Nhìn nhận của Hồ Chí Minh về Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa Tam DânNgày đăng tin : 6/5/2012 12:00:00 AMMặc dù không cùng ý thức hệ tư tưởng, nhưng giữa “Tôn Trung Sơn và Hồ Chí Minh lại có mối đồng cảm lịch sử và thời đại sâu sắc”(1). Nghiên cứu quá trình hoạt động cách mạng và tư tưởng của Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ nhận thấy dấu ấn tương đối sâu đậm của Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa tam dân. Học giả Đặng Thanh Tịnh đã khẳng định: “Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ảnh hưởng sâu sắc nhất trong các nhà cách mạng dân chủ tư sản đối với Người đó chính là Tôn Trung Sơn. Trong các bài viết và lời kể của các nhà lão thành cách mạng Việt Nam không chỉ một lần nói về Hồ Chí Minh đã nghiên cứu chủ nghĩa tam dân và có tình cảm sâu sắc với Tôn Trung Sơn” (2). Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết trong Hồ Chí Minh – Lãnh tụ của chúng ta rằng: “Lâu nhất trong đời hoạt động hải ngoại của Người, Hồ Chủ tịch ở Trung Quốc có cảm tình nồng nàn với Tôn Văn, với cách mạng và nhân dân Trung Quốc” (3). Còn Trần Dân Tiên thì nhận xét: “Ông Nguyễn để hết tâm lực nghiên cứu chính trị Trung Quốc. Ba nguyên tắc của bác sĩ Tôn Dật Tiên: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, vừa nghiên cứu vừa làm việc để sống” (4).

Tuy vậy, nhiều công trình viết về tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh chưa đánh giá về vấn đề này một cách đầy đủ. Giới Sử học đã có một số bài viết nhưng cũng chỉ có tính chất gợi mở (5). Trên cơ sở nguồn tư liệu (Việt và Trung) và kế thừa kết quả đi trước, chúng tôi cố gắng trình bày tỉ mỉ vấn đề này. Song, vì khuôn khổ bài báo nên ở đây chúng tôi chỉ tóm tắt những ý chính qua 4 giai đoạn sau:

1. Từ Cách mạng Tân Hợi đến Quốc – Cộng hợp tác: Hồ Chí Minh bước đầu để ý đến cách mạng của Tôn Trung Sơn

Ngày 5/6/1911, Nguyễn Ái Quốc rời Tổ quốc Việt Nam ra đi tìm đường cứu nước. Mục tiêu đầu tiên mà Người hướng đến chính là nước Pháp để tìm hiểu bản chất của những từ “tự do, bình đẳng, bác ái”. Bốn tháng sau, khi cách mạng Tân Hợi nổ ra thì Người đang ở Pháp, sau đó sang Mỹ, đến Anh, rồi trở lại Pháp. Mặc dù cách mạng do Tôn Trung Sơn lãnh đạo tác động đến phong trào cách mạng châu Á, đặc biệt là Việt Nam, nhưng mãiĐến đầu những năm 20 mới có một ít tờ báo xuất bản ở Trung Quốc lọt đến Paris theo chân những người du học và sinh sống ở đây… Có lẽ nhờ đó mà Nguyễn Ái Quốc biết được những gì đang diễn ra trên đất Trung Quốc đầu thập kỷ 20 của thế kỷ XX, đặc biệt là hoạt động của Chính phủ cách mạng Quảng Châu và những tư tưởng cách mạng của Tôn Trung Sơn” (6).

Hồ Chí Minh biết đến cách mạng của Tôn Trung Sơn sau khi đã lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Dấu vết sớm nhất về những tư tưởng đẹp đẽ của Tôn Trung Sơn trong di sản của Hồ Chí Minh, có lẽ là trong những bài viết của Người đầu năm 1921 khi còn hoạt động ở Paris chứa đựng thiện cảm to lớn của Người đối với cuộc cách mạng dân tộc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo và đặc biệt trong đó chứa đựng sự dự báo về khả năng phát triển của cuộc cách mạng này (7). Đó là hai bài đăng trên Tạp chí La Revue Communiste, số 14 và 15, tháng 4 và 5/1921. Trong đó Người đã viết: “Dù đầu độc có hệ thống, bọn tư bản thực dân cũng không thể làm tê liệt sức sống, càng không thể làm tê liệt tư tưởng cách mạng của người Đông Dương. Luồng gió từ nước Nga thợ thuyền, từ Trung Quốc cách mạng hoặc từ Ấn Độ chiến đấu đang thổi đến giải độc cho người Đông Dương” (8)“Trung Quốc, trước kia và hiện nay vẫn là con bò sữa của tư bản Âu – Mỹ. Nhưng sự thành lập chính quyền của nhà cách mạng Tôn Dật Tiên ở phía Nam đã hứa hẹn với chúng ta một nước Trung Hoa được tổ chức lại và vô sản hoá. Có thể hy vọng một cách không quá đáng rằng, trong một tương lai gần đây, hai chị em – nước Trung Hoa mới và nước Nga công nhân sẽ nắm tay nhau trong tình hữu nghị để tiến lên vì lợi ích của nền dân chủ và nhân đạo” (9). Đó là một dự báo chính xác về sự liên minh giữa cách mạng của Tôn Trung Sơn với cách mạng của Lênin trong một tương lai gần. Tiên đoán đó đã trở thành hiện thực – khi mà từ cuối năm 1923, Chính phủ Quảng Châu và nước Nga XôViết xích lại gần nhau, rồi từ tháng 1/1924, Tôn Trung Sơn cải tổ Quốc dân Đảng, giải thích mới về chủ nghĩa tam dân, tạo cơ sở cho Quốc – Cộng hợp tác lần thứ nhất, thúc đẩy phong trào cách mạng Trung Quốc phát triển lên một bước.

Tiếp đó, Người viết nhiều bài như: Chính sách thực dân Anh (Báo La Vie Ouvrière, ngày 9/11/1923); Tình hình ở Trung Quốc (Báo L’ Humanité, ngày 4/12/1923); Tình cảnh nông dân Trung Quốc (Báo La Vie Ouvrière, ngày 4/1/1924); Các nước đế quốc chủ nghĩa và Trung Quốc (Tập san Inprekorr, số 67, ngày 24/9/1924)… Trong đó khẳng định: “Bọn đế quốc nhằm hai mục đích: trước hết, giành thêm những nhượng bộ mới, sau nữa tôi cho rằng đây là điều chủ yếu – lật đổ Tôn Dật Tiên. ...Tôn Dật Tiên – người cha của cách mạng Trung Quốc, người đứng đầu chính phủ Quảng Châu thì luôn luôn trung thành với những nguyên lý của mình, ngay cả trong những lúc khó khăn nhất. Cương lĩnh của đảng ông – Quốc dân Đảng là một cương lĩnh cải cách… gồm những điều khoản chống đế quốc và chống quân phiệt một cách rõ ràng. Đảng đó lớn tiếng đoàn kết với các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địavà với giai cấp vô sản quốc tế… Chính vì thế mà ngày nay, người ta tìm cách thanh toán Tôn Dật Tiên và đảng của ông cũng giống như trước đây người ta tìm cách bóp chết nước Nga cách mạng vậy” (10).

Theo Người, Cương lĩnh cách mạng Quốc dân Đảng của Tôn Trung Sơn là một cương lĩnh cải cách, Bao gồm những nội dung hết sức tiến bộ: Một là, chống đế quốc và chống quân phiệt một cách rõ rệt; Hai là, đoàn kết các dân tộc bị áp bức ở các nước thuộc địa và giai cấp vô sản quốc tế; Ba là đồng tình với cách mạng Nga” (11). Đó chính là tinh thần của chủ nghĩa tam dân mới. Người bước đầu nhận thấy trong tư tưởng của Tôn Trung Sơn có những điểm phù hợp với xu thế thời đại và có thể vận dụng được vào hoàn cảnh Việt Nam. Vì thế, Người rất mong sớm có cơ hội đến Quảng Châu để được tiếp xúc với Tôn Trung Sơn, tận mắt chứng kiến sự phát triển của cách mạng quốc dân dưới quá trình Quốc – Cộng hợp tác, học hỏi thêm kinh nghiệm cách mạng. Tất nhiên, Người đến Quảng Châu còn có những lý do khác nữa như ở đây gần với Tổ quốc Việt Nam, “một mặt chú ý cách mạng trong nước, mặt khác có điều kiện tham gia vào công tác của Đảng Cộng sản Trung Quốc” (12)

2. Hơn hai năm ở Quảng Châu: Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc hơn về chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn

Ngày 11/4/1924, Nguyễn Ái Quốc có thư gửi Quốc tế Cộng sản, trong đó viết: “Chuyến đi sẽ là một chuyến đi để khảo sát và nghiên cứu… Trước hết tôi phải đi Trung Quốc… (13). Ngày 11/11/1924 Người đến Quảng Châu (14) – khi chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn đã chuyển sang chủ nghĩa tam dân mới với nội dung dân tộc, dân quyền, dân sinh đã được mở rộng theo chiều hướng có lợi cho cách mạng vô sản, nên mặc dù đã lựa chọn con đường cách mạng Lênin nhưng Người vẫn quan tâm tìm hiểu tư tưởng của Tôn Trung Sơn. Như Trần Dân Tiên viết: “… Lời kêu gọi của bác sĩ Tôn Dật tiên bắt đầu truyền bá. Một phong trào dân tộc vĩ đại bắt đầu… Ông Nguyễn tìm vào cuộc vận động này… Ông để hết tâm lực nghiên cứu chính trị Trung Quốc. Ba nguyên tắc của bác sĩ Tôn Dật Tiên: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc, ông vừa nghiên cứu vừa làm việc để sống” (15).

Thực ra lúc bấy giờ, lý luận cách mạng của Tôn Trung Sơn đã thu hút sự chú ý của các nhân sĩ châu Á, đặc biệt là nước Việt Nam đồng bệnh. Quảng Châu được mệnh danh là “Mátxcơva của phương Đông” nên Nguyễn Ái Quốc tìm đến làm phiên dịch cho Bôrôđin cũng là muốn có nhiều cơ hội được tiếp xúc với chính tác giả của chủ nghĩa tam dân. Tiếc thay là cho đến nay, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào (cả tiếng Trung và tiếng Việt) viết về việc tiếp xúc giữa Nguyễn Ái Quốc với Tôn Trung Sơn. Theo chúng tôi thì nhiều khả năng là Nguyễn Ái Quốc chưa một lần tiếp xúc với Tôn tiên sinh. Vì ngày 11/11/1924, Người vừa đến Quảng Châu thì ngày 12/11/1924, Tôn Trung Sơn bận tiếp xúc các chính giới ở Quảng Châu để bày tỏ quyết tâm lên phía Bắc; ngày 13/11/1924 cùng Tống Khánh Linh rời Quảng Đông; ngày 17/11/1924 thì đến Thượng Hải; ngày 23/11/1924 đến Nagasaki của Nhật Bản; ngày 4/12/1924 trở về Thiên Tân; ngày 31/12/1924  đến Bắc Kinh rồi vì lâm bệnh nặng đã qua đời ở đây (16).

Song qua thực tiễn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc hiểu biết sâu hơn về chủ nghĩa tam dân mới của Tôn Trung Sơn và nhận thấy nó thích hợp với thực tế Việt Nam: “…Trong tất cả các lý luận cách mạng thì chủ nghĩa Tôn Dật Tiên là phù hợp nhất với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Chủ nghĩa tam dân của bác sĩ Tôn Dật Tiên có thể tổng kết là: Chủ nghĩa dân tộc: độc lập cho mọi dân tộc; Chủ nghĩa dân quyền: tự do của nhân dân;Chủ nghĩa dân sinh: hạnh phúc và hưởng thụ của nhân dân. Đây là cái mà Việt Nam cần. Đây là cái mà dân tộc Việt Nam đòi hỏi và là cái mà Nguyễn Ái Quốc tìm kiếm…(17). Không những thế, Người còn chuyển hoá “ba chủ nghĩa” thành “ba nguyên tắc” – “ba chính sách” rồi sử dụng tên gọi này nhiều lần. Chính Người đã bổ sung các từ độc lập, tự do, hạnh phúc để thành: Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc – điều mà Tôn Trung Sơn chưa bao giờ viết như vậy (18).

Trên đất Quảng Châu, năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam thanh niên cách mạng, triển khai các lớp huấn luyện chính trị. Không phải ngẫu nhiên mà bên cạnh treo các bức ảnh của Mác, Lênin, Xitalin, thì trong lớp huấn luyện này còn treo ảnh Tôn Trung Sơn và Phạm Hồng Thái (19). Người còn đưa nội dung tiến bộ trong chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn vào giảng dạy cho thanh niên học một cách có phê phán (20). Trước khi Tôn Văn qua đời, Người có bài “Những vấn đề Châu Á” đăng trên Tập san Inprekorr (số 19 năm 1925), đánh giá cao chính sách dân tộc của Tôn Trung Sơn trong việc phản đối chủ nghĩa đế quốc xâm lược. Người cho rằng, chính sự cứng rắn của Tôn tiên sinh và Quốc dân Đảng trong việc đòi hỏi sự bình đẳng dân tộc khiến Tôn Dật Tiên đã trở thành “một trong những nhà chính trị mà bọn đế quốc ghét nhất và gờm nhất” (21).

Ngày 12/3/1925, Tôn Trung Sơn qua đời, thì cuối tháng đó Nguyễn Ái Quốc có bài “Sự kiện Tôn Dật Tiên tạ thế” đăng trên báo Người cùng khổ ở Paris: “… Tôn Dật Tiên qua đời làm cho châu Á mất đi một người bạn tốt, cách mạng Nga mất đi một người tiếp sức. Tôn tiên sinh qua đời nhưng Di chúc của ông đang hô hào cả nước Trung Hoa tiếp tục đấu tranh chống kẻ thù chung. Cũng như hôm nay, những người Việt Nam yêu nước đang lưu vong trên đất Quảng Châu, họ đã hi sinh mọi hưởng thụ cũng là để làm cho dân tộc mình được thoát khỏi sự nô dịch đế quốc phong kiến. Như hiện nay đã lấy quê hương của Tôn Dật Tiên để làm nơi tôi luyện cách mạng, từ đó mà càng giữ vững lòng tin và ý chí quyết tâm cứu nước(22). Tiếp đó là bài “Những sự biến ở Trung Quốc” được Người viết ngày 13/11/1925 tại Quảng Châu đăng báo L’Annam số 118 ngày 2/12/1925 ở Việt Nam, trong đó có đoạn: “Chúng tôi không thể không nói đến tình cảm của nhân dân Quảng Châu và cả tỉnh Quảng Đông kỷ niệm ngày sinh của Tôn Dật Tiên. Sự ân cần của nhân dân chứng tỏ người Trung Hoa biết ơn vị lãnh tụ cách mạng quá cố đến nhường nào, biết ơn người đã thức tỉnh họ ý chí tự giải phóng khỏi mọi sự áp bức về ngoại giao mà không gì bào chữa nổi hiện nay ” (23). Trong Đại hội lần thứ hai Quốc dân Đảng Trung Hoa đầu năm 1926, Nguyễn Ái Quốc tham dự và phát biểu “…Chính sách vĩ đại của Tôn Tổng lý (tức Tôn Trung Sơn) để cùng với các dân tộc bị áp bức phấn đấu… lúc Tôn Trung Sơn tạ thế, toàn Trung Quốc cố nhiên đều truy điệu, mà các nước trên thế giới cũng rầm rộ truy điệu. Nhân dân An Nam chúng tôi đương nhiên cũng muốn làm lễ truy điệu như người Trung Quốc, nhưng bọn Pháp không cho phép làm… (24). Cũng từ Quảng Châu, ngày 12/3/1927, Nguyễn Ái Quốc viết bài “Kỷ niệm lần thứ hai ngày Tôn Dật Tiên qua đời” gửi về Việt Nam đăng trên báo L’Annam (số 150 ngày 31/3/1927) với những lời lẽ rất xúc động: “Ngày hôm nay cả nước Trung Hoa tỏ lòng tôn kính tưởng nhớ Bác sĩ Tôn Dật Tiên… Con người làm việc lột xác nước Trung Hoa vĩ đại đã cống hiến cả nghị lực và cuộc đời mình cho thắng lợi của sự nghiệp cả dân tộc… Bác sĩ Tôn Dật Tiên lên án sự tồn tại của các Hiệp ước bất bình đẳng, nhân nhân các địa phương đều nghe thấy… Chính những người Trung Quốc tôn kính, biết ơn Bác sĩ Tôn Dật Tiên – người phục sinh cho Tổ quốc, đã tưởng niệm ngày qua đời của người anh hùng dân tộc vĩ đại” (25).

Suốt hai năm rưỡi hoạt động trên đất Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc nhận được sự giúp đỡ cách mạng Tôn Trung Sơn đứng cũng như Đảng Cộng sản Trung Quốc, hiểu biết thêm về Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa tam dân, tổ chức huấn luyện được hàng trăm cán bộ cách mạng và đang chuẩn bị thành lập một chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam thì đột nhiên, “bầu trời chính trị Quảng Châu ngày càng bị mây đen bao phủ” (26). Ngày 12/4/1927, Tưởng Giới Thạch đảo chính ở Thượng Hải, rồi Lý Tế Thâm đảo chính ở Quảng Châu ngày 15/4/1927. Tiếp đến, bọn phản cách mạng bắt bớ, khủng bố những người cộng sản, cánh tả trong Quốc dân đảng và người bị nghi ngờ có mối liên hệ với cộng sản. Nguyễn Ái Quốc cũng bị lọt vào vào tầm kiểm soát của bọn Tưởng phản cách mạng. Người phải bí mật rời Quảng Châu đi Hồng Kông, lên Thượng Hải và trở lại đất nước Liên Xô.

3. Giai đoạn 1927-1945: Hồ Chí Minh tiếp tục tìm hiểu và khéo léo vận dụng tinh hoa của chủ nghĩa tam dân vào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam

Sau khi trở lại Mátxcơva, tháng 11/1927, Nguyễn Ái Quốc được cử đi Pháp, rồi sang Bỉ, Italia. Mùa thu 1928, Người từ châu Âu đến Thái Lan và cuối năm đó thì trở lại Trung Quốc. Để chuẩn bị cho việc hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành một chính đảng cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã bàn với các đồng chí của mình: “Chúng ta phải đoàn kết giai cấp, đoàn kết nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Để đạt mục đích ấy phải thống nhất tổ chức. Tổ chức ấy có thể lấy tên Thanh niên cách mạng hoặc là Đảng Cộng sản, nhưng chính cương của nó phải là: 1) Dân tộc độc lập; 2) Nhân dân tự do; 3) Dân chúng hạnh phúc; 4) Tiến tới chủ nghĩa xã hội” (27). Như thế, trong 4 nội dung của chính cương theo gợi ý của Người thì có đến 3 nội dung mang màu sắc của chủ nghĩa tam dân. Sau này trong Cương lĩnh chính trị của Đảng tháng 2/1930 do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, vấn đề dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc đều ít nhiều đề cập tới, nhưng đã vượt lên so với Tôn Trung Sơn về tinh thần chủ nghĩa vô sản quốc tế và đặt cách mạng Việt Nam làm “một bộ phận của cách mạng thế giới”. Như Trần Dân Tiên viết : “Trên thực tế, ông Nguyễn trung thành với chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên. Cương lĩnh của ông Nguyễn đã làm theo mô hình của Tôn Dật Tiên, tức: chủ nghĩa dân tộc – dân tộc độc lập; chủ nghĩa dân quyền – nhân dân tự do; chủ nghĩa dân sinh – cải thiện cuộc sống nhân dân. Thậm chí để đạt được mục đích ấy thì ông Nguyễn đã khéo léo vận dụng phương pháp đấu tranh ở lãnh tụ vĩ đại cách mạng Trung Quốc Tôn Trung Sơn…(28).

Ngoài ra, Người cũng vận dụng nội dung tư tưởng của Tôn Trung Sơn vào các mục đích giáo dục tinh thần cách mạng cho các chiến sĩ thanh niên… Trong bài “Nhân dân Việt Nam với báo chí Trung Quốc” (ngày 2/12/1941, bút danh Bình Sơn), đăng trên “Cứu vong nhật báo”, Người viết: “Phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam là đội quân đồng minh trong kháng chiến chống Nhật của Trung Quốc… Quốc phụ Tôn Trung Sơn từng dạy chúng ta giúp đỡ các dân tộc nhỏ yếu cùng nhau phấn đấu giành lấy tự do độc lập. Nay cơ hội để thực hiện lời di huấn đó đã đến” (29). Còn trong bài nói chuyện buổi bế mạc lớp huấn luyện cán bộ Việt Nam tại Liễu Châu (Quảng Tây) vào mùa xuân năm 1944, Người căn dặn: “Tôn Trung Sơn tiên sinh vĩ đại có một câu danh ngôn: An nguy tha nhật chung tu trượng/ Cam khổ lai thời yếu cộng thưởng. Câu danh ngôn này đối với nhân dân hai nước chúng ta mà nói là lời hiệu triệu vĩ đại và có ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Nhân dân 2 nước Việt Trung sẽ thực hiện điều đó, mãi mãi không quên” (30).

Rồi khi đang bị ngồi trong nhà tù của Tưởng Giới Thạch, Người vẫn nghiên cứu chủ nghĩa tam dân. Hầu Chí Minh – người đã trực tiếp thả tự do cho Hồ Chí Minh theo lệnh Tưởng Giới Thạch, cho biết: “trong thời gian quản lĩnh Hồ Chí Minh, chủ nhiệm Hầu đã tặng Hồ Chí Minh cuốn chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn, sau này Hồ Chí Minh dịch ra tiếng Việt” (31). Vì vậy, mà bàithứ 128 của Nhật ký trong tù đã ghi lại cảm xúc của Người khi đọc chủ nghĩa tam dân và biết ơn chủ nhiệm Hầu. Bài thơ có nhan đề là “Hầu chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư” (Ơn chủ nhiệm Hầu tặng một bộ sách). Sau khi Người ra tù, Trương Phát Khuê (Thượng tướng quân đội Trung Hoa dân quốc) báo cáo: “Hồ Chí Minh đang nghiên cứu và viết một cuốn sách mỏng về chủ nghĩa tam dân tại Cục chính trị Đệ tứ chiến khu” (32). Chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm ở một số thư viện tại Bắc Kinh để tìm cuốn sách ấy, nhưng vẫn chưa có kết quả.

Ngày 18/2/1945, trong công hàm gửi chính phủ các nước Trung Quốc, Hoa kỳ, Liên Xô và Anh, Hồ Chí Minh đã nói về mục đích làm cách mạng dân tộc là: “Chúng tôi dựa vào và tìm thấy nguyên tắc thứ nhất trong ba nguyên tắc của Tôn Dật Tiên” (33) (tức là dân tộc độc lập) thì đến ngày 23/2/1945, khi trả lời phỏng vấn báo chí, Người lại khẳng định: “Nước Trung Hoa bây giờ cũng như Tôn Trung Sơn ngày trước, chủ trương tam dân chủ nghĩa là dân tộc, dân quyền và dân sinh. Trung Quốc phấn đấu kháng chiến tám, chín năm nay cũng vì ba chủ nghĩa ấy. Chúng ta phấn đấu trước hết cũng là vì dân tộc” (34). Mấy tháng sau, dân tộc Việt Nam đã được độc lập thông qua cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945.

4. Giai đoạn sau năm 1945: Chính phủ cố gắng làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc

Ngày 12/10/1945, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh về việc lấy quốc hiệu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà trên các công văn, điện văn, đơn từ… thì sau đó không lâu chúng ta thấy dưới Quốc hiệu ấy lại xuất hiện ba tiêu ngữ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Theo PGS. Chương Thâu thì ba tiêu ngữ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” của Hồ Chí Minh hẳn là có nguồn gốc từ ba chủ nghĩa của Tôn Trung Sơn, được người tiếp thu và vận dụng một cách sáng tạo ở Việt Nam trong cả quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc (35). Tuy vậy, cho đến nay vẫn còn ý kiến chưa hoàn toàn đồng tình với suy luận ấy nhưng nếu đặt ba từ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc vào cách dùng từ Hồ Chí Minh về ba nguyên tắc của chủ nghĩa tam dân là Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc thì rõ ràng giữa chúng có mối liên hệ rất gần gũi.

Đáng chú ý hơn cả là trong phiên họp bế mạc kỳ họp thứ II Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 9/11/1946, Người đã nói: “Chính phủ cố gắng làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc(36). Điều đó cho thấy, nội dung dân tộc, dân quyền dân sinh đã hoá thân vào thực tiễn, trở thành mục tiêu xây dựng đất nước của chính phủ Hồ Chí Minh. Nếu như trước đây, Người thường viết “dân tộc”, “dân quyền” và “dân sinh”, thì lúc này lại viết “dân sinh, dân quyền, dân tộc”. Hẳn đây không phải là một sự ngẫu nhiên! Vì rằng cách mạng tháng Tám thành công, độc lập dân tộc đã giành lại được (tuy sau đó không lâu, giặc ngoại xâm lại kéo vào nước ta); Nhà nước dân chủ nhân dân đã được thiết lập; nhân dân Việt Nam đã bắt đầu được hưởng tự do dân chủ dưới chế độ xã hội mới. Về lý luận thì vấn đề dân tộc và dân quyền coi như đạt mục đích, nhưng nhân dân vẫn còn đói, còn rét, do vậy phải tập trung nhiều giải quyết vấn đề dân sinh, tạo đời sống ấm no cho dân để họ phấn khởi tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nếu như Tôn Trung Sơn quan niệm: “Trong chủ nghĩa dân sinh, vấn đề quan trọng thứ nhất là ăn, vấn đề quan trọng thứ hai là mặc(37), thì Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” (38).

Trong “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” viết ngày 11/6/1948, Hồ Chí Minh đã coi sự nghiệp cách mạng của Việt Nam là quyết tâm hoàn thành ba mục tiêu tương tự ba chủ nghĩa mà Tôn Trung Sơn đã đề ra: “…Trong cuộc thi đua ái quốc, chúng ta: vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Kết quả đầu tiên của thi đua ái quốc sẽ là: Toàn dân đủ ăn, đủ mặc; Toàn dân biết đọc, biết viết; Toàn bộ đội đầy đủ lương thực, khí giới để giết giặc ngoại xâm; Toàn quốc sẽ thống nhất độc lập hoàn toàn. Thế là chúng ta thực hiện: Dân tộc độc lập; Dân quyền tự do; Dân sinh hạnh phúc. Ba chủ nghĩa mà nhà đại cách mạng Tôn Văn đã nêu ra” (39). Ở đây cũng cần lưu ý rằng, Hồ Chí Minh thực hiện vấn đề đó là để làm cơ sở vững chắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, chứ không như Tôn Trung Sơn thực hiện tam dân chủ nghĩa để thiết lập một xã hội có bản chất tư bản. Cho nên ở đây có sự kết hợp hữu cơ giữa việc khái quát của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc của chủ nghĩa tam dân với phương hướng, mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

Những tinh hoa của chủ nghĩa tam dân mới để lại dấu ấn khá sâu sắc ở Hồ Chí Minh. Không phải ngẫu nhiên mà “Có người hỏi Nguyễn Ái Quốc: ông là người thế nào? Người cộng sản hay là người theo chủ nghĩa Tôn Dật Tiên?”. Hồ Chí Minh đã trả lời rằng: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó: sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giê su có ưu điểm của nó: lòng nhân ái cao quý. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó: phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó: chính sách của nó thích hợp với điều kiện quốc gia chúng tôi. Khổng Tử, Giê su, Mác, Tôn bác sĩ, họ chẳng có điểm chung đó sao? Họ đều muốn vì mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Nếu như ngày nay họ còn sống trên đời, nếu như họ tụ tập lại một chỗ, tôi tin tưởng rằng nhất định họ phải là những người bạn chung sống với nhau rt hoàn mĩ. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy. Tôi vẫn là tôi trước đây: một người yêu nước(40).

Cuối cùng cần khẳng định là, mặc dù nhận thấy “Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên là thích hợp nhất với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam…” (41)  nhưng trước sau thì Người đều khẳng định “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin(42). Điều đó chứng tỏ giá trị lớn lao của chủ nghĩa Lênin cả về phương diện khoa học lẫn thực tiễn. Tuy nhiên ở Hồ Chí Minh, sau khi phân tích các điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa nửa phong kiến lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá Hán như Việt Nam lúc bấy giờ, thì muốn giải quyết được cái hoàn cảnh cụ thể đó, hẳn là phải có sự kết hợp khéo léo chứ không thể vận dụng riêng lẻ một chủ nghĩa nào cả./.

 

 

“Hồ Chí Minh nhận thấy trong tư tưởng của Tôn Trung Sơn có những điểm phù hợp với xu thế thời đại và có thể vận dụng được vào hoàn cảnh Việt Nam.”

 

Chú thích

 (1), (2), (35) Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Trung Quốc: Tôn Trung Sơn – cách mạng Tân Hợi và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.90, tr.84, 108-109.

 (3)  Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh lãnh tụ của chúng ta, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1969, tr.20.

(4), (15), (27) Trần Dân Tiên: Những mu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970, tr.62, 61- 62, 75.

(5) Ví như GS. Phan Ngọc Liên, PGS.TS. Chương Thâu, PGS. Nguyễn Văn Hồng, tác giả Đặng Thanh Tịnh, tác giả Nguyễn Huy Hoan (Bảo tàng Hồ Chí Minh), PGS TS. Phạm Xanh, PGS. Phan Văn Các, TS. Đỗ Tiến Sâm…

(6), (7) Theo Phạm Xanh: “Tôn Dật Tiên trong tâm tưởng Hồ chí Minh”, (32) Theo Phan ngọc Liên: Hồ Chí Minh với Tôn Trung Sơn, Kỷ yếu Hội thảo khoa học 80 cuộc Cách mạng Tân Hợi (10/101911-10/10/1991), lưu tại Khoa lịch sử – Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội, số hiệu LS-TL 1466.

(8) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 2000, bản điện tử, Tập 1, tr. 28;

(9) T.1, tr. 34; (10) T.1 tr. 319-320; (12) T.10- tr.367; (13) T.1- tr.251-252; (21) T.2, tr.197; (24) T.2, tr.282, 287; (29) T.3, tr.185; (33) T.4, tr.180; (34) T.4, tr.185; (36) T.4, tr.978; (37) T.4, tr.260; (39) T.5, tr.913-914; (42) T.2,  tr.352.

 (11) Trung tâm Khoa học xã hộiNhân văn Quốc gia, Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc: Cách mạng Tân Hợi 90 năm sau nhìn lại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tr.279.

 (14) Các tài liệu viết khác nhau về ngày Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu. Chúng tôi lấy ngày 11/11/1924 dựa vào 4 bức thư Người viết tại Quảng Châu vào ngày 12/11/1924, trong đó bài “Thư từ Trung Quốc, số 1” có đoạn viết: “chỉ có một dòng chữ để báo cho đồng chí biết rằng tôi đến đây hôm qua và đang ở nhà đồng chí Bôrôđin với 2 hoặc 3 đồng chí Trung Quốc. Tôi chưa gặp ai cả. Mọi người ở đây đều bận về việc Bác sĩ Tôn lên phương Bắc”.

 

 (16) Thượng Minh Hiên: Tôn Trung Sơn truyện, NXb Bắc Kinh, 1979, bản Trung văn, tr.208-209.

(17), (28),(40), (41)Trần Dân Tiên (tác giả), Trương Niệm Thức (dịch sang Trung văn): Hồ Chí Minh truyện, Thượng Hải bát nguyệt xuất bản xã, ấn hành tháng 6/1949, Bản Trung văn, tr.81, tr.90, 91, 81.

(18) Tôn Trung Sơn chỉ viết Chủ nghĩa dân tộc; Chủ nghĩa dân quyền và Chủ nghĩa dân sinh. Theo tôi, chúng ta không nên lẫn lộn ở chỗ này.

(19), (26) Ép-ghê-nhi Ca-bê-lép (tác giả), Nguyễn Minh Châu và Mai Lý Quảng (dịch tiếng Nga sang Việt): Đồng chí Hồ Chí Minh, Tập1, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1985, tr.189, tr.209-210.

(20) Hoàng Quốc An: Tư liệu lịch sử quan hệ Trung Việt thời cận đại, quyển hạ, Quảng Đông nhân dân xuất bản xã, 1988, bảnTrung văn, tr.821. Trong Văn kiện Đảng toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.156 cũng viết: ...học lịch sử cách mạng Mỹ, Pháp, Tàu, Nhật; học tiểu sử nhà cách mạng Mác, Lênin, Tôn Dật Tiên; học chính trị và chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tam dân, chủ nghĩa Gandhi…

(22)  Lý Gia Trung: Cuộc đời Hồ Chí Minh, Nxb Tri thức thế giới, Bắc Kinh, 2010, bản Trung văn, tr.50-51.

(23), (25) Trung tâm Khoa học xã hộiNhân văn Quốc gia, Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc: Cách mạng Tân Hợi 90 năm sau nhìn lại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, tr.260, 260-261. 

(30)Ôn Kỳ Châu: Mới phát hiện bài diễn thuyết của Hồ Chí Minh ở Liễu Châu, Tạp chí Đông Nam Á tung hoành, số 3, năm 2000, bản Trung văn, tr.55. Câu ấy chúng ta có thể hiểu là: những ngày cái sống cái chết kề bên nhau thì phải dựa vào nhau, lúc đắng cay ngọt bùi cũng phải cùng nhau san sẻ.

 

(31) Viện văn học Việt Nam: Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.597.

(37)  Tôn Trung Sơn: Chủ nghĩa tâm dân, Nxb Cửu Châu, 2011, bản Trung văn, tr.186.

 

■  Ths. Lê Đức Hoàng