 năm nấp dưới tên gọi “Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác”. Bài diễn văn thú vị này cho ta thấy Chủ tịch là một nhà cách mạng, một chính trị gia, và một nhà tuyên truyền lão luyện. Một nhà cách mạng có niềm tin ngây thơ nhưng sâu sắc rằng lý thuyết cách mạng của các “ông thầy” của mình có quyền lực vạn năng […] – Vũ Tường, Đại học Oregon.

 

HỌC TẬP — Nội san Đảng Bộ Liên Khu Bốn (Chỉ lưu hành Trong Nội Bộ)

Số 35, Năm thứ tư, Tháng 4 – 1951, trang 1-8

LỜI HỒ CHỦ-TỊCH TRONG ĐẠI HỘI TOÀN ĐẢNG

(Sau khi đồng chí Võ-nguyên-Giáp báo cáo xong vấn đề quân sự, Hồ-Chủ-tịch lên diễn đàn, giữa những tràng pháo tay).  Hồ-Chủ-tịch nói.

Các đồng chí,

Vừa nghe báo cáo của đồng chí Giáp, các đồng chí thấy – và trước khi nghe cũng đã thấy – Quân đội ta từ chỗ yếu tiến đến chỗ mạnh, từ chỗ nhỏ tiến đến chỗ to, từ không thắng tiến đến thắng, từ thắng ít đến thắng nhiều, rồi từ thắng nhiều tiến đến thắng lợi hoàn toàn (Đại hội vỗ tay).

Đó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa:

(Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine)

(Đại hội vỗ tay vang dậy)

Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn quân đội nhân dân thế giới có một ông Tổng tổng tư lệnh là ông kia kìa.

(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: STALINE)

(Đại hội vỗ tay dậy vang và cùng đứng dậy hô lớn)

(Đồng chí Staline muôn năm!)

Chắc ít người biết mà có lẽ cũng không ai ngờ. Ông ở cách xa đây mấy muôn dặm, mà ông theo rõi cuộc kháng chiến của ta, của Triều-tiên, của Mã-lai và cuộc đấu tranh của các nước Đông-nam Á. Ông cảm động khi nghe kể lại những cử chỉ chiến đấu anh dũng của một chiến sĩ Thổ khi giết giặc lập công như thế nào. Vì vậy có thể nói tuy ông ở xa nhưng tinh thần của ông và hiểu biết của ông ở với chúng ta. (Đại hội vỗ tay dài)

Chúng ta lại nhờ có ông anh này:

(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: MAO-TRẠCH-ĐÔNG) –

(Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn Đồng chí Mao-Trạch-Đông muôn năm!)

Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm… Ông theo rõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức…

(Đại hội có tiếng tấm tắc)

… Có ông thầy, ông anh như thế nên quân đội ta, quân đội Việt-Mên-Lào, từ chỗ nhỏ đến chỗ lớn, từ chỗ yếu đến chỗ mạnh, từ không thắng đến thắng hoàn toàn.

Cũng vì chủ nghĩa quốc tế, cũng chủ nghĩa Marx – Engels – Lenine – Staline, mà đến ông anh kia

… (Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí Thorez và nói tiếp… là ông THOREZ …) (Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn: Đồng chí Thorez muôn năm! Muôn năm!)

… Ông lãnh đạo đảng Pháp, đảng đàn anh … vì do được đảng Pháp lãnh đạo, nhân dân lao động ở Pháp kiên quyết bảo vệ hòa bình thế giới, tranh đấu chống chiến tranh thuộc địa, ủng hộ cuộc kháng chiến của chúng ta, chống lại chiến tranh thực dân. Như hôm nọ, tôi đã nói về đồng chí Henri M…,[3] (Henry Martin-BS) một sĩ quan trong hải quân của thực dân, mà đi phát truyền đơn ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt nam, khuyên thanh niên Pháp và bộ đội Pháp từ chối, phản đối không qua đánh Việt nam. Lại có những công nhân như Raymone Dieu (đúng ra phải là Raymond Dien – BS), khi thực dân Pháp chở khí giới từ một ga xe lửa đến bến tàu để rồi đưa qua Việt nam. Cô Raymone nằm ngang ra giữa đường sắt để ngăn chuyến xe ấy. Và do cử chỉ cao xa này mà toàn dân xứ ấy kéo ra chặn cả đoàn xe lại.

(Đại hội vỗ tay hoan hô nhiệt liệt và hô lớn: Hoan hô tinh thần của Henri M… và Raymone Dieu!)

Đó là nhờ nhân dân lao động Pháp đã thấm nhuần tinh thần Marx – Engels –Lénine – Staline. Chẳng những nhân dân lao động Pháp có rất đông những người như thế, mà vừa rồi đây lại có tin hàng trăm người lãnh đạo công giáo – khai hội nghị chống chiến tranh thực dân ở Việt nam và ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc Việt nam.

(Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn: Đảng cộng sản Pháp muôn năm! Muôn năm!)

Có thể nói cái tinh thần, cái chủ nghĩa của đồng chí Staline đã thấm nhuần vào dân công giáo và đấu tranh giành một phần nào “lời nói” của ông Pope.

(Đại hội vỗ tay, ngồi)

Vừa đây có một giám mục đứng ra kêu gọi con chiên đấu tranh cho hòa bình. Thì ra, tinh thần của đồng chí Staline đã đi vào địa bàn của giáo hoàng.

Đây là ở phương tây. Còn ở phương Đông thì như thế nào? Do chỗ đảng Trung Quốc đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine nên đã áp dụng chủ nghĩa Marx – Lénine thích hợp với hoàn cảnh Trung Quốc. Do chỗ đảng ta đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine, thấm nhuần tinh thần ấy lực lượng ấy, mà làm thấm nhuần đến cả quân đội ta, thấm nhuần đến nhân dân ta.

Nếu không thấm nhuần như thế, thì sao lại có bộ đội nhịn đói hơn 4 ngày, vẫn cứ bám lấy giặc mà đánh và đánh thắng giặc!

(Đại hội vỗ tay dài)

Thì sao có những cử chỉ oanh liệt như ở một trận đánh nọ có chiến sĩ bị thương ở tay nói với người bên cạnh “Cậu chặt tay cho mình cái” vì thấy cánh tay gãy vướng, chặt đi cho dễ đánh, thế rồi lại cứ xung phong? Nếu không thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine thì làm sao có được những cử chỉ oanh liệt như thế?

(Đại hội vỗ tay)

Nếu không có chủ nghĩa Marx – Lénine kinh qua đảng ta thấm nhuần đến nhân dân, thì sao có những chị em phụ nữ Mán, Thổ, Mèo ban ngày thì mưa ướt, đường trơn vẫn hăng hái đi tải đồ cho bộ đội, tối đến đường trơn, ở giữa rừng không có chỗ ngủ, phải dựa lưng vào nhau mà ngồi qua đêm, để sáng sớm lại vui vẻ đi vận tải đồ cho bộ đội?

Nếu không có tinh thần Marx – Lénine thấm nhuần qua Đảng ta đến dân ta, thì sao có những cử chỉ cảm động như thế? Đó là những vô danh anh hùng. Dân tộc ta là dân tộc anh hùng.

(Đại hội vỗ tay vang dậy)

Chẳng những đồng bào ở ngoài, mà ngay đồng bào trong vùng tạm bị chiếm cũng hết sức ủng hộ ta. Tôi vừa nhận được bức thư của một bà ở ngoại thành, một bà hơn năm mươi tuổi, đây tôi đọc để dẫn chứng – (Còn nhiều bức thư khác nữa, nhưng bức thư này vừa tiếp được, tiện đây đưa ra đọc) – Bà có một đứa con chín tuổi, bà nói sự độc ác của bọn giặc Pháp, sự cực khổ của đồng bào trong vùng tạm bị chiếm. Bà viết: “Tôi già sống trong hoàn rất cực khổ, thế nhưng mà tôi luôn luôn mong mỏi, tin tưởng bộ đội ta sẽ tổng phản công để đuổi lũ giặc Tây hung ác, đưa dân chúng đến cảnh tượng hòa bình.”

Có một cháu bé 16 tuổi cũng viết thư như thế, kể nỗi khổ cực: “Cháu luôn luôn nhớ Bác, luôn luôn nhớ chính phủ. Dầu cực khổ mấy, lúc nào cháu cũng cố gắng học tập, nghe theo như lời Bác dạy, một lòng trung thành với chính phủ. Cháu cố gắng học tập, để xứng đáng là một đứa cháu của Bác và sau này trở thành người dân xứng đáng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”

(Đại hội vỗ tay dài)

Thế là do chủ nghĩa Marx – Lénine đã thấm nhuần qua đảng ta, qua dân ta, nên chúng ta nhất định sẽ thắng lợi.

(Đại hội vỗ tay rất lâu)

Bây giờ tôi qua điểm khác. Nói đến quân đội ta, quân đội anh dũng Việt-Mên-Lào, chúng ta phải nhớ đến đoạn đầu, những người đầu. Trước hết nhớ đến những chiến sĩ Nam bộ lấy gậy tầm vông đập vào đầu thực dân Pháp.

(Đại hội vỗ tay lớn)

Đây tôi cũng sung sướng giới thiệu với các đồng chí một du kích viên đầu tiên, khi mới tổ chức đội du kích đầu tiên, chỉ có 12 người: 10 nam 2 nữ. Trong những đồng chí ấy thì đây có Lê quảng Ba (Hồ Chủ tịch nhìn quanh đại hội, và hỏi Lê quảng Ba đâu? Đứng lên nào)

(Đồng chí Lê quảng Ba đứng dậy. Cả đại hội hướng về phía đồng chí ấy, vỗ tay hoan hô vang dậy)

Và tôi giới thiệu một tư lệnh viên đầu tiên trong thời kỳ du kích Bắc sơn – Chắc các cô, các chú cũng đã biết cả – là chú này … (Hồ Chủ tịch ngoảnh về phía chủ tịch đoàn và chỉ đồng chí Chu văn Tấn hiện đang làm chủ tịch buổi họp) – chú Chu văn Tấn! (Đồng chí Tấn đứng dậy. Đại hội vỗ tay hoan hô vang dậy).

Từ 12 người ấy mà tiến lên, rồi dần dần thành đội tuyên truyền xung phong, rồi đổi ra là Nam tiến, đổi là Giải phóng quân, đổi ra là Vệ quốc đoàn. Người tổng chỉ huy đầu tiên đội Nam tiến là

… (Hồ Chủ tịch chỉ đồng chí Võ nguyên Giáp ngồi ở hàng ghế đầu và nói mạnh rằng: Võ nguyên Giáp đây này! (Đồng chí Giáp đứng dậy. Đại hội vỗ tay hoan hô vang dậy.) Còn những chiến sĩ gậy tầm vông nam bộ ở đây có nhiều!

Từ chú du kích viên, rồi đến chú tư lệnh, rồi đến chú Tổng chỉ huy đầu tiên, đều là con của Đảng cả.

(Đại hội vỗ tay rất mạnh, rất dài.)

Hồi bấy giờ từ 12 đội viên du kích đầu tiên mà bây giờ ta có – có thể nói, Một triệu hai, tính cả dân quân, bộ đội địa phương, bộ đội chính quy. Từ 12 “vawis” (?)[4] (Đại hội cười) bây giờ sinh nở ra một triệu hai trăm ngàn vắt … (Hồ chủ tịch vừa nói vừa gõ tay lên bàn).

(Đại hội vỗ tay vang dậy.) (Giữa những tràng vỗ tay tiếng nói của Hồ Chủ tịch nổi bật lên …)

Đấy chính là nhờ chủ nghĩa Marx – Lénine.

(Đại hội càng vỗ tay nhiệt liệt.)

Bây giờ tôi qua điểm thứ ba.

Đảng ta, – Nhiêm vụ Đảng ta cũng như nhiệm vụ các đảng đàn anh ta, Đảng Bolchévik, Đảng cộng sản Trung hoa, trong lúc chiến đấu bằng chính trị đã đều chiến đấu bằng quân sự. Như trước kia, trong đại chiến thứ hai – không nói đến thời kỳ cách mạng ở Xô-liên, cũng kháng chiến, kiến quốc như mới đây ở Trung quốc, là đánh Tưởng mà Tưởng do Mỹ giật mũi — , là kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mà cũng là vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Các Đảng đàn anh ta đề ra kháng chiến đệ nhất, thắng lợi đệ nhất. Ta cũng đề ra kháng chiến đệ nhất, thắng lợi đệ nhất, vì kháng chiến thắng lợi thì các việc khác giải quyết mới dễ dàng. Thế nên, chúng ta nói, kháng chiến trên hết, thắng lợi trước hết.

Muốn kháng chiến trên hết, thắng lợi trước hết, chúng ta phải học kinh nghiệm của các Đảng anh em ta. Như chú Hai vừa kể, có lần bên Xô-liên, đảng Bolchévik động viên đến 1/5 số đảng viên, nhưng chú nói còn ít đấy chứ có chỗ động viên đến 50% lúc chiến đấu gay go. Đảng Cộng sản Trung hoa cũng động viên hầu hết các đảng viên vào bộ đội, lúc lên đường vạn lý trường chinh. Đảng ta có bảy, tám mươi vạn. Rồi đây trung ương mới sẽ có chỉ thị về việc này, – Ít ra cũng phải động viên một vạn Đảng viên. Không kể số đảng viên hiện đã ở trong quân đội trực tiếp vào công việc kháng chiến.

(Đại hội vỗ tay, hoan hô nhiều lắm)

Với chủ nghĩa như thế, với Ông thày, Ông anh như thế, với lòng trung thành và kiên quyết của nhân dân ta, của Đảng ta, nhất định chúng ta thắng lợi.

(Hồ Chủ-tịch bước xuống diễn đàn. Đại hội đứng dậy vỗ tay vang dậy và hô lớn nhiều lần: Hồ Chí Minh Muôn năm! Muôn năm!)

Bản điện tử © 2010 Vũ Tường

Bản điện tử © 2010 talawas


[1]Chúng tôi cũng đánh máy đúng theo nguyên bản, kể cả những chữ in đậm và chữ cái.

[2] Xem Ilya Gaiduk, Confronting Vietnam: Soviet Policy toward the Indochina Conflict, 1954-1963 (Washington, DC: Woodrow Wilson Center, 2003).

[3] Bản chụp tên bị nhòe.

[4] Bản chụp mờ, không nhận ra chữ gì.

Bài đã được đưa lên trang Ba Sàm từ 29/9/2010, nhưng do bị tin tặc phá, xóa mất, nay đưa lên lại.

 

Kết luận hội thảo khoa học về thầy giáo Nguyễn Tất Thành tại Bình Thuận (*)

07-11-2010

(htpp://hochiminhhoc.com) Nhân dịp kỷ niệm 100 năm thầy giáo Nguyễn Tất Thành dừng chân dạy học tại Phan Thiết, Bình Thuận, được sự đồng ý của Lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Thuận và Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình thuận tổ chức Hội tảo ‘’Nghiên cứu, xác minh giá trị di tích và tư liệu về sự kiện thầy giáo Nguyễn Tất Thành ( Chủ tịch Hồ Chí Minh) sống và dạy học ở Phan Thiết, Bình Thuận thời kỳ cuối năm 1901 đến đầu năm 1911”. Chúng tôi xin gửi đến toàn thể quý độc giả bài phát biểu của TS. Chu Đức Tính về sự kiện này!

Kính thưa đồng chí Huỳnh Văn Tý, Uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ Bình Thuận! Kính thưa các nhà khoa học và các quý vị đại biểu!
Nhân dịp kỷ niệm 100 năm thầy giáo Nguyễn Tất Thành dừng chân dạy học tại Phan Thiết, Bình Thuận, được sự đồng ý của Lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Thuận và Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình thuận tổ chức Hội tảo ‘’Nghiên cứu, xác minh giá trị di tích và tư liệu về sự kiện thầy giáo Nguyễn Tất Thành ( Chủ tịch Hồ Chí Minh) sống và dạy học ở Phan Thiết, Bình Thuận thời kỳ cuối năm 1901 đến đầu năm 1911”. Đây là thời gian vô cùng quan trọng trong tiểu sử cũng như sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Một cảnh trong phim: Nhìn ra biển cả – nói về quãng đời cậu Nguyễn Tất Thành dạy học tại trường Dục Thanh – Phan Thiết – Bình Thuận. Ảnh: Tuấn Anh

Sau thời gian chuẩn bị, được nhiều nhà khoa học, các giáo sư, tiến sỹ, các nhà chuyên môn nhiệt tình tham gia, Ban tổ chức đã nhận được 37 bài tham luận. Nội dung chính của các bài tham luận tập trung vào những vấn đề sau:

1. Thẩm định, góp ý cho bản báo cáo đề dẫn do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bỉnh Thuận và Bảo tàng Hồ Chí Minh dự thảo.

2. Các bản tham luận tập trung trao đổi, phân tích, cung cấp tư liệu, xác minh tư liệu về trường Dục Thanh.

3. Các bản tham luận tập trung vào nghiên cứu, xác minh, cung cấp và khẳng định các hoạt động của sự kiện thầy giáo Nguyễn Tất Thành trong thời gian dạy học ở Dục Thanh, đặc biệt tập trung vào thời gian thầy Thành đến, rời trường, dạy môn gì tại trường.

4. Một số bản tham luận đề xuất việc phát huy giá trị Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bình Thuận; mối quan hệ giữa nhà trưng bày chi nhánh và khu di tích; phương pháp phát huy giá trị di tích gắn với du lịch…

Qua môt ngày hội thảo nghiêm túc, sôi nổi, chúng ta đã:

1. Nghe đồng chí Nguyễn Văn Dũng- Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu chào mừng Hội thảo.

2. Nghe 12 bài tham luận.

3. Nghe 02 ý kiến thảo luận.

Thay mặt Ban Tổ chức và Đoàn Chủ tịch, chúng tôi xin phép được kết luận một số ý như sau:

1. Bình Thuận, trường Dục Thanh trong bối cảnh xã hội Việt Nam của thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20.

Đây là tỉnh cực Nam trung bộ, gồm nhiều dân tộc cùng sinh sống như dân tộc Kinh, Hoa, Chăm, CoHo, Hrê, …. Thành phố Phan Thiết nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh, là địa bàn hoạt động của các phong trào yêu nước, là chiếc nôi của phong trào yêu nước, phong trào cách mạng trong tỉnh. Phan Thiết được coi như mảnh đất tụ nghĩa mà nhiều nhà chí sĩ yêu nước từ Bắc chí Nam thường dừng chân gặp gỡ, bàn chuyện quốc sự.

Thống nhất:

– Việc hình thành trường Dục Thanh năm 1907 được coi là một trong những hoạt động hưởng ứng phong trào Duy Tân 1906 với chủ trương “Chấn dân trí, khai dân trí, hậu dân sinh”.

– Về cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động, số lượng học sinh, nội dung giảng dạy trong nhà trường lúc bấy giờ, các tác giả đều cơ bản nhất trí với nội dung đề dẫn Hội thảo: Mục đích chính của trường là nhằm giáo dục thanh thiếu niên với nội dung giảng dạy thể hiện tính dân tộc và lên án chế độ thực dân theo chủ trương cải cách của cụ Phan Châu Trinh đúng với cái tên Dục Thanh của trường: giáo dục thanh thiếu niên.

2. Sự kiện thầy giáo Nguyễn Tất Thành dừng chân ở Bình Thuận:

– Về thời gian Nguyễn Tất Thành đến Bình Thuận: Đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, nhưng hiện nay vẫn chưa có tài liệu văn bản có giá trị nào được bổ sung, mà chỉ là căn cứ vào các nguồn hồi ký của các học trò thầy Thành thời kỳ đó. Ngay với các bản ghi lời kể của nhân chứng, rất ít người tiếp xúc được với những văn bản gốc như chúng tôi có từ tháng 9/1975. Những tài liệu này đều được ghi vào thời kỳ mới giải phóng, có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử dân tộc ta. Ngay cả cụ Từ Trường Phùng, một trong số học trò đó nói trong băng ghi âm: từ trước đến nay tôi không biết thầy Thành là Nguyễn Ái Quốc và nay, khi sắp về già tôi mới có vinh dự biết mình là học trò của cụ Hồ.

Sau này, những lời kể đó được nhiều sách báo trích lại, truyền từ người nọ sang người kia nên có sự lệch lạc. Cụ Phùng không nói đến sao chổi Haley. Cụ Phầu có nói đến việc một năm có một tháng trăng tròn. Nhiều người bàn bạc về vấn đề này nhưng không đi đến thống nhất do chưa có tài liệu gốc. Trong bốn cụ học trò thì có người nói tháng 9, có người nói tháng 10, giữa bốn cụ cũng không có sự thống nhất về thời điểm. Các hồi ký thời đấy chủ yếu xoay quanh ba cái tết: Tết Canh Tuất 1909, Tết Trung thu 1910 và Tết Tân Hợi 1911. Kết luận của Hội thảo năm 1986 khẳng định là thầy Thành dự hai cái Tết ở Bình Thuận là Tết Canh Tuất 1909 và Tết Trung thu 1910. Nhiều người còn viết thầy Thành vào Bình Thuận từ 20/2/1910. Tuy nhiên, xét theo lôgíc: ngày 17/1/1910, cụ Nguyễn Sinh Sắc bị bãi chức tri huyện, đến 19/5/1910 Hội đồng nhiếp chính nghị án và sau đó ngày 27/8/1910, Khâm sứ Trung kỳ Grolean phê duyệt án đó. Một người bình thường cũng không nỡ rời cha trong thời điểm như vậy, một con người tận trung, tận hiếu như thầy giáo Nguyễn Tất Thành (Chủ tịch Hồ Chí Minh) lại càng khó có thể rời ngay Bình Định từ khi nghe tin cha bị bãi chức để vào Bình Thuận từ tháng 2/1910..

Hội thảo khoa học Nguyễn Tất Thành ở Bình Định tháng 8/2009 đã khẳng định Bác đến Bình Định vào tháng 5/1909 và rời Bình Bịnh là vào tháng 8/1910.

Khoa học là không cùng và không thể hôm nay phủ nhận cái đã qua; Chúng tôi hôm nay không phủ nhận kết luận của Hội thảo năm 1986 nhưng dựa vào các tài liệu hiện có hôm nay và chắp mối các tài liệu với nhau, để đến lúc chúng ta phải đồng thuận với nhau để cùng tuyên truyền thống nhất trong hệ thống. Do vậy tôi đề nghị lấy thời điểm thầy Thành đến là tháng 8/1910 và rời Bình Thuận là 2/1911. Thời điểm này được lấy theo kết luận của Đề tài khoa học KX02/11 thuộc chương trình nghiên cứu cấp Hồ Chí Minh do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm chủ nhiệm chương trình, Viện Hồ Chí Minh thực hiện và nghiệm thu, đã ấn hành thành sách. Đề nghị các đồng chí chấp nhận với nhau theo thời gian trên để hình thành lộ trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi rời Nghệ An đến Nhà Rồng là: Huế (1906-5/1909)-Bình Định (5/1909-8-1910)-Bình Thuận (8/1910-2/1911)-Sài Gòn (2/1911-5/6/1911).

Chúng ta sẽ cùng tiếp tục suy nghĩ, trong khi chưa có gì mói hơn thì sẽ lấy theo đề tài đã được in thành sách Hồ Chí Minh Tiểu sử do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh ấn hành năm 2006.

– Về vấn đề Thầy Thành dạy môn gì tại trường Dục Thanh: Theo Đề tài KX02 kết luận: thầy Thành dạy thể dục và trợ giảng các môn Hán văn, Quốc ngữ, tiếng Pháp.

Trình độ của thầy Thành về Hán văn, Quốc ngữ đã được khẳng định. Về Hán văn, cụ Quách Mạt Nhược-Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc đã nhận định về tập thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh: có một số bài đặc biệt hay, mà nếu đặt cạnh thơ Đường, thơ Tống thì người Trung Quốc cũng khó lòng nhận ra được.

Trong tờ khai lý lịch dự Đại hội 7 Quốc tế Cộng sản, Bác Hồ khai mình biết 6 thứ tiếng: Nga, Trung, Anh, Pháp, Đức, Ý.

Về Pháp văn của Bác Hồ: Bác học tiếng Pháp ở tiểu học Vinh, ở Huế, ở Quy Nhơn.

Do vậy lúc Bác ở trường Dục Thanh nếu trợ giảng cho các thầy khác môn Pháp văn thì cũng là bình thường.

Như vậy ta có thể kết luận: thầy Thành dạy thể dục là chính và dạy thay các thầy khác, trợ giảng 3 môn Quốc ngữ, Hán văn, Pháp văn.

Một vài ý kiến trong Hội thảo về tên gọi Văn Ba là có từ đâu: và nghiêng về giả thiết là có từ Phan Thiết (Bình Thuận), chứ không phải đến khi vào Sài Gòn Người mới bắt đầu làm thẻ căn cước. Chúng ta cần cùng suy nghĩ về mối quan hệ của cụ Hồ Tá Bang với công sứ Denier như thế nào? Tuy nhiên, do chưa đủ tư liệu nên chưa thể kết luận mà để ngỏ để tiếp tuc nghiên cứu thêm.

– Tóm lại, tuy về thời gian thầy Thành tới và rời Phan Thiết, có thể còn có người chưa thật tán thành. Điều đó là bình thường vì còn thiếu tài liệu gốc có sức thuyết phục cao. Nhưng chúng ta đều đồng thuận đánh giá ý nghĩa của sự kiện thầy giáo Nguyễn Tất Thành ở trường Dục Thanh rất lớn: là nơi để Nguyễn Tất Thành có thời gian tìm hiểu kỹ tình hình và chuẩn bị thêm vốn kiến thức để vào Sài Gòn, ra đi tìm đường cứu nước, để lại cho trường Dục Thanh nói riêng, tỉnh Bình Thuận nói chung những dấu ấn sâu sắc, tốt đẹp qua nhân cách, con người, lối sống của thầy; để lại cho người dân Bình Thuận biết bao kính yêu và cảm phục đối với người thầy trẻ đầy hoài bão và sau này là vị Chủ tịch nước kính yêu của chúng ta.

3. Quá trình bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị Khu di tích:

Thành tích:

– Khu di tích Dục Thanh được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia theo quyết định số 235/QĐ-BT ngày 12 tháng 12 năm 1986 . Từ đó đến nay, với hơn 20 năm hoạt động, Khu di tích đã đón tiếp hàng triệu lượt khách tham quan cả trong nước và quốc tế, là một công trình văn hoá, nơi thường xuyên tổ chức các lễ dâng hương, dâng hoa tưởng niệm báo công với Bác của mọi tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế đến với tỉnh Bình Thuận.

Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, khai thác phát huy:

– Việc bảo tồn di tích, phát huy giá trị di tích: các hiện vật trưng bày di tích, không gian di tích, giá trị di tích đã được khẳng định, được các thế hệ, tầng lớp nhân dân công nhận hơn 20 năm.

– Cần nghiên cứu mối quan hệ chặt chẽ giữa di tích và nhà trưng bày chi nhánh…để trưng bày và phục vụ nhân dân tốt hơn, để mọi người ngày càng hiểu đầy đủ, chính xác về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Làm sao để nội dung di tích Dục Thanh và nội dung trưng bày chi nhánh là một tổng thể thống nhất. Chú trọng việc phát triển di tích gắn với du lịch.

4. Về bản đề dẫn Hội thảo:

Nội dung đề dẫn do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận và Bảo tàng Hồ Chí Minh chuẩn bị đã cơ bản được các nhà khoa học chấp nhận. Chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, xác minh thêm để bổ sung, sửa chữa, hoàn chỉnh, lấy đó làm nội dung chính trong công tác nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Bảo tàng Hồ Chí Minh-CN Bình Thuận nói riêng và hệ thống các bảo tàng, di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước nói chung. Đây cũng là thành công của Hội thảo này.

Xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, các nhà khoa học, các đồng chí và các bạn.

Xin hẹn gặp lại sang năm tại Pác Bó, Cao Bằng nhân dịp kỷ niêm 70 năm ngày Bác Hồ về nước (28/1/1941-2011).

Theo TS. Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

 

Không bao giờ đánh đổ được huyền thoại Hồ Chí Minh

QĐND – Chủ Nhật, 15/05/2011, 21:8 (GMT+7)

QĐND –  Tổng kết kinh nghiệm “Diễn biến hòa bình” – tiến hành cuộc “chiến tranh không có khói súng” ở nhiều nước XHCN, các thế lực thù địch cho rằng, muốn đánh đổ chế độ xã hội XHCN, thì không chỉ tiến công vào hệ tư tưởng, cường điệu các sai lầm, khuyết tật của Đảng Cộng sản, của cán bộ đảng viên mà còn phải “hạ bệ thần tượng”, đánh đổ “huyền thoại” – những người tiêu biểu nhất cho ý chí cách mạng, khát vọng của nhân dân, trí tuệ của dân tộc, làm sụp đổ tận gốc niềm tin của quần chúng đối với con đường cách mạng do Đảng Cộng sản dẫn dắt.

 Về Chủ tịch Hồ Chí Minh, những kỳ tích của Cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp, đạo đức của Người, đã thật sự là một huyền thoại trong tâm thức của nhân dân ta và bè bạn quốc tế.

Hằng năm, cứ vào dịp Tháng Năm lịch sử, cả dân tộc ta vui mừng tổ chức ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh – người con ưu tú nhất của dân tộc, linh hồn của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX; người khai sinh ra Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; Người đã cùng Đảng ta lãnh đạo nhân dân cả nước làm nên Cuộc cách mạng Tháng Tám lịch sử và chống lại những kẻ thù xâm lược hung bạo nhất thời đại, giành lại độc lập dân tộc, các quyền công dân và quyền con người cho nhân dân ta, mở ra giai đoạn mới cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Cũng trong thời điểm đó, các thế lực thù địch lại dấy lên làn sóng xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp, đạo đức của Người, với tham vọng “đánh đổ huyền thoại Hồ Chí Minh”.

Khác với nhiều năm trước khi các thế lực thù địch thi nhau nói bậy, chửi càn…, năm nay chúng lại cạnh tranh, nói xấu nhau theo kiểu “lục súc tranh công” về các thủ đoạn chống Cộng. Có kẻ nói DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh” do linh mục Nguyễn Hữu Lễ, một thầy tu phá giới và Trần Quốc Bảo, khổ công thực hiện đã không đáp ứng được cái mà chúng  mong đợi, tức là trừ khử được cái huyền thoại về Hồ Chí Minh…  Có kẻ còn cho rằng: DVD là “một thất bại”,  vì đã không đánh đổ được huyền thoại Hồ Chí Minh, trái lại đã “remodel” (làm lại, củng cố) nó, thậm chí DVD “là một kế hoạch rất tinh vi và thâm độc, kín đáo và tài tình trong âm mưu duy trì và củng cố cái ngôi thần tượng Hồ Chí Minh trong lòng người dân Việt Nam và mãi mãi con cháu sau này”…

Việc những kẻ sản xuất ra DVD “Sự thật về Hồ Chí Minh” do Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo tổ chức thực  hiện với nguồn tài chính đáng ngờ thực ra chỉ là những điều nhặt nhạnh, gom góp lặt vặt, hoặc là “những suy luận chủ quan” theo kiểu “suy bụng ta ra bụng người”, hoặc những sự kiện chẳng có liên quan gì đến Hồ Chí Minh “mà chỉ là một sản phẩm chống Hồ Chí Minh, và chống Cộng sản, hoàn toàn vô giá trị” (Trần Chung Ngọc – Hoa Kỳ). Có người còn cho rằng, sản xuất DVD này là một thủ đoạn kiếm tiền một cách khéo léo của Nguyễn Hữu Lễ, Trần Quốc Bảo dựa vào các lực lượng cực hữu trong chính quyền Mỹ và những kẻ vẫn còn giữ hận thù với cách mạng Việt Nam.

Sau đây là một vài ví dụ chúng dẫn ra trong DVD này: Về ngày sinh và ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng cho rằng Bác và những người Cộng sản Việt Nam là những người “không trung thực”. Nhận định đó hoàn toàn không khách quan, thiếu trí tuệ. Cũng như nhiều người, nhất là ở một quốc gia phong kiến, lạc hậu trước đây vì không có giấy khai sinh, không nhớ ngày sinh hoặc vì những lý do khác nhau, Cụ Hồ chọn ngày 19-5 làm ngày sinh của mình là bình thường, không có gì là không trung thực cả. Vì ở đây không có động cơ xấu xa nào. Còn về ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thì hoàn toàn không gắn gì với Người. Về sự kiện này, trước khi có DVD trên một chục năm, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời lúc 9 giờ 47 phút ngày 2-9-1969… Để ngày Bác mất không trùng với ngày vui lớn của dân tộc, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã quyết định công bố Chủ tịch Hồ Chí Minh mất vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 3-9-1969. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) cho rằng, nay cần công bố lại đúng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời”.

Thêm một ví dụ khác, DVD của Nguyễn Hữu Lễ và Trần Quốc Bảo cho rằng: “Hồ bị Chủ nghĩa Mác mê hoặc” (trả lời phỏng vấn của Bùi Tín); “Hồ là tín đồ cuồng tín của chủ nghĩa Cộng sản” (trả lời phỏng vấn của Olivier Todd)… Sự thật thì sao? Như  Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói rằng, Người lựa chọn Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là vì học thuyết đó đã trả lời cho Người câu hỏi phải làm gì và làm  như thế nào để cứu nước và giải phóng dân tộc. Đồng thời, Người sẵn sàng chọn lọc, học hỏi tất cả những tinh hoa trí tuệ của nhân loại, không phân biệt phương Đông hay phương Tây, kể cả những mặt tích cực của tôn giáo nhằm mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Bản Tuyên ngôn Độc lập do Người soạn thảo và Tuyên bố vào ngày mồng 2-9-1945 đã trích Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776; Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789 là một ví dụ. Trong một văn kiện khác, Người nói: Học tập Chủ nghĩa Mác – Lê-nin là “học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người, và đối với bản thân mình,…là để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta”.

Vậy, huyền thoại Hồ Chí Minh là gì? Các thế lực thù địch dù có quỷ quyệt, thâm độc đến đâu cũng không thể đánh đổ được huyền thoại đó, là vì Huyền thoại Hồ Chí Minh là thành quả vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX – là sự nghiệp giành và bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, mở ra con đường  đưa dân tộc ta, Nhà nước ta, xã hội ta tiếp cận với các giá trị của nền văn minh nhân loại trong thời đại ngày nay. Đồng thời, bằng chính sự nghiệp đó dân tộc ta đã góp phần quan trọng mở ra thời đại cách mạng giải phóng cho các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới.

Huyền thoại đó chính là cuộc đời, sự nghiệp, trí tuệ, ý chí, tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh – một tấm gương hiếm có trong các vĩ nhân của nhân loại.  Người đã dành trọn cả cuộc đời mình với những hoạt động cách mạng phong phú, đầy gian nan, nguy hiểm vì dân tộc Việt Nam, vì công cuộc giải phóng các dân tộc thuộc địa và vì nhân loại.

Huyền thoại đó sẽ không bao giờ có thể bị đánh đổ, bởi vì những thành quả của cuộc cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng của Người lãnh đạo đã trở thành một trong những trang lịch sử đẹp nhất, đáng tự hào nhất của dân tộc ta. Huyền thoại đó sẽ không bao giờ có thể mất đi còn bởi vì đạo đức, lối sống của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh văn hóa của dân tộc, là sự hội tụ văn hóa của cả phương Đông và phương Tây. Hơn nữa, đó còn là một dự báo về một nền  “văn hóa của tương lai” của nhân loại../.  

 Bắc Hà

 

Cuốn sách: Vừa đi đường vừa kể chuyện

04-06-2010

 

LADY BORTON

Vừa đi đường vừa kể chuyện của T. Lan là một cuốn tự truyện được Hồ Chí Minh – người sáng lập ra Nhà nước Việt Nam hiện đại, viết. Quyển tiểu sử Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, xuất bản năm 1948 với bút danh Trần Dân Tiên. Trần Dân Tiên không phải là Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh chưa bao giờ dùng bút danh Trần Dân Tiên.

Trong quyển Vừa đi đường vừa kể chuyện, Hồ Chí Minh đã kể lại rất rõ những câu chuyện trong hành trình vất vả của mình nhằm thực hiện Chiến dịch giải phóng Biên giới Việt-Trung vào tháng 9/1950, trong cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam (1945-1954). Hồ Chủ tịch đã lấy bút danh T. Lan, một cán bộ tháp tùng Chủ tịch, và kể lại những câu chuyện về Hồ Chí Minh. Hồ Chủ tịch xuất hiện trong quyển sách như một người “Bác”, danh xưng mà người Việt Nam lần đầu tiên đã dùng thay cho tên gọi Hồ Chí Minh kể từ năm 1945 và đến nay vẫn còn sử dụng.

Hồ Chí Minh viết Vừa đi đường vừa kể chuyện cho những cán bộ và những người Việt Nam bình thường. Lối viết của Người rất giản dị, dễ hiểu. Ở đây, T. Lan đã nêu ra cho các cán bộ thấy được tấm gương về cách lãnh đạo của Hồ Chí Minh. Chúng ta thấy cảnh Hồ Chủ tịch đã vào cửa sau của các trại quân đội để kiểm tra bếp núc và các nhà vệ sinh.

Bìa cuốn sách Vừa đi đường vừa kể chuyện.

Chúng ta cũng thấy được Người đã đi thăm các gia đình và nói chuyện với các tù binh chiến tranh người Pháp. Chúng ta thấy được những tấm gương của Người về cách tiến hành “cuộc huy động thực hành” giữa quần chúng nhân dân. Chúng ta còn thấy được lời chỉ dạy của Người về việc giữ bí mật cách mạng cũng như những lời khuyên trong trường hợp bị bắt giữ.

T. Lan đã trình bày rất chi tiết những mẩu chuyện về cuộc hành trình của Hồ Chí Minh là một nhà hoạt động cách mạng Việt Nam trong bối cảnh của phong trào cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới. Người cũng nêu ra phản kháng của nhân dân Liên Xô chống lại cuộc vây hãm Moskva của quân Đức trong Thế chiến thứ hai và cách người Trung Quốc tổ chức cuộc Cách mạng Trung Quốc năm 1949.

Ngoại trừ Lenin và Bành Phái (Peng Pai), Hồ Chí Minh chỉ đề cập lướt qua các nhà lãnh đạo Liên Xô và Trung Quốc. Thay vào đó, Người nhấn mạnh sự đóng góp của quần chúng nhân dân và tầm quan trọng của lòng yêu nước cũng như sự đoàn kết trong cuộc kháng chiến.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ngồi làm việc ở phía trước túp lều,
nơi ông ở lại quan sát trong Chiến dịch Biên giới năm 1950.

Năm 1961, khi Hồ Chí Minh viết Vừa đi đường vừa kể chuyện, thì John F. Kenedy đã là Tổng thống Mỹ. Các cố vấn Mỹ đã can thiệp rất sâu vào Miền Nam Việt Nam. Hồ Chủ tịch lúc đó đã ngoài bảy mươi. Cuốn sách này ghi lại cuộc hành trình của Hồ Chủ tịch trước đó một thập kỷ và nhấn mạnh đến sự đóng góp của nhân dân vào Chiến dịch Biên giới, giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp, giành được thắng lợi năm 1954.

Dù gì đi nữa, Vừa đi đường vừa kể chuyện là một nỗ lực nhằm kêu gọi từng người Việt Nam tham gia vào phong trào yêu nước thông qua mỗi đề tài của nó – đó là sự kiên trì và nhẫn nại của tập thể cũng như cá nhân nhằm giành được độc lập và thống nhất đất nước.

Bản thảo đầu tiên Bác Hồ viết tay trên một tờ bản tin.

T. Lan không miêu tả thời thơ ấu của Hồ Chủ tịch là con trai của một nhà Nho ở miền Trung Việt Nam, nhưng lại mô tả chuyến đi của Người từ khi là một phụ bếp trên chuyến tàu từ Sài Gòn đến Mác-xây (Marseille) (1911), những kinh nghiệm đầu tiên của Bác ở Pháp (1912), một năm ở Mỹ (1913), hay thời gian ở Anh (1914-1917).

Tác giả không miêu tả những hoạt động chính trị của Hồ Chủ tịch ở Pháp. (Vào năm 1919, Hồ Chí Minh đã gửi một bản yêu sách đến các vị lãnh đạo thế giới, tham dự Hội nghị Paris ở Véc-xây (Versailles); năm 1920, Người là một đồng sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp).

Bác Hồ đánh máy bản thảo thứ hai và nhân viên văn phòng
đánh bản thảo thứ ba, Bác Hồ sửa chữa lại bằng tay.

Tuy nhiên, tác giả T. Lan cũng miêu tả việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 và tổ chức Việt Minh (Việt Nam Độc lập Đồng minh) năm 1941. Việt Minh mở rộng phong trào cách mạng bao gồm cả những nhà yêu nước khác mà họ không phải là đảng viên. Cuốn sách hoàn thành trước cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam và ngày khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay được gọi là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Ấn bản này – là ấn bản bằng tiếng nước ngoài đầu tiên – giữ nguyên bản so với một loạt tờ báo đăng năm 1961 và bản in chính đầu tiên ấn hành năm 1963, khi Hồ Chí Minh còn sống. Ngoài ra, bản dịch cũng sử dụng các tên gọi theo cách viết chính tả hiện đại của Trung Quốc và Việt Nam. Bản in đầu tiên chỉ có một chú thích ở cuối trang được đánh dấu bằng số “1”, nhưng ở đây được chú thích là dấu “*”. Ghi chú cuối sách có bổ sung thêm thông tin.

Bút tích của Bác Hồ.

Bản dịch cũng tuân theo cách ngắt đoạn văn, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép, dấu chấm câu, chữ viết hoa, cũng như các từ, cụm từ, và các dòng thơ in nghiêng. Dấu ngoặc đơn được dùng để chỉ ra vài cụm từ giải thích thêm cho rõ nghĩa.

(Tháng 9 năm 2009)

TRUNG HIẾU
(dịch từ bản tiếng Anh)

 

Mình cũng chẳng thần thánh gì

 (Thứ Sáu, 24/06/2011 – 9:15 AM)

Bác Hồ của chúng ta là một con người vĩ đại, siêu việt nhưng giản dị, gần gũi, thân thuộc với tất cả mọi người. Không có gì thuộc về con người lại không vang vọng sâu xa trong tâm hồn của Bác.

Linh mục Phạm Bá Trực là một người yêu nước, kính chúa. Được may mắn gặp Bác Hồ, do sức cảm hoá và hấp dẫn đặc biệt của Người, cha Trực đã kiên quyết một lòng đi theo cách mạng và tham gia kháng chiến.

Là Phó Trưởng ban Thường trực Quốc hội khoá I (tức Phó Chủ tịch Quốc hội ngày nay), linh mục Phạm Bá Trực được mời tham dự các phiên họp của Hội đồng Chính phủ do Bác chủ trì, nhiều buổi họp khuya, cha thường được ở lại với Bác.

Có một lần, dưới ngọn đèn khuya vàng lợt, cha Trực ngồi yên lặng đôi mắt như dán vào người Bác đang ngồi làm việc, cha cảm thấy Bác như là hiện thân của Chúa, mang đức độ nhân từ, bác ái, vị tha của một bậc thánh. Cha Trực bỗng thốt lên:

– Vous êtees surnature!

Bác mỉm cười phủ nhận:

– Non, nous sommes contre nature!

Ý Bác muốn nói việc Người cũng như cha Trực, hoặc vì phụng sự cách mạng hoặc vì phụng sự Chúa mà quên lập gia đình chỉ là điều phản tự nhiên thôi chứ không có gì thần thánh cả.

Cũng như vậy, có một lần sau phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 25 – 5 – 1948, các thành viên trong Chính phủ ở lại ăn cơm chiều với Bác. Trong những buổi gặp gỡ như vậy, Người thường rất vui, kể chuyện những ngày còn đang bôn ba hải ngoại. Chuyện Tây, chuyện Tàu, chuyện bốn biển, năm châu.v.v… Nhân đà, Bác vui với tất cả các thành viên trong Hội đồng Chính phủ, có người mạnh dạn hỏi:

– Vì sao mà Bác không lập gia đình?

Bác tươi cười trả lời:

– Mình cũng như tất cả mọi người thôi. Nhưng với hoàn cảnh đã qua và hiện nay, còn có điều kiện nào mà nghĩ đến chuyện lập gia đình, không phải vì đạo đức mà là phải chịu đạo đức đó thôi. Nhưng chưa lo được gia đình nhỏ thì ta hãy lo cho gia đình lớn vậy đã.

Nghe Bác nói ai cũng chạnh lòng, ứa lệ về tình thương rộng lớn, mênh mông và cao đẹp của Bác dành trọn đời cho nhân dân mà như cố Nhà thơ Tố Hữu đã khái quát: “Vì giang sơn Bác vứt bỏ gia đình”.

Lên 9 tuổi, Bác bị mồ côi mẹ. Ở với cha đến năm 19 tuổi, Bác giã biệt người cha đã dốc bao công lao cực nhọc nuôi dạy mình, ra đi tìm đường cứu nước. Anh trai mất rồi chị gái mất cũng không có điều kiện chăm lo. Cũng như mọi người, Bác Hồ rất quý trọng tình cảm gia đình, đã là cơ sở bền vững của lòng yêu nước, thương dân. Trên đường đi chiến dịch Biên Giới năm 1950, nhận được tin cụ Khiêm (anh ruột Bác) mất, Bác gửi điện về với những lời thống thiết:

“… Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu, tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu… Than ôi! Tôi chịu tội bất đễ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con hi sinh tình nhà, vì phải lo việc nước”. Ở Bác, những tình cảm lớn, dù sâu sắc, mênh mông đến đâu cũng không che khuất hay át được những tình cảm riêng tư. Bác Hồ của chúng ta cũng phải gắng gỏi vượt lên ngay cả những phút cô đơn.

Chiều Việt Bắc, rừng Chiêm Hóa u buồn, sương mù bao phủ. Gia đình các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng đều ở quanh Bác, nhưng cách nhau đến mấy quả đồi, mấy cánh rừng. Chiều Đông, càng im ắng, càng cô quạnh. Một hôm, bà Trường Chinh dắt con gái nhỏ của mình lên thăm Bác, có ý định để cô bé ở lại với Bác mấy hôm cho Bác đỡ buồn. Lúc đầu, nghe được lên với Bác, cô bé rất thích, vui vẻ hăm hở đi cùng mẹ. Nhưng đến chiều, bà xin phép Bác ra về, cô bé lại đổi ý, khóc đòi về với mẹ.

Không giữ được, Bác tiễn mẹ con bà ra đầu dốc và cứ đứng nhìn theo mãi. Khi Bác quay về, các đồng chí phục vụ thấy đôi mắt Bác long lanh ướt. Bác nói với các đồng chí xung quanh: “Chúng ta, ai cũng đều muốn có một gia đình ấm cúng. Người cách mạng là người giàu tình cảm, mà chính vì giàu tình cảm thì mới đi làm cách mạng, càng làm cách mạng lại càng quý trọng cuộc sống gia đình, chẳng qua vì chưa có điều kiện thuận lợi nên chưa thực hiện được, đành phải chịu đựng mà thôi.

Phạm Thành Nghi
(Sưu tầm và biên soạn)

 

MỘT CHÚT TƯ LIỆU VỀ VIỆC VIẾT VÀ CÔNG BỐ

DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

           

 

Thông báo của Bộ Chính trị về một số vấn đề liên quan
đến di chúc và ngày qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

http://www.vinhuni.edu.vn/Vinhuni/Donvi/DisplayDV/309/0/841/Donvi.htm

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta một bản Di chúc vô cùng quý báu. Di chúc được công bố ngay sau khi Bác qua đời và đã trở thành một nguồn cổ vũ lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến lên giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng tổ quốc, thống nhất đất nước và đưa nước nhà vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Song do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ mà có một số điều chưa được công bố. Nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày Bác qua đời và chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) thấy có trách nhiệm thông báo đến toàn Đảng, toàn dân một số vấn đề liên quan đến Di chúc của Bác và ngày Bác qua đời.

 

1. Về tài liệu gốc Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

– Năm 1965, Bác viết bản Di chúc gồm ba trang, do chính Bác đánh máy, ở cuối đề ngày 15-5-1965. Đây là bản Di chúc hoàn chỉnh, có chữ ký của Bác và bên cạnh có chữ ký của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng hồi bấy giờ.

– Năm 1968, Bác viết bổ sung thêm một số đoạn, gồm 6 trang viết tay.

Trong đó, Bác viết lại đoạn mở đầu và đoạn nói “về việc riêng” đã viết trong bản năm 1965 và viết thêm một số đoạn. Đó là những đoạn nói về những công việc cần làm sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi, như: chỉnh đốn lại Đảng, chăm sóc đời sống của các tầng lớp nhân dân, miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng lại thành phố và làng mạc, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố quốc phòng, chuẩn bị thống nhất đất nước. Trong đó đoạn viết về chỉnh đốn lại Đảng và chăm sóc đối với thương binh, Bác viết rồi lại gạch chéo; đoạn nói về xây dựng lại đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, chuẩn bị thống nhất đất nước, Bác gạch dọc ở bên trái ngoài lề.

– Ngày 10-5-1969, Bác viết lại toàn bộ đoạn mở đầu Di chúc, gồm một trang viết tay.

– Các năm 1966, 1967 Bác không có những bản viết riêng.

 

2. Về bản Di chúc đã được công bố chính thức tháng 9-1969 sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời

 

Hội nghị bất thường của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp chiều ngày 3-9-1969 đã giao cho Bộ Chính trị trách nhiệm công bố Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản Di chúc được công bố chính thức chủ yếu dựa theo bản Bác viết năm 1965, trong đó có một số đoạn được bổ sung hoặc thay thế bằng những đoạn tương ứng Bác viết năm 1968 và năm 1969. Cụ thể cơ cấu của bản Di chúc đã công bố chính thức như sau:

Đoạn mở đầu lấy nguyên văn toàn bộ đoạn mở đầu Bác viết năm 1969, thay cho đoạn mở đầu Bác viết năm 1965. Bút tích của Bác về đoạn này đã được chụp lại và công bố đầy đủ năm 1969.

Phần giữa, từ đoạn nói về Đảng đến hết đoạn nói về phong trào cộng sản thế giới và nguyên văn bản Bác viết năm 1965.

Đoạn “về việc riêng”, năm 1965 Bác dặn dò về việc tang và viết về hỏa táng, dặn để lại một phần tro, xương cho miền Nam; năm 1968, Bác viết lại đoạn này dặn để tro vào ba hộp sành, cho Bắc, Trung, Nam mỗi miền một hộp. Ngoài ra còn viết bổ sung một đoạn nói về cuộc đời của bản thân như sau:

“Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Bản Di chúc đã công bố lấy nguyên văn đoạn Bác viết về bản thân năm 1968, trừ đoạn nói về hỏa táng.

Đoạn cuối, từ chữ “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu…” cho đến hết là nguyên văn đoạn Bác viết năm 1965. Về đoạn này, năm 1968 và năm 1969 Bác không sửa lại hoặc viết thêm.

– Trong bản Di chúc đã công bố, các đoạn đều lấy nguyên văn bản gốc, chỉ có một câu có sửa lại. Bản năm 1965 Bác viết: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa”; bản công bố chính thức sửa lại là: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài”.

 

3. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương (Khóa VI) khẳng định bản Di chúc đã công bố bảo đảm trung thành với bản gốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

– Việc chọn bản Di chúc Bác viết năm 1965 để công bố chính thức là đúng đắn, vì đây là bản duy nhất được viết hoàn chỉnh, có chữ ký của Bác và bên cạnh có chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng lúc bấy giờ.

– Lấy đoạn mở đầu Bác viết năm 1969 thay cho đoạn mở đầu Bác viết năm 1965 là hoàn toàn hợp lý vì Bác qua đời năm 1969, và nội dung bản viết năm 1969 cũng phong phú hơn.

– Đoạn “về việc riêng”, bổ sung thêm phần Bác viết năm 1968 vào bản Bác viết năm 1965 là rất cần thiết, để phản ánh được cuộc đời đẹp đẽ, trong sáng, vì dân vì nước của Bác.

Sở dĩ trước đây chưa công bố đoạn Bác viết về yêu cầu hỏa táng là vì thể theo nguyện vọng và tình cảm của nhân dân, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) thấy cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam, bè bạn quốc tế có điều kiện tới viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Bác. Chính vì lẽ đó mà chúng ta đã xin phép Bác về điểm này được làm khác với lời Bác dặn.

– Việc chưa công bố một số đoạn viết thêm năm 1968 về những việc cần làm sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước giành được thắng lợi hoàn toàn, đó là vì năm 1969 khi Bác qua đời, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước còn đang gay go, ác liệt, chúng ta chưa giành được thắng lợi cuối cùng, nên việc công bố những đoạn văn nói trên lúc ấy là chưa thích hợp.

Mặt khác, có một số câu Bác viết rồi lại xóa, hình như Bác đang cân nhắc, chưa coi là đã xong hẳn, chưa thật rõ ý Bác là thế nào. Vì vậy sau khi Bác qua đời chưa thể đưa vào bản Di chúc công bố chính thức bấy giờ.

– Khi Bác mất, cuộc kháng chiến còn đang diễn ra rất khó khăn và ác liệt, vì vậy Bộ Chính trị đã quyết định sửa lại mấy chữ trong câu sau đây của Bác: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa” thành “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài”.

– Về việc miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp, trước đây chưa có điều kiện thực hiện. Nay mặc dù tình hình kinh tế – xã hội nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) thấy cần có kế hoạch thực hiện điều mong muốn ấy của Bác. Bộ Chính trị giao cho Hội đồng Bộ trưởng trình Quốc hội thực hiện việc này.

Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) dự định đến một thời điểm thích hợp sẽ công bố những điều chưa được công bố trong các bản viết Di chúc của Bác. Nay, nhân dịp chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) quyết định công bố toàn bộ các bản viết Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

 

4. Về ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời lúc 9 giờ 47 phút ngày 2 tháng 9 năm 1969, ngày Quốc khánh của nước ta. Để ngày Bác mất không trùng với ngày vui lớn của cả dân tộc, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã quyết định công bố Chủ tịch Hồ Chí Minh mất vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 3-9-1969. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) cho rằng nay cần công bố lại đúng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời.

Nhân dịp này, Bộ Chính trị yêu cầu các tổ chức đảng, các cán bộ, đảng viên và nhân dân ta căn cứ vào Di chúc của Bác và lời thề thiêng liêng của chúng ta mà đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) thay mặt toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đã hứa với Bác để kiểm tra lại những việc chúng ta đang làm, phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng và những nhiệm vụ công tác trước mắt, tức là làm tốt những điều Bác Hồ đã căn dặn để thỏa lòng mong ước của Bác và xứng đáng với Bác.

Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại!

 

T/M BỘ CHÍNH TRỊ

Tổng Bí thư
Nguyễn Văn Linh

(Theo thông báo số 151-TB/TW ngày 19/8/1989 của Bộ Chính trị)

 

             


 

Di chúc cỦa ChỦ tỊch HỒ CHí Minh viẾt NGÀY 15-5-1965
có chỮ ký cỦa TỔng bí thư Lê DuẨn
:

 

http://cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340579&cn_id=344472 

 

VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
————————-

Tuyệt đối bí mật Nhân dịp mừng 75 tuổi

Người làm thơ rất nổi tiếng, ở Trung Quốc đời nhà Đường là cụ Đỗ Phủ có câu thơ rằng “nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Nghĩa là: Người thọ 70, xưa nay hiếm.

Nǎm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người “xưa nay hiếm”.

Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy năm mấy tháng nữa?

Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Đoàn viên thanh niênta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người,

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

Về phong trào cộng sản thế giới – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

*
* *

Về việc riêng – Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.

Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta được thống nhất, thì nên gửi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam.

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Hà nội, ngày 15 tháng 5 nǎm 1965
Hồ Chí Minh

 

 

 

Di chúc cỦa ChỦ tỊch HỒ CHí Minh
do BỘ CHính trỊ ĐẢng CỘng sẢn ViỆT Nam sỬa chỮa và công bỐ ngày 3-9-1969
:

 

http://cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340579&cn_id=347008

 

VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———————————————–

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thǎm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp nǎm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

*
* *

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.

Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

ĐOÀN KẾT là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN THẾ GIỚI – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý , có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

*
* *

VỀ VIỆC RIÊNG – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

*
* *

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Hà nội, ngày 10 tháng 5 nǎm 1969
Hồ Chí Minh

Trích từ: http://www.viet-studies.info/TuLieuVeDiChuc.htm

Nguồn trích dẫn (0)

Tìm tag: di-chuc, ho-chi-minh, minh-bach, ton-trong

 

Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh

Lời giới thiệu

“Một số vấn đề phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh” là một công trình khoa học ra đời đúng lúc, có giá trị khoa học, có những đề xuất mới đối với môn Hồ Chí Minh học ở nước ta. Công trình bắt đầu từ việc xác định hai khái niệm phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, nói như một nhà phương pháp luận học phương Tây, tác giả cuốn Động thái về nghiên cứu khoa học xã hội (Dynamique de la recherche en sciences sociales) tức là con đường lôgích của sự nghiên cứu mà nhiều người ứng dụng, bao gồm: – Hệ quan điểm vận dụng; – Thao tác luận trong nghiên cứu, tức hệ trình (ordre) về những biện pháp và cách làm cụ thể. Những luận thuyết tác giả đưa ra đều đúng, đã chỉ ra được tiến trình sáng tạo của sự nghiên cứu nhằm đạt được ý đồ khoa học đã được xác định. Từ đó, một ưu điểm thứ hai của công trình là xuất phát từ một đối tượng nghiên cứu đặc biệt, tác giả đã tiến lên một bước rất cần thiết là xác định những nguyên tắc phương pháp luận đặc thù của việc nghiên cứu Hồ Chí Minh. Đây là một vấn đề hoàn toàn mới. Hồ Chí Minh là một nhân vật vĩ đại, đứng về khoa học, có thể nói đó là một đối tượng nghiên cứu mang tính chất tổng thể: tư tưởng, hành động, nhân cách, đời sống riêng, trước tác về chính trị, báo chí, thơ ca, các hoạt động quốc tế,… Như vậy, phải có một phương pháp luận và phương pháp riêng mới nghiên cứu và làm rõ được tính chất kỳ vĩ toàn diện của Hồ Chí Minh. Các tác giả đã thực hiện được điều đó bằng sức suy tư, tìm tòi, tổng kết và đề xuất của mình. Từ những nguyên tắc phương pháp luận đặc thù của việc nghiên cứu, các tác giả đã vận dụng sinh động và nhất quán vào việc tìm hiểu và xác định các phương pháp liên ngành và chuyên ngành trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu tiểu sử, thơ vǎn, ngôn ngữ,… của Hồ Chí Minh được tác giả trình bày khá tỉ mỉ, cụ thể với nhiều dẫn chứng phong phú, có chọn lọc, theo một lôgích khoa học chặt chẽ, có ý nghĩa chỉ dẫn thiết thực đối với những nhà nghiên cứu trẻ mới đi vào chuyên ngành này. Phương pháp luận liên ngành đã được vận dụng với một hiểu biết khá sâu sắc. Với những lý do trên, tôi đánh giá cao công trình này, một công trình chứa đựng nhiều tìm tòi, khám phá mới, có trình độ khái quát cao, một đóng góp rất bổ ích vào việc nghiên cứu Hồ Chí Minh đang được triển khai rộng rãi ở nước ta. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Giáo sư, Viện sĩ. Hoàng Trinh

Lời nói đầu

Trong những nǎm gần đây, công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã không ngừng được mở rộng và phát triển, cả về nội dung nghiên cứu lẫn quy mô nghiên cứu. Từ chức nǎng, nhiệm vụ của một cơ quan, thậm chí của một số ít người chuyên trách, đến nay nó đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Các ngành, các địa phương, các học viện và nhà trường, ít nhiều đã hình thành được những trung tâm nghiên cứu, tổ nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Bộ môn tư tưởng Hồ Chí Minh đã và sẽ được đưa vào giảng dạy trong nhà trường, trước hết là các trường Đảng và trường đại học, nên việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh có triển vọng trở thành một bộ môn khoa học chuyên ngành của khoa học xã hội nước ta. Do đó, cùng với việc đổi mới và nâng cao chất lượng công tác lý luận, việc cải tiến và nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh cũng đang được đặt ra như một yêu cầu cấp bách. Trong mấy chục nǎm qua, thành tựu nghiên cứu về Hồ Chí Minh có thể nói là khá toàn diện và phong phú. ở Việt Nam, có lẽ chưa có một tác giả nào, một nhân vật lịch sử nào lại được giới nghiên cứu trong nước và nước ngoài quan tâm nghiên cứu nhiều như thế, với một khối lượng công trình, luận vǎn, bài báo,… to lớn đến như thế. Trong đó, có không ít những công trình có giá trị, được giới nghiên cứu thừa nhận, nhất là các công trình có tính chất tiểu sử (như các cuốn Hồ Chí Minh của J. Lacouture; Đồng chí Hồ Chí Minh của E. Cabêlép; Hồ Chí Minh với Trung Quốc của Hoàng Tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tiểu sử và sự nghiệp của Viện lịch sử Đảng; Hồ Chí Minh – biên niên tiểu sử của Viện Hồ Chí Minh, v.v.). Về nghiên cứu tư tưởng, đạo đức, phong cách … Hồ Chí Minh, trước hết phải kể đến những tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã viết về Người, như tác phẩm của các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Vǎn Đồng, Nguyễn Vǎn Linh, Đỗ Mười, Võ Nguyên Giáp,… trong đó có những công trình và luận vǎn, tuy công bố đã lâu, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Trong dịp kỷ niệm lần thứ 100 nǎm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là từ sau Đại hội VII của Đảng ta đến nay, việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã được đẩy mạnh, số lượng tác phẩm và bài viết tǎng nhiều lần so với bất cứ thời kỳ nào trước đây. Những kết quả được công bố đã góp phần làm rõ thêm khái niệm và hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, giúp cho toàn Đảng, toàn dân có thêm tài liệu nghiên cứu, học tập để vận dụng tư tưởng của Người vào sự nghiệp đổi mới cũng như vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mặc dù khẳng định những thành tựu đã qua là to lớn, nhưng điều dễ nhất trí là những gì chúng ta làm được cũng mới chỉ là bước đầu, còn rất nhỏ bé so với tầm vóc của Hồ Chí Minh, so với mong đợi của nhân dân và bạn bè trên thế giới, so với yêu cầu về công tác tư tưởng và lý luận của Đảng ta. Nhược điểm dễ thấy nhất là chất lượng nghiên cứu khoa học về Hồ Chí Minh chưa cao, còn ít những công trình chuyên khảo có giá trị tổng kết về mặt lý luận, đưa ra được những dự án lý thuyết, đóng góp vào việc hoạch định và lựa chọn những giải pháp kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước. Một số công trình và bài viết vẫn chưa vượt lên được trình độ chung đã có, chưa hoàn toàn khắc phục được những biểu hiện của chủ nghĩa sơ lược, chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩa kinh nghiệm,… Do đó, tính khoa học, tính thuyết phục trong nghiên cứu chưa cao, chưa sâu, chưa thực đủ hấp dẫn đối với người đọc. Để cải tiến và nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh, có nhiều vấn đề phải bàn, song trước mắt, có hai vấn đề cấp bách cần giải quyết: 1. Đổi mới công tác tư liệu về Hồ Chí Minh Công tác này bao gồm công tác sưu tầm, bổ sung, xác minh và xã hội hoá hệ thống tư liệu đã có. Muốn nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh trên phạm vi toàn xã hội, trước hết phải xây dựng được một hệ thống tư liệu đầy đủ, chính xác, đã qua xử lý khoa học và đến tay được đông đủ nhà nghiên cứu. (Bộ Hồ Chí Minh – toàn tập và bộ Hồ Chí Minh – Biên niên tiểu sử đã đáp ứng phần nào yêu cầu trên). Tuy nhiên, hiện còn một bộ phận quan trọng tư liệu về Hồ Chí Minh vẫn chưa được sưu tầm và khai thác đầy đủ. Do đó, muốn cải tiến và nâng cao chất lượng nghiên cứu về Hồ Chí Minh thì một trong những công việc quan trọng đầu tiên là phải sưu tầm và khai thác được đầy đủ hệ thống tư liệu chính xác, bảo đảm tính khoa học và tính thuyết phục cao. 2. Xác lập những nguyên tắc phương pháp luận, cải tiến và đổi mới phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh 2.1. Lâu nay, các nhà khoa học từ các chuyên ngành khác nhau tham gia vào việc nghiên cứu Hồ Chí Minh, chủ yếu vận dụng kinh nghiệm phương pháp luận của chuyên ngành mình hoặc bước đầu tiến lên sử dụng phương pháp liên ngành ở một mức độ nào đó. Cách làm này đã đem lại những kết quả nhất định. Những thành tựu trong công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh đang góp phần hình thành một bộ môn khoa học chuyên ngành, nó có đối tượng nghiên cứu riêng nên cần có phương pháp nghiên cứu thích hợp với đối tượng ấy, dưới sự chỉ đạo của những nguyên tắc phương pháp luận mang tính đặc thù của bộ môn. Vì vậy, đã đến lúc cần sớm làm rõ những vấn đề mà thực tiễn nghiên cứu đang đặt ra: Một là, những nguyên tắc phương pháp luận chung chỉ đạo việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh là gì? Hai là, có hay không có những nguyên tắc mang tính đặc thù của chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh học? Ba là, cần phân biệt các khái niệm sau đây để tránh lầm lẫn trong nghiên cứu: – Phương pháp luận của Hồ Chí Minh (của bản thân đối tượng nghiên cứu). Cơ sở phương pháp luận chung của chúng ta là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Vậy xây dựng những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo việc nghiên cứu Hồ Chí Minh cũng cần phải xuất phát từ chính phương pháp luận của Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề cần được nghiên cứu thấu đáo. – Phương pháp hệ (metthodicat) nghiên cứu về Hồ Chí Minh nên gồm những phương pháp nào để chẳng những kết quả nghiên cứu phải hiện thực mà phương pháp nghiên cứu, con đường dẫn đến kết quả đó, cũng phải hiện thực. Nghĩa là trong nhiều phương pháp hiện có, cần lựa chọn những phương pháp nào được coi là thích hợp và có hiệu quả nhất. – Phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh như là những nguyên tắc lý thuyết có ý nghĩa chỉ đạo chuyên ngành Hồ Chí Minh học. Các khái niệm này hiện nay chưa được làm rõ và sử dụng thống nhất trong nghiên cứu. Bốn là, nếu đối tượng nghiên cứu quyết định phương pháp nghiên cứu, thì công việc trước hết của giới nghiên cứu là phải khám phá đầy đủ, chính xác đối tượng nghiên cứu – ở đây là Hồ Chí Minh – tức là phải tìm hiểu và làm rõ: bản chất, đặc điểm của con người, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh là gì ? Vấn đề này mấy nǎm qua giới nghiên cứu đã có nhiều cố gắng nhưng đến nay vẫn chưa được lý giải thoả đáng. 2.2. Cần cải tiến và đổi mới phương pháp nghiên cứu để có được hiệu quả cao. Chung quanh vấn đề này hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau: Có ý kiến cho rằng, các phương pháp cũ vẫn cần được khai thác và vận dụng cho tốt hơn, nhưng muốn đạt chất lượng mới, cần có sự đổi mới về phương pháp nghiên cứu. Có đúng như vậy không ? Đổi mới trên cơ sở nào, theo phương hướng nào ? Có thể tiếp thu những kinh nghiệm gì của khoa học nghiên cứu về các vĩ nhân trên thế giới ? Thí dụ, sự ra đời của một vĩ nhân như Hồ Chí Minh, theo chúng ta vẫn quan niệm, là một tất yếu lịch sử, nếu không có Hồ Chí Minh thì nhất định sẽ có một người khác, nhanh hay chậm, “thích hợp ít hay nhiều, nhưng cuối cùng cũng xuất hiện”, như Mác nói. Như vậy, trong cùng một điều kiện lịch sử, trên đất Nghệ – Tĩnh, khả nǎng “Nam Đàn sinh thánh” không phải chỉ có một người, nhưng cuối cùng vĩ nhân đó lại chính là Hồ Chí Minh, chứ không phải là một người nào khác; điều đó đòi hỏi chúng ta phải lý giải một cách cụ thể đủ sức thuyết phục. Lại có ý kiến cho rằng, lâu nay ta nghiên cứu vĩ nhân mới chủ yếu tiếp cận từ quan điểm giai cấp, từ những nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử, điều đó hoàn toàn đúng nhưng chưa đủ. Con người không chỉ là sự tổng hoà của các quan hệ với tự nhiên nữa. Trong nghiên cứu, ta thường mới chú trọng con người xã hội mà xem nhẹ con người tự nhiên, coi trọng con người công dân mà xem nhẹ con người cá thể, đề cao con người hành động mà bỏ qua con người tâm linh,… Nếu chỉ như thế, thì vẫn chưa hiểu được Hồ Chí Minh, một người cộng sản phương Đông. Thí dụ, chúng ta đều biết Hồ Chí Minh có nhiều dự báo đã được lịch sử chứng nghiệm là đúng. Lý giải rằng, đó là kết quả của việc Người đã nắm bắt được quy luật phát triển của lịch sử kết hợp với một vốn tri thức khoa học phong phú của thời đại nên đã dự kiến được bước đi của tương lai,… Điều đó là hoàn toàn đúng. Nhưng diễn biến cụ thể của lịch sử vốn ngoắt ngoéo và đầy bất ngờ. Chẳng hạn, trong khi các nguyên thủ của phe Đồng Minh tại Hội nghị Têhêrǎng nǎm 1943 dự kiến rằng, phải đến nǎm 1946 mới có khả nǎng đánh bại được lực lượng phát xít, kết thúc chiến tranh, thì Hồ Chí Minh tại Pác Bó nǎm 1941 đã viết: 1945 Việt Nam độc lập! Và lịch sử đã diễn ra đúng như vậy. Vì vậy, có người đề nghị: trên cơ sở nắm vững những nguyên tắc và phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, nên chǎng có thể tham khảo và vận dụng có mức độ các phương pháp như các phương pháp trực cảm, trực giác, phương pháp thông hiểu (comprehention), v.v. Theo chúng tôi nghĩ, vấn đề không phải là được phép hay không được phép sử dụng phương pháp nào với ý nghĩa là một công cụ nghiên cứu, mà cái chính là sử dụng như thế nào, với giới hạn nào để đạt được chân lý khoa học, mà không rơi vào duy tâm, thần bí. Lại có ý kiến khác cho rằng, trong nghiên cứu Hồ Chí Minh, tác phẩm và vǎn bản là cần, nhưng không phải là cái quan trọng nhất, mà điều quan trọng hơn là phải tìm hiểu xem tư tưởng của Người đã đi vào thực tiễn như thế nào, đã xâm nhập vào quần chúng, đã tỏ sức mạnh vĩ đại trong cuộc sống ra sao, có thể mới đánh giá được hết những cống hiến, giá trị, tác dụng của tư tưởng của Người đối với dân tộc. Đây là một vấn đề thuộc quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu, đánh giá tư tưởng – đạo đức Hồ Chí Minh khi đi vào quần chúng, đã trở thành niềm tin, hy vọng, thành sức mạnh vượt qua đầu thù như thế nào ? ở hình thái dân dã, nhiều thế hệ người Việt Nam trước đây và hiện nay vẫn tôn thờ Hồ Chí Minh như một vị thánh. Càng trong hoàn cảnh khó khǎn, gian khổ, trong tra tấn tù đày,… đồng bào và chiến sĩ ta càng hướng về Bác Hồ, tìm thấy ở Người một sự tiếp sức kỳ diệu. Có thể nói, Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ cộng sản hiện đại duy nhất đã được huyền thoại hoá ngay từ khi đang còn sống. Từ lúc trẻ ngay ở Pháp, khi chưa có tên tuổi sự nghiệp gì lớn, các đồng chí cùng hoạt động với Nguyễn ái Quốc ở Pari, qua ánh mắt sáng rực, khuôn mặt thanh khiết, nếp sống khổ hạnh của Nguyễn ái Quốc, đã nghĩ rằng đó là một nhà cách mạng khác thường. Rồi bọn mật thám Pháp, qua các báo cáo theo dõi và nhận xét của chúng, cũng đã đóng góp vào việc huyền thoại hoá con người “có khả nǎng cắm cây thập tự cáo chung lên nền thống trị của Pháp ở Đông Dương”. Còn nhân dân Việt Nam và thế hệ thanh niên yêu nước ở những thập niên đầu thế kỷ XX đã biết đến Nguyễn ái Quốc qua lời giảng của Cụ Phan về một số câu sấm truyền. Đặc biệt là trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thì hình ảnh Hồ Chí Minh đã đem lại sức mạnh trong lòng đồng bào, chiến sĩ, đặc biệt là với các chiến sĩ tử tù nơi Côn Đảo. Không phải chỉ chúng ta mà nhiều bạn bè quốc tế đã thừa nhận Hồ Chí Minh là một nhân vật huyền thoại, một vị thánh của cách mạng. ở đây ta không bàn đến nguyên nhân, điều kiện xuất hiện của hiện tượng này, nhưng đó là một hiện tượng có thực. Giải hiện tượng huyền thoại hoá này để nhận chân con người, tư tưởng, nhân cách vǎn hoá Hồ Chí Minh như thế nào ? Giữa con người lịch sử – hiện thực và con người tượng trưng (symbol), chung đúc trong đó cả khát vọng, lương tâm, vinh dự của một dân tộc, phần nào là thực, phần nào là màu sắc lung linh của huyền thoại ? Trên đây chỉ là một số trong rất nhiều vấn đề đang được giới nghiên cứu đặt ra chung quanh vấn đề phương pháp luận nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của các khoa học xã hội và nhân vǎn, khoa học về các phương pháp nghiên cứu cũng đạt được những thành tựu mới ngày càng phong phú. Chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh đang hình thành, vì vậy phương pháp luận nghiên cứu của nó cũng chỉ có thể từng bước hoàn thiện cùng với sự phát triển của môn học. Vì là một đề tài rất lớn và khó, nên chuyên đề này không có tham vọng đặt ra và giải quyết toàn bộ những vấn đề đang nảy sinh trong thực tiễn nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Do khả nǎng và trình độ có hạn của các tác giả, chuyên đề này tự hạn chế ở mấy mục tiêu sau đây: Về lý luận, nghiên cứu để bước đầu xác lập những nguyên tắc phương pháp luận chung, các phương pháp liên ngành và chuyên ngành,… nhằm sơ bộ tìm ra một hệ phương pháp nghiên cứu thích hợp cho chuyên ngành Hồ Chí Minh học ở Việt Nam, từng bước đưa sự nghiệp nghiên cứu Hồ Chí Minh lên thành một bộ môn khoa học, khắc phục dần những nhược điểm và hạn chế hiện nay. Về thực tiễn, từ kết quả nghiên cứu về phương pháp, đưa ra những kiến nghị khôi phục lại tính chân thực lịch sử của trước tác Hồ Chí Minh, kiến nghị thử nghiệm và vận dụng tư tưởng, phương pháp Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đổi mới của đất nước. Kết quả của công trình sẽ là một tài liệu đóng góp vào việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ đi vào chuyên ngành nghiên cứu Hồ Chí Minh, mở rộng đội ngũ, chuẩn bị cho việc triển khai các đề tài nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở các giai đoạn sau.

Phần thứ nhất MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VỀ HỒ CHÍ MINH Chương I Một số vấn đề lý luận chung về phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu

Nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh là nghiên cứu tư tưởng, cuộc đời, sự nghiệp của Người nhằm làm sáng tỏ những cống hiến to lớn và ảnh hưởng sâu rộng của Người đối với dân tộc và đối với thế giới. Có tư tưởng Hồ Chí Minh xét về mặt lý luận mà nội dung cốt lõi, chỗ kết tinh và toả sáng của tư tưởng đó là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Có thời đại Hồ Chí Minh mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử Việt Nam xét về mặt thực tiễn. Đó là thời đại phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam cùng với ảnh hưởng của nó đối với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đối với hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là trọng điểm nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Đây cũng là nội dung và phương hướng chủ đạo trong nghiên cứu chuyên ngành. Nó đặt nền móng cho sự ra đời bộ môn Hồ Chí Minh học với tư cách là một khoa học độc lập, nằm trong hệ thống các môn khoa học xã hội và nhân vǎn ở nước ta. Muốn xây dựng hệ thống lý luận và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành để có thể sử dụng chúng một cách thành thạo, như những công cụ và những thao tác nghiên cứu, nhằm thúc đẩy việc nghiên cứu đối với môn khoa học còn rất mới mẻ nhưng đầy triển vọng này, cần thiết phải bắt đầu từ những vấn đề chung sẽ được trình bày dưới đây. I. Mối quan hệ giữa lý luận, phương pháp và phương pháp luận Lý luận (teorija), phương pháp (metod) và phương pháp luận (metodologija) là những khái niệm khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Chúng thống nhất nhưng không đồng nhất. 1. Lý luận (hay lý thuyết) theo chữ Hy Lạp: theoria, theorein – có nghĩa là quan sát, khảo sát, nghiên cứu. Lý luận là hệ thống các luận điểm gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt lôgích, phản ánh bản chất, quy luật vận động và phát triển của khách thể được nghiên cứu. Điểm xuất phát của lý luận là thực tiễn. Những kết quả nghiên cứu dưới dạng khái quát hoá và trừu tượng hoá khoa học, sử dụng các khái niệm, phạm trù khoa học để xác lập hệ thống luận điểm và nguyên lý là để biểu thị bản chất, quy luật của đối tượng. Nó chỉ được coi là lý luận và trở thành lý luận nếu qua sự kiểm tra, đối chiếu trong thực tiễn nó tỏ ra phù hợp với thực tiễn. Lý luận, xét theo cách thức sản sinh ra nó, là sản phẩm của tư duy trừu tượng, là kết quả của những nỗ lực chủ quan của người nghiên cứu. Nǎng lực lý luận ở người có trình độ tư duy lý luận cao thống nhất ở hai mặt mâu thuẫn sau đây: Một mặt, nó không bám chắc vào thực tiễn cụ thể, sinh động, đứng vững trên mảnh đất hiện thực – ở đó có đối tượng, có khách thể nghiên cứu của mình để tiến hành mọi hoạt động nghiên cứu theo quan điểm thực tiễn và nhất quán với quan điểm thực tiễn. Đó là bảo đảm duy nhất chắc chắn cho lý luận được sinh ra một cách chân thực, khách quan, sống động, không rơi vào tình trạng tư biện, tính chất kinh viện, bệnh chủ quan và giáo điều. Mặt khác, nó có khả nǎng bứt ra, tách khỏi cái cụ thể ban đầu, vượt lên trên giới hạn của cái kinh nghiệm để hình thành lý luận, dùng lý luận như là công cụ để nhận thức, khám phá đối tượng ở phía bản chất vốn ẩn giấu bên trong, đằng sau các hiện tượng. Đây là khả nǎng phát hiện và sáng tạo của tư duy lý luận, là ưu thế riêng có của lý luận. Thực tiễn làm phát sinh lý luận. Gắn bó và bám sát thực tiễn sẽ làm cho lý luận phải vượt lên để khỏi bị lạc hậu, đồng thời nhờ thực tiễn mách bảo, gợi ý, thúc đẩy mà lý luận có được khả nǎng vượt trước để dẫn đường. Không có thực tiễn thì không có nội dung của lý luận. Nhưng không có tư duy lý luận và hoạt động nghiên cứu lý luận bởi sự nỗ lực của chủ thể thì lý luận cũng không thể hình thành, không thể “lý luận hoá thực tiễn” và “thực tiễn hoá lý luận” được. Thấu hiểu sự thống nhất và vai trò của lý luận cũng như của thực tiễn, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý tới luận điểm của Lênin: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Người còn khẳng định rằng: Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cǎn bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, rằng, lý luận không gắn liền với thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn không có lý luận là thực tiễn mù quáng. Lý luận không tồn tại dưới dạng những luận điểm riêng lẻ, rời rạc mà là một hệ thống chặt chẽ, có trật tự lôgích của các luận điểm đó. Tính hệ thống là một đặc trưng nổi bật của lý luận, là yêu cầu của tư duy lý luận. Tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống là một đặc trưng nổi bật của lý luận, là yêu cầu của tư duy lý luận. Tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống trong nghiên cứu khoa học xuất phát từ đòi hỏi đó. Là một hệ thống, lý luận còn được xem xét về mặt kết cấu. Nó bao gồm nhiều thành tố khác nhau nhưng quan trọng nhất là ba thành tố sau đây: Thứ nhất, các sự kiện khoa học đã tích luỹ được, kể cả nghiên cứu thực nghiệm. Thứ hai, tập hợp các quy tắc, suy lý lôgích và chứng minh được chấp nhận trong khuôn khổ của lý luận. Thứ ba, tập hợp các khái niệm, các nguyên lý cơ bản cùng các quy luật, định lý, các khẳng định, các hệ quả được suy ra từ cǎn cứ thực nghiệm, và từ các khái niệm, các nguyên lý cơ bản ấy bằng con đường suy lý lôgích và chứng minh tương ứng. Mỗi khoa học có lý luận và cơ sở lý luận riêng của nó. Vì vậy môn Hồ Chí Minh học muốn trở thành một bộ môn khoa học độc lập trước hết nó phải xây dựng được cơ sở lý thuyết về đối tượng nghiên cứu của mình. Để nghiên cứu về Hồ Chí Minh trước hết phải xây dưng được lý thuyết về đối tượng nghiên cứu của bộ môn; đó là toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách, lối sống, v.v. của Hồ Chí Minh. Lý thuyết đó bao gồm: – Hệ thống sự kiện có tính quy luật về đối tượng, nghĩa là nó phải phổ biến chứ không đơn nhất, phải phản ánh được bản chất chứ không phải hiện tượng bề ngoài, cái ngẫu nhiên phải là sự biểu hiện của cái tất nhiên. Đó là những sự kiện chính xác, đã qua giám định, xác minh khoa học về các giai đoạn của cuộc đời, hoạt động, trước tác của Hồ Chí Minh từ khi sinh ra đến khi từ biệt thế giới này. Những sự kiện đó được đặt trong mối quan hệ tương tác với quê hương, gia đình, dân tộc, thời đại,… Trong cuộc đời 79 mùa xuân của Hồ Chí Minh, có hơn 30 nǎm Người sống và hoạt động ở nước ngoài, lại đi vào huyền thoại từ rất sớm, ngay từ khi còn sống. Vì vậy, xác lập hệ thống sự kiện có tính quy luật về khách thể nghiên cứu ở đây quả là không đơn giản. – Những kết quả nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã đạt được trong mấy chục nǎm qua ở trong nước và nước ngoài, những nhận định, đánh giá chính thức của Đảng và Nhà nước ta về Hồ Chí Minh, những suy lý hợp lôgích của các nhà khoa học đã được khảo nghiệm qua thực tế, có thể chấp nhận được. – Hệ thống khái niệm, phạm trù như là công cụ, phương tiện của bộ môn để chiếm lĩnh đối tượng, cần sớm được làm rõ và chính xác hóa. Hệ thống khái niệm, phạm trù đó có thể ngày càng được mở rộng cùng với việc mở rộng các lĩnh vực nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, các khái niệm cơ bản phải sớm được trao đổi, đi tới nhất trí, làm định hướng cho nội dung và phương pháp nghiên cứu của bộ môn. Thí dụ: tư tưởng Hồ Chí Minh là gì ? (Tư tưởng hay học thuyết, chủ nghĩa ?). Tư tưởng Hồ Chí Minh có phải bao gồm những phạm trù: tư tưởng nhân vǎn, tư tưởng chính trị, tư tưởng kinh tế, tư tưởng quân sự, tư tưởng vǎn hoá, tư tưởng đạo đức,…? Đạo đức Hồ Chí Minh là gì ? Rồi phương pháp Hồ Chí Minh, phong cách Hồ Chí Minh, v.v.. Tóm lại, có xây dựng được hệ thống lý thuyết về đối tượng nghiên cứu – ở đây là Chủ tịch Hồ Chí Minh – mới có thể từ đó bàn tiếp về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh, bởi phương pháp hình thành từ lý luận; lý luận nào phương pháp ấy. 2. Phương pháp được hiểu là cách thức đề cập tới hiện thực, cách thức nghiên cứu các hiện tượng của tự nhiên và của xã hội. Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn xuất phát từ các quy luật vận động của khách thể được nhận thức. Như vậy, phương pháp là sự thống nhất giữa chủ quan và khách quan, nó không phải là phạm trù thuần tuý chủ quan do lý trí đặt ra mà xuất phát từ những quy luật vận động của khách thể đã được con người nhận thức. Cần chú ý là, bản thân các quy luật vận động của khách thể mới chỉ là cơ sở của phương pháp. Cơ sở lý luận trực tiếp của phương pháp không phải là các quy luật vận động của khách thể này mà là những quy luật đã được nhận thức, được diễn đạt thành lý luận. Do đó, lý luận là hạt nhân của phương pháp, là cái lõi mà từ đó hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh tạo nên nội dung của phương pháp được xây dựng. Tóm lại, phương pháp có nội dung sâu sắc. Nó bị quy định bởi đặc điểm, bản chất của khách thể đồng thời con người là chủ thể sáng tạo ra phương pháp. Cũng chính con người sử dụng phương pháp, mang nó vào hoạt động thực tiễn, dùng nó như một công cụ, một phương tiện để tác động vài đối tượng nhằm đạt tới mục tiêu hoạt động của mình. Nhờ có lý luận khoa học dẫn dắt mà hoạt động của con người trở nên tự giác chứ không mù quáng. Cũng nhờ có phương pháp gắn liền với lý luận mà con người tránh được những mò mẫm, tự phát và đạt được hiệu quả trong hoạt động. Cũng tồn tại như nhau trong môi trường tự nhiên nhưng con vật lệ thuộc tuyệt đối vào tự nhiên và bị bản nǎng, tập tính loài chi phối. Trong khi đó, con người chỉ lệ thuộc vào tự nhiên một cách tương đối. Nó vừa lấy cái có sẵn trong tự nhiên vừa nhào nặn, biến đổi tự nhiên, làm thêm ra và đem vào trong tự nhiên cái mà tự nhiên không có, như Mác nói, “Tự nhiên là thân thể vô cơ của con người” và con người còn “sáng tạo tạo ra một tự nhiên thứ hai như là tác phẩm nghệ thuật của chính mình”. Đó là quá trình nhân loại hoá tự nhiên bởi con người, do có ý thức chi phối bản nǎng. “Con người là một cây sậy trong tự nhiên nhưng là cây sậy có trí tuệ”. Trong định đề ấy của Pãtcan, trí tuệ là cái làm nên sức mạnh bản chất con người, nhờ nó, con người sản xuất ra lý luận, tư tưởng, đồng thời với sản xuất ra phương pháp. Như vậy, cũng như lý luận, phương pháp thuộc về nội dung khoa học, nó cũng ở cấp độ lý luận – tư tưởng chứ không phải là hình thức, là cái vỏ thuần tuý để biểu đạt tư tưởng. Phương pháp được xây dựng nên từ trình độ của lý luận chứ không phải bằng kinh nghiệm dù cho sự tích luỹ kinh nghiệm có một vai trò quan trọng to lớn trong sự hình thành phương pháp. Không có lý luận thì không có phương pháp khoa học. Cũng như vậy, kinh nghiệm phải được tổng kết một cách có lý luận, ở trình độ khoa học, được lý luân hoá mới tham dự vào sự hình thành phương pháp. Sự khéo léo, thuần thục do thói quen và kinh nghiệm tạo ra có thể mang ý nghĩa như những phương pháp , song nó thường chỉ dừng lại ở mức độ là những thao tác kỹ thuật thực hành và phạm vi của nó thường là hạn chế trong những tình huống, những giải pháp cụ thể, khó có thể vươn tới tính khái quát – phổ biến. Chỉ có vũ trang bằng lý luân, dựa trên một cơ sở lý luận vững chắc thì phương pháp mới trở thành phương pháp khoa học. Hệ thống các phương pháp là đa dạng, tuỳ theo sự phân loại khoa học; có những phương pháp riêng áp dụng tr