Những bức thư của Bác Hồ gửi các cháu thiếu nhi nhân ngày 1-6

Bác Hồ là người luôn quan tâm, chăm sóc giáo dục thiếu niên nhi đồng. Những lời dạy và bài viết của Người dành cho lứa tuổi thiếu nhi được xem như là một trong những di sản vô giá của dân tộc và của thế hệ trẻ nước ta. Đó cũng chính là những quan điểm, phương hướng mà Đảng, Nhà nước và các cấp có thẩm quyền đã, đang và sẽ lấy đó làm phương châm để giáo dục và rèn luyện thế hệ măng non của đất nước.

Còn nhớ, tháng 7-1926, Bác đã có ý định gửi một số gương mặt thiếu nhi tiêu biểu của nước ta sang đào tạo ở Liên Xô (cũ). Trong một bức thư gửi Ủy ban trung ương Đội thiếu niên tiền phong trực thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin. Người đã quan tâm đến một vấn đề rất nhỏ, Người hỏi các bạn Liên Xô rằng “Đến tháng nào thì ở Mátxcơva bắt đầu rét ?”. Chỉ vì lý do là thiếu nhi nước ta đã quen với khí hậu khô nóng. Quả thật, tấm lòng đó của Bác đối với tuổi thơ đã gây những xúc động đặc biệt cho mọi người.

Những năm tháng trước Cách mạng tháng Tám 1945, trong hoàn cảnh “vận nước gian nan”, Người đã đau lòng trước cảnh “Trẻ em cũng bị bận thân cực lòng/ Học hành, giáo dục đã không/ Nhà nghèo lại phải làm công, cày bừa/ Sức còn yếu, tuổi còn thơ/ Mà đã khó nhọc cũng như người già/ Có khi lìa mẹ, lìa cha/ Đi ăn ở với người ta bên ngoài…”. Và mong muốn lớn của Bác lúc bấy giờ là “Bao giờ đánh đuổi Nhật, Tây/ Trẻ em ta sẽ là bầy con cưng” … Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Người cũng có rất nhiều bài viết, ý kiến dưới rất nhiều hình thức đề cập đến tuổi thơ Việt Nam.

Trên báo Sự Thật, số 134 ra ngày 1-6-1950, đăng bức thư gửi thiếu nhi toàn quốc nhân ngày 1-6. Bức thư với lời lẽ âu yếm, giản dị, dễ đọc, dễ nhớ, dễ thuộc đã thể hiện được sự quan tâm, thương yêu hết mực của người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta đối với tuổi thơ. Mở đầu bức thư, Người viết : “Các cháu yêu quý ! Ngày 1- 6 là ngày của các cháu bé khắp cả các nước trên thế giới. Đáng lẽ tất cả các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như trẻ con ở Liên Xô…”. Và Người đã vạch rõ: “Song ở các nước tư bản, cha mẹ là người lao động bị bóc lột, thì trẻ con cũng bị bóc lột, phải chịu cực khổ”. Người còn nêu ra những dẫn chứng cụ thể : “Ví dụ: Mỹ là một nước nhiều tiền bạc nhất, có những nhà đại phú, ngồi mát ăn bát vàng. Nhưng con nhà lao động thì lên 5, lên 6 tuổi đã phải đi làm thuê, làm mướn. Ở nước Việt Nam ta thì, vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt nhà, giết người, cướp của. Vì vậy, người lớn phải kháng chiến, trẻ con cũng phải kháng chiến”. Đặc biệt, chúng ta vô cùng cảm động trước tình cảm, lời hứa và trách nhiệm của Người dành cho thiếu nhi: “Bác thương các cháu lắm. Bác hứa với các cháu rằng: đến ngày đánh đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công, thì Bác cùng Chính phủ và các đoàn thể cùng cố gắng làm cho các cháu cùng được no ấm, đều được vui chơi, đều được học hành, đều được sung sướng…”.

Một năm sau, vào ngày 29-5-1951, trên báo Cứu Quốc số 1828, Bác lại có “Thư gửi nhi đồng toàn quốc nhân ngày Quốc tế thiếu nhi”. Cũng lời lẽ trìu mến, đầm ấm, thiết tha như năm nào, Bác đã gửi lời thân ái đến toàn thể nhi đồng cả nước. Bác nhắc đến ngày 1-5, ngày của những người lao động thế giới tỏ tình đoàn kết, đấu tranh. Còn ngày 1-6 “là ngày của các cháu nhi đồng trong thế giới tỏ tình đoàn kết và sức đấu tranh của mình…”. Hình thức đấu tranh của các cháu nhi đồng mà Người đưa ra rất cụ thể, thiết thực. Đó là, các cháu cần phải “Thi đua học tập, thi đua tăng gia sản xuất; thi đua giúp đỡ các gia đình thương binh, tử sĩ. Thế là các cháu đấu tranh”. Bác còn có lời khuyên nhủ chí tình: “Các cháu phải đoàn kết, thương yêu nhau” và là đoàn kết, thương yêu giữa nhi đồng trong nước với nhau, cũng như bạn bè thiếu nhi trên thế giới. Bác gọi “Đó là tinh thần quốc tế”. Mà đã có tinh thần quốc tế thì khi lớn lên, thế giới sẽ không có áp bức, không có chiến tranh, không có xung đột mà chỉ có tình thân ái, giúp đỡ, giữ gìn và hưởng thụ hạnh phúc, hòa bình và dân chủ. Chao ôi, tình của Bác thật dạt dào cao cả, ý của Bác thì vô cùng sâu sắc, nhìn xa, thấy rộng. Cho đến bây giờ, những lời căn dặn, khuyên nhủ, dạy bảo của Bác năm nào cho đến bây giờ vẫn còn nguyên tính thời sự nóng hổi và giá trị thiết thực của nó.

Năm 1952, Bác không có thư cho ngày quốc tế thiếu nhi, nhưng lại có thư Trung thu gửi các cháu thiếu nhi. Vẫn tình cảm vô cùng dạt dào nồng thắm ấm tình người, Bác thổ lộ tâm tình: “Ai yêu các nhi đồng/ Bằng Bác Hồ Chí Minh”; Bác căn dặn các cháu : “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ/ Tùy theo sức của mình”, để mãi mãi xứng đáng “Cháu Bác Hồ Chí Minh”. Năm 1953, trên báo Nhân Dân số 115, từ ngày 1 đến 5-6-1953, Bác gửi đăng bức “Thư gửi nhi đồng trong nước và ngoài nước nhân ngày 1-6”. Lần này, Bác lại thể hiện tình thân ái, ân cần, trìu mến và thân thương nhất không chỉ đối với các cháu nhi đồng trong nước mà cả với “nhi đồng các nước bạn và nhi đồng thế giới”. Bác còn đặc biệt “gửi lời khen ngợi các cháu trong vùng bị tạm chiếm đã hăng hái tham gia kháng chiến”.

Ngày 7-5-1954, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta. Đất nước còn bộn bề khó khăn và công việc, Bác và Trung ương vẫn chưa về tiếp quản thủ đô, nhưng Bác vẫn không quên gửi bức thư ngắn cho các cháu nhi đồng toàn quốc nhân ngày 1-6. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Bác vẫn căn dặn các cháu phải ngoan ngoãn, chú ý rèn luyện cả về nhân cách và thể lực để trở thành công dân có sức khoẻ và tiến bộ. Năm 1955, nhân ngày 1- 6, Bác liên tiếp có hai bài viết, một gửi cho các cháu và cán bộ các trường miền Nam (Theo tài liệu lưu trữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh); một đăng trên báo Nhân Dân số 445, ra ngày 1-6-1955. Lần này, Bác lại vẫn nhắc đến vấn đề đoàn kết. Và trong hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ, Bác nhấn mạnh rằng: “Trước hết, các cháu phải thương yêu giúp đỡ nhau, phải đoàn kết chặt chẽ. Đoàn kết giữa các cháu lớn và các cháu bé… giữa các cháu vùng này với các cháu vùng khác… giữa các cháu và các cô, các chú cán bộ”. Bác nhắc các cháu thiếu nhi các trường miền Nam phải “yêu lao động, giữ kỷ luật. Chớ tự do phóng túng, phải tự lực cánh sinh… thi đua học tập, thi đua trong mọi việc…”. Không những thế, Bác còn căn dặn các cô, các chú cán bộ “phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình” để chăm nom, bồi dưỡng các cháu – những người chủ tương lai của nước nhà”. Bác nhấn mạnh rằng : “Ngày 1-6 nhắc nhủ người lớn (trước hết là bố mẹ, cô giáo, thầy giáo, Đoàn thanh niên) nhiệm vụ của mình đối với nhi đồng”, “Yêu quí các em” là phải lấy “tinh thần dân chủ mới mà giáo dục các em “5 điều yêu”: Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu quí của công”, và nuôi dạy các em phát triển sức khỏe, trí óc, “thành trẻ em có “4 tính tốt”: hoạt bát, mạnh dạn, chất phác, thật thà”… và có “tư cách của con người mới: Không sợ khó, không sợ khổ, bạo dạn, bền gan”. Bác nhấn mạnh rằng: “8, 9 năm qua, chúng ta kiên quyết kháng chiến; hiện nay chúng ta kiên quyết đấu tranh cho hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước – cũng nhằm mục đích xây dựng cho con cháu chúng ta một đời sống sung sướng, vui tươi, thái bình, hạnh phúc. Đồng thời chúng ta phải khéo giáo dục để mai sau nhi đồng trở thành công dân có tài, có đức”, xứng đáng là người chủ của nước nhà.

Ba tháng trước lúc Người đi xa, cũng nhân dịp ngày 1-6, Bác đã có lời căn dặn toàn Đảng, toàn dân cần “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhi đồng” (báo Nhân Dân, số 5526, ngày 1-6-1969). Bác khẳng định: “Nói chung trẻ con ta rất tốt”, Bác nhắc đến các cháu thiếu nhi ở hai miền Nam, Bắc thi đua làm nghìn việc tốt như thế nào, thành tích ra sao. Tuy nhiên, “vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chăm sóc dạy dỗ đến nơi đến chốn”. Nói thế là Bác muốn nhắc đến vai trò và trách nhiệm của người lớn đối với các em. Người luôn cho rằng : “Chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ…”. Bác kêu gọi mọi người: “Vì tương lai con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”. Chuẩn bị cho ngày đi gặp các cụ Các Mác, Lênin, trong di chúc của mình, Người lại nói: “…Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Ôi, lời Bác, tình Bác đã, đang và sẽ là hành trang cho bao thế hệ trẻ bước vào đời và đang vĩnh hằng cùng năm tháng…

( tổng hợp )

Bác Hồ đến với các cháu mồ côi ở Trại Kim Đồng

Một sáng đẹp trời, Bác Hồ đã đến với các cháu Trại Kim Đồng. Ngay từ phút đặt chân đến cổng trại nhìn bờ rào dăng dây thép gai, trong mắt Bác hiện lên sự nhức nhối. Nói với các cán bộ phụ trách, giọng Bác nhẹ nhàng, nhưng vô cùng thấm thía:

– Đây là nơi nuôi dạy các cháu mồ côi, được mang tên liệt sĩ Kim Đồng, sao các cô, các chú lại rào dây thép gai như nhà tù thế này ?

Chú Thuận thưa:

– Dạ thưa Bác, cơ ngơi của thời đại cũ đề lại đấy ạ !

Bác lắc đầu: Các cô, các chú phải tháo gỡ đám dây thép gai ngay. Chế độ cũ nhóm các cháu vào đây, chúng ta tiếp tục nuôi dạy vì tương lai các cháu. Bác đi vào từng căn phòng ở, phòng ăn, phòng học, nơi các cháu vui chơi. Bác khen: “Được cái gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ, nhưng còn – Bác hỏi cán bộ phụ trách Trại – còn thế nào, các cô, các chú biết không ?

Mọi người nhìn Bác, vừa xúc động vừa lúng túng. rồi chú Thuận mạnh dạn đáp ?

– Thưa Bác, các cháu ở trại còn chật chội ạ.

Bác Hồ mỉm cười:

– Chú nói mới đúng có một phần nhỏ thôi. Đối với các cháu mồ côi, điều lớn nhất là phải bù đắp tình thương. Các cháu đã không còn bố, mẹ thì các cô, các chú ở đây là bố, là mẹ các cháu. Các cô các chú nuôi, dạy các cháu phải đem cả tấm lòng làm mẹ, làm cha mà cư xử, mà săn sóc, mà dạy bảo. Bác thấy ở đây, đối với các cháu còn có vẻ “trại lính”, thiếu cái ấm cúng của gia đình. Dạy bảo các cháu vào khuôn phép, sống có kỷ luật trật tự là đúng. Nhưng không được để các cháu mất cái hồn nhiên, mất cái vui tươi, thoải mái. Đừng biến các cháu thành các “ông cụ non”. Các cô, các chú phải làm sao cho các cháu thấy Trại Kim Đồng là gia đình của các cháu, đi xa các cháu nhớ, lúc ở nhà các cháu vui. Được như vậy thì cần gì phải rào dây thép gai, phải canh phòng nghiêm ngặt với các cháu ?

Bác lại hỏi :

– Những cháu kém có nhiều không ?

– Thưa Bác, còn nhiều lắm ạ.

– Nhiều là bao nhiêu ?

Đồng chí phụ trách hơi bối rối. Bác nói ngay:

– Quản lý các cháu thì cần biết cụ thể từng cháu một, biết chắc chắn cái dở, cái hay của mỗi đứa. Có vậy, thì dạy mới có kết quả tốt. Bác bảo chú Thuận đứng bên:

– Cho Bác gặp cháu nào kém nhất trại.

Em Quốc đứng khoanh tay trước mặt Bác, Bác cúi xuống vuốt nhè nhẹ tóc em. Bác hỏi:

– Tên cháu là gì ?

– Thưa Bác, tên cháu là Quốc lủi ạ ! Bác nhìn em, ái ngại:

– Ai đặt cho cháu cái tên ấy ?

– Dạ thưa, các bạn gọi cháu thế ạ.

– Vì sao các bạn gọi cháu là Quốc lủi ?

– Thưa Bác… Cháu… Cháu hay trốn trại. Cháu chui qua hàng rào, lủi vào các ngõ phố ạ.

– Sao cháu không chịu ở trong trại mà trốn ra ngoài ?

– Thưa Bác… ở trong trại khổ cực lắm ạ.

– Khổ cực thế nào ?

– Dạ chúng cháu bị gò bó đủ thứ ạ.

– Cháu nói rõ sự gò bó cho Bác nghe nào ?

Quốc nhìn Bác Hồ mà nước mắt trào ra, nghẹn ngào không nói lên lời.

Bác xoa đầu em, Bác đã hiểu thấu tất cả, dù em chưa nói ra được những điều muốn thưa với Bác, Bác khuyên Quốc: “Từ nay cháu phải phấn đấu bỏ cái tên “lủi”, giữ lại cái tên Quốc…”. Nước mắt càng giàn giụa trên hai má Quốc.

Bác Hồ cầm tay em Quốc đi ra chỗ cả trại đang tập hợp đón đợi Bác.

Bác thân mật kể cho các em nghe một số gương tốt của thiếu nhi trong kháng chiến chống Pháp, gương tốt của thiếu nhi ở Liên Xô và các nước bạn. Các em đã không cầm được nước mắt khi nghe Bác kể về thời niên thiếu của Bác, Bác đã từng thèm một cái đồ chơi, ước ao một bộ quẩn áo mới để ăn mặc Tết. Bác cũng đã mồ côi mẹ từ năm lên chín, lên mười. Bác đã phải bế em đi xin sữa sau ngày mẹ qua đời.

Bác căn dặn các em như ông dặn cháu:

– Các cháu phải vâng lời các cô, các chú phụ trách. Thiếu nhi thì phải ngoan, phải thật thà, lễ phép với người lớn, kính trọng người già, giúp đỡ người tàn tật yếu đau. Các cháu ở trong tập thể với nhau càng phải thương yêu nhau như anh chị em ruột thịt. Và phải dũng cảm sửa chữa những khuyết điểm, những thói hư tật xấu để lớn lên làm người chủ của đất nước, đừng để mình là cái gánh nặng của xã hội…

Rồi bác bảo:

– Các cháu có hứa làm được điều Bác căn dặn không nào ?

Một tiếng “có” vang lên, đều khắp và sôi nổi. Bác còn dặn thêm các em là, noi gương dũng cảm của liệt sĩ Kim Đồng trong học tập và rèn luyện, em nào đạt kết quả tốt, được ban phụ trách báo lên Bác, Bác sẽ gửi phần thưởng. Và Bác thân mật hẹn: “Nếu cả trại cùng tiến bộ vượt bậc, Bác sẽ còn về thăm các cháu nhiều lần nữa”.

Ngày hôm ấy, Bác đã đề lại rất nhiều quà để chia cho các em. Nhận phần quà của Bác cho, nhiều em đã không ăn, cất làm kỷ niệm.

Từ hôm đó trong từng đôi mắt của các em, ngời lên niềm vui nhận quà Bác. Em Quốc không lủi ra ngoài trại nữa, mà giữ gìn mình như giữ gìn kỷ niệm quà Bác trong trái tim.

(Hoàng Giai tuyển của nhiều tác giả) -NXB Thanh niên, 1999.

Chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp người anh ruột ở Hà Nội

Cụ Nguyễn Thị Thanh (1884-1954) và Cụ Nguyễn Sinh Khiêm (1888-1950).

Trên căn hộ gác 2 nhỏ hẹp ở khu tập thể Văn Chương (Hà Nội), có lẽ nhiều người biết ở đó có một nhà văn, lại là thương binh nặng ở hạng cao nhất nhưng đã dành suốt cuộc đời mình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, tính đến nay cũng đã 60 năm có lẻ. Đó là nhà văn Sơn Tùng, quê ở xã Diễn Kim, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Kho tư liệu lịch sử do ông sưu tầm về Bác Hồ, về các lãnh tụ khác của Đảng suốt hơn nửa thế kỷ qua có thể nói là vô giá. Nhà văn Sơn Tùng quả là người có cơ duyên và may mắn vì ngay từ những năm đầu chống thực dân Pháp xâm lược, từng được gặp, được trò chuyện thân tình với hai người ruột thịt của Bác Hồ là cụ Nguyễn Thị Thanh và cụ Nguyễn Sinh Khiêm. Chuyện nhà văn kể cho chúng tôi dưới đây được bắt đầu vào buổi chiều tháng 5 nắng nóng lúc ông vừa thoát ra từ một cơn đau do các mảnh đạn M79 còn găm trong đầu…

Bác cả Nguyễn Sinh Khiêm sinh năm 1888, từng bị thực dân Pháp theo dõi sát sao, bị bắt giam nhiều lần. Ngày 16/8/1941, Nguyễn Sinh Khiêm mới được ra khỏi nhà tù của Pháp ở Vinh. Ra khỏi nhà tù đế quốc Pháp ít lâu, Nguyễn Sinh Khiêm cùng thầy học là cụ cử Hồ Phi Huyền – nhà huyền học đi khắp quê hương Nam Đàn, tìm kiếm nơi có phong cảnh đẹp, cuối cùng bác tìm được một vị trí rất đắc địa ở Động Tranh, núi Đại Huệ thuộc địa phận xã Nam Giang, huyện Nam Đàn để đưa hài cốt người mẹ kính yêu Hoàng Thị Loan cát táng ở đó.

Trong những ngày hừng hực không khí cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Nam Đàn, đầu đội mũ calô, vai khoác súng gỗ, bác Nguyễn Sinh Khiêm đã hăng hái cùng với nhân dân địa phương đi diễu hành biểu dương lực lượng cách mạng.

Năm 1946, sau khi cô Nguyễn Thị Thanh ở Hà Nội về, bác Nguyễn Sinh Khiêm lên đường từ Nghệ An ra Hà Nội. Lúc đầu bác đi bộ từ huyện Nam Đàn ra ga Cầu Giát, huyện Quỳnh Lưu quãng đường ước chừng 70 cây số. Lúc bác lấy vé tàu từ ga Cầu Giát, nhiều bà con ở đây đã chạy đến vây kín lấy bác, ai cũng khẳng định đây chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh cải trang để vi hành.

Nhà báo, nhà nghiên cứu Hồ Sĩ Bằng (Viện Mác – Lê nin đã về hưu) lúc bấy giờ là cán bộ huyện Quỳnh Lưu cũng tưởng là Bác Hồ, xúc động nhìn Người. Bởi trông Nguyễn Sinh Khiêm có nhiều điểm giống người em trai Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh lúc ấy. Cụ Nguyễn Sinh Khiêm đã vui vẻ cải chính với bà con, khẳng định mình chỉ là một người dân bình thường.

Tàu đến ga Hàng Cỏ – Hà Nội, cụ Nguyễn Sinh Khiêm vừa bước ra khỏi cổng ga thì đồng bào ở đây lại nhanh chóng ùa đến vây kín. Đông đảo bà con Hà Nội cứ khẳng định đây là Cụ Hồ cải trang để vi hành xem xét tình hình. Bác Nguyễn Sinh Khiêm nói: “Thưa bà con. Tôi là một người dân xứ Nghệ, ra thăm Thủ đô, không phải là Cụ Hồ”. Nhưng đồng bào không tin, cứ mỗi lúc kéo đến mỗi đông, người kín cả vòng trong vòng ngoài, khiến người khách xứ Nghệ không thể đi được.

May là lúc ấy có một số chiến sĩ Công an phát hiện thấy tình hình rất lạ, liền gọi điện về báo cáo lãnh đạo Nha Công an Trung ương. Nội dung báo cáo nêu rõ: “Có một cụ già nói giọng Nghệ Tĩnh, có râu, khuôn mặt rất giống Bác Hồ, nhân dân tin là Bác Hồ nên vây kín chưa đi được. Nhiều khả năng đây là người anh ruột của Bác”.

Lúc ấy, đồng chí Lê Giản – Tổng Giám đốc Nha Công an Trung ương nghe báo cáo, chột dạ liền cử ngay cán bộ đưa xe ra ga Hàng Cỏ đón người khách. Khi được hỏi: “Thưa Cụ, có phải Cụ là anh trai Bác Hồ thì mời cụ lên xe chúng cháu đón về”, bất đắc dĩ có lẽ vì cần thoát khỏi đám đông nên cụ Nguyễn Sinh Khiêm đã lên xe về Nha Công an Trung ương.

Sau đó đồng chí Lê Giản báo cáo với Bí thư của Bác Hồ lúc ấy là ông Vũ Đình Huỳnh nhờ ông báo cáo với Bác chuyện cụ Nguyễn Sinh Khiêm ra thăm… Biết chắc đây là người anh ruột của Bác Hồ, đồng chí Lê Giản mạnh dạn thưa chuyện:

– Thưa bác, bác ra thăm Hồ Chủ tịch mà không thông báo trước để chúng cháu cho xe đón đỡ vất vả.

Vừa nghe xong, cụ Nguyễn Sinh Khiêm trả lời ngay:

– Ông làm chức trách Nhà nước mà ăn nói buồn cười. Lẽ đời thì em thăm anh, chứ anh nào thấy em làm to lại ra thăm. Tôi ra đây là thăm Thủ đô nước Việt Nam mới xem thế nào, chứ không phải thăm em làm Chủ tịch nước.

Nghe nói thế, đồng chí Lê Giản thành khẩn xin lỗi bác Nguyễn Sinh Khiêm.
Khi được nghe báo cáo chuyện người anh Nguyễn Sinh Khiêm ra Hà Nội, Bác Hồ lặng đi, xúc động.

Nhớ lần trước, lúc Bác Hồ đang chủ trì cuộc họp quan trọng bàn chuyện cấp gạo cho quân Tàu Tưởng, khi nghe thư ký thông báo rất nhỏ là có cô Nguyễn Thị Thanh ra thăm, Bác Hồ bàng hoàng cả người, hai tay bám chặt vào bàn để kìm nén nỗi xúc động quá lớn; nhiều người lúc ấy thấy đôi mắt của Bác Hồ rớm lệ…

Gần 40 năm xa quê hương vì việc nước, nay Bác Hồ mới gặp lại người chị ruột và hôm nay lại được gặp người anh ruột Nguyễn Sinh Khiêm. Nhưng tình hình năm 1946 ấy rất phức tạp, nhất là về mặt trị an, an ninh. Nhiều hôm Bác Hồ phải bí mật rời chỗ ngủ để tránh bọn Quốc dân đảng manh động. Nghe người Bí thư Vũ Đình Huỳnh báo cáo, Bác Hồ căn dặn lại đại ý:

– Nhờ chú Huỳnh lo tiếp anh tôi – Anh tôi ở tù ra, cũng thích uống rượu. Nhờ kiếm cho anh tôi một ít rượu trắng, loại ngon; một ít sách báo để anh tôi đọc. Cảm thông với anh là tối nay tôi sẽ đến…

Đêm đầu năm 1946 ấy, trời mưa. Bác Hồ hóa trang mặc áo the, đội ô cùng đi bộ với hai người là Bí thư Vũ Đình Huỳnh và người Thư ký Vũ Kỳ. Sau khi vào phòng làm việc của đồng chí Lê Giản ở phố Trần Hưng Đạo có cửa ra vào phía phố Dã Tượng, Bác Hồ cởi áo the ra. Đồng chí Lê Giản mở cửa phòng riêng. Vừa thấy anh trai, Bác Hồ chạy đến ôm lấy anh khẽ kêu lên: “Anh Cả!”. Tiếng gọi tên anh Cả đầu tiên sau 37 năm trời xa cách biền biệt. Bác Nguyễn Sinh Khiêm cũng ôm lấy Bác Hồ rồi nghẹn ngào thốt lên: “Chú râu đã dài thế này à?”. Rồi hai anh em ôm nhau khóc. Người thư ký nhẹ nhàng khép cửa lại rồi nhè nhẹ lui ra…

Cụ Nguyễn Sinh Khiêm, người anh trai của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người thông minh, có cuộc sống giản dị, phóng khoáng, giàu lòng thương yêu người nghèo khổ. Cụ từ trần ngày 15/10/1950 (tức 23/8 Canh Dần) tại làng Kim Liên, hưởng thọ 62 tuổi. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được tin anh Cả qua đời trong lúc đang bận công tác xa, không thể về được nên đã điện cho Ủy ban Kháng chiến hành chính Liên khu IV bức điện số 1229 nhờ chuyển cho họ Nguyễn Sinh làng Kim Liên, nội dung như sau:

Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu.
Tôi xin chịu tội bất đễ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước.
9/11/1950

Chí Minh

Lịch sử sẽ còn nhớ mãi về những cử chỉ đạo hiếu thuộc nền nếp gia phong của Bác Hồ khi gặp lại hai người ruột thịt. Hiếm thấy một vị Chủ tịch nước nào như Chủ tịch Hồ Chí Minh khi gặp lại người chị ruột của mình đã đứng dậy vòng tay trước ngực mà nói: “Thưa chị…!”

( tổng hợp )

Bác Hồ trong những ngày đầu tiên độc lập

Suốt cả tháng đầu tiên sau ngày đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, Bác Hồ bận rộn hầu như suốt cả ngày lẫn đêm, lo toan những nhiệm vụ quan trọng của đất nước nhưng vẫn quan tâm đến mọi tầng lớp nhân dân từ những việc nhỏ nhất. Người thường căn dặn cán bộ không nên coi thường những việc nhỏ vì việc nhỏ mà làm không tốt thì việc lớn không thể làm xong…

Tối ngày 23/8/1945, Bác Hồ đi đò qua sông Hồng đến làng Gạ. Chiều 25/8, Người vào nội thành Hà Nội và đến ở tầng 2 nhà 48 Hàng Ngang. Bắt đầu từ tối 2/9, Người chuyển đến Bắc Bộ Phủ và ở đây đến cuối tháng 10.

Bắc Bộ Phủ lúc đó gồm tòa nhà số 12 phố Hăngriviơ (nay là phố Ngô Quyền), kéo dài đến sát phía sau Bưu điện Hà Nội, bên phải là văn phòng Khâm sai, bên trái là vườn hoa Chí Linh (nay là chỗ đặt tượng đài Lý Thái Tổ). Sau khi giành chính quyền, Văn phòng Chính phủ cùng một số cơ quan Bộ cũng đến đặt trụ sở trong phủ Khâm sai.

Nhà Bắc Bộ Phủ gồm hai tầng chính và một tầng hầm. Bác ở căn phòng nhỏ trên gác hai trang trí rất giản dị: bàn làm việc, mấy chiếc ghế gỗ mặt đan mây hình lục lăng và chiếc ghế xích đu bằng song. Tầng dưới Bác tiếp khách ở phòng khách cũ, còn phòng ăn chỉ sử dụng khi Chính phủ mở tiệc tiếp thượng khách.

Sáng 3/9/1945, tại Bắc Bộ Phủ (trụ sở tạm thời của Chính phủ). Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phiên họp được tiến hành giản đơn, không có nghi thức.

Ông Vũ Đình Hòa nhớ lại buổi họp quan trọng này: “Các vị bộ trưởng “nhân dân” an tọa xung quanh chiếc bàn dài gỗ mun, trải tấm dạ xanh. Vài người rì rầm, không khí nghiêm trang khác thường. Chiếc đồng hồ treo, khung chạm trổ, gõ tám tiếng trịnh trọng vừa dứt thì cánh cửa một phòng hé mở, ông Đổng lý văn phòng Hoàng Minh Giám khẽ nói: “Cụ Hồ Chí Minh” rồi rời nhanh chỗ ngồi. Cửa phòng mở rộng, Cụ Chủ tịch Chính phủ lâm thời hiện ra. Một ông già thon thon, quần áo kaki vàng nhạt, cổ áo cài khuy, chân bọc trong đôi giày vải đen, êm. Mặt gầy, trán cao, râu đen, dài thưa, điểm vài sợi bạc, đôi mắt sáng lóng lánh như gương…

Tôi tranh thủ vào lúc tạm nghỉ, đến nói nhỏ với anh Hoàng Minh Giám xin hộ với Chủ tịch cho tôi được “yết kiến” Cụ Chủ tịch lúc nào đó vào ngày mai, vì có chuyện gấp ở Bộ Giáo dục mong được Cụ Chủ tịch chỉ giáo… May quá, khi mọi người đã ra về, thì anh Giám báo tin là Cụ sẵn sàng cho tôi gặp ngay lúc này, ở phòng làm việc của Cụ, cuối hành lang. Tôi vội chạy tới, Cụ đã đợi ở cửa. Một phòng nhỏ xíu, vừa là phòng làm việc, vừa là phòng ngủ: một bàn nhỏ, hai ghế tựa, một kệ sách báo, một giường hẹp, gỗ tạp, chiếu cói, màn sô.

Tôi trình Cụ Chủ tịch anh em sinh viên rất nóng lòng muốn biết ngày Chính phủ mở cửa lại các trường đại học và tổ chức thi tốt nghiệp kỳ hai. Các sinh viên đã đỗ kỳ một thì xin được Chính phủ công nhận và cấp bằng. Cụ Chủ tịch tươi cười tán thành yêu cầu của sinh viên, còn ngày giờ và cách thức cụ thể thì tùy Bộ quyết định. Bắt tay tôi tạm biệt, Hồ Chủ tịch còn dặn với: “Chú nên lo ngay việc giải quyết nạn mù chữ cho đồng bào nghèo”.

Hồ Chủ tịch đọc bản tuyên ngôn độc lập tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945.

Để thực hiện dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kính cáo đồng bào về việc tiếp nhân dân và các đoàn thể: “… tôi sẽ vui lòng tiếp chuyện các đại biểu của các đoàn thể như: các báo Việt và Tàu, Văn hóa thế giới, Công giáo, Công hội, Thương giới, Thanh niên, Hoa kiều, Công chức, Phật giáo, Nông hội, Phụ nữ, Nhi đồng… Xin chú ý:

1. Gửi thư nói trước, để tôi sắp thì giờ rồi trả lời cho bà con, như vậy thì khỏi phải chờ đợi mất công.

2. Mỗi đoàn đại biểu, xin chớ quá 10 vị.

3. Mỗi lần tiếp chuyện, xin chớ quá 1 tiếng đồng hồ”.

Thế là cửa trước Bắc Bộ Phủ đông vui tấp nập, nhân dân Hà Nội và các vùng ngoại thành náo nức đến thăm nơi Cụ Hồ ở và làm việc, kể cả bọn Tưởng và quân Đồng minh cũng kéo đến quấy quả Bác từ chuyện gạo, tiền, nhà ở và cả thuốc phiện. Đồng bào ta đến xin gặp Chủ tịch rất đông, cao điểm là hai ngày 6, 7/9 (20 và 32 đại biểu) chủ yếu là báo giới và trí thức cũ.

Một đại biểu trẻ thắc mắc: “Thưa Cụ, Cụ kêu gọi xây dựng đời sống mới sao lại thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư của Khổng Tử đề ra cách đây đã mấy ngàn năm?”, Bác nhìn mọi người cười hiền hậu rồi giải thích bằng cách so sánh rất dễ hiểu: “Tôi hỏi lại chú nhé? Cơm hàng ngày chúng ta ăn có từ bao lâu rồi? Không khí chúng ta thở có từ bao giờ? Thực hiện đời sống mới không phải cái gì cũ cũng bỏ đi hết cả. Những cái cũ mà vẫn thúc đẩy cuộc sống thì cần phải giữ gìn nó”.

Bác làm việc suốt ngày. Thường buổi sáng đầu giờ là cuộc hội ý Thường vụ Trung ương Đảng (Thường vụ vẫn bí mật bố trí cho Bác ở số nhà 8 Lê Thái Tổ ngay sau Thủy tạ. Đây là nhà của ông Hồ Đắc Điềm, một nhân sĩ yêu nước. Sáng sáng, các đồng chí Trung ương trao đổi công việc và ăn sáng cùng Bác, nhưng cũng có hôm Bác ăn và bàn việc luôn ở Bắc Bộ Phủ để tranh thủ thời gian), sau đó là Bác tiếp khách, tiễn khách về là Người lại ngồi viết thư, báo bằng cách cặm cụi mổ cò trên chiếc máy chữ nhỏ mang theo từ chiến khu.

Về Hà Nội, Bác được cấp tiêu chuẩn mỗi tháng 200 đồng cho việc ăn uống. Bữa sáng của Bác thường là cháo hoa với đường cát và quả chuối tráng miệng (lần Cụ Huỳnh Thúc Kháng ra Hà Nội gặp Bác, hai Cụ dùng điểm tâm món xôi ngô và bánh đa nướng). Bữa trưa, Bác thường xuống tầng dưới ăn chung với anh em, có gì ăn nấy. Cơm chủ yếu là rau muống đỏ và muối vừng. Rau làm các món xào, luộc chấm muối hoặc tương bần. Bữa nào sang có cá mè kho mặn.

Một hôm, Bác đang dùng cơm thì Cố vấn Bảo Đại đến thăm, nhìn mâm cơm của Chủ tịch nước chỉ có rau xào, đậu kho và bát canh nên ông ta đề nghị: “Bữa cơm của Chủ tịch thanh đạm quá. Nếu Chủ tịch cho phép tôi sẽ mang thức ăn Huế đến để Chủ tịch dùng”, Bác vui vẻ trả lời: “Cảm ơn Cố vấn, tôi ăn cùng anh em đã thành quen lệ rồi”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Viện Viễn Đông Bác Cổ (10/1945).

Một lần Bác bận việc về muộn, anh em sơ ý quên phần thức ăn nhưng Bác vẫn vui vẻ ngồi vào bàn ăn đủ hai bát cơm như thường lệ. Sau bữa trưa, Bác ngả mình trên chiếc ghế xích đu chợp mắt mươi phút. Tỉnh dậy, Người bắt đầu đọc báo, xem tin. Có hôm Người đi thăm các công sở, văn phòng, bộ đội mà không báo trước.

Buổi tối, Bác cũng thức khuya đọc báo, đọc sách nắm tình hình và để kiểm tra, góp ý với các báo về việc phổ biến chủ trương chính sách của Đảng và đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của bọn phản cách mạng. Những bài quan trọng trên báo chí nước ngoài, Bác đánh dấu để anh em cắt dán vào một tập theo dõi riêng.

Thấy Bác làm việc căng thẳng, ăn uống lại không có gì nên anh em bảo nhau thỉnh thoảng nấu món kha khá bồi dưỡng cho Bác nhưng Người nói ăn không ngon bởi đồng bào cũng đang bị nạn đói đe dọa thì người cán bộ không nên tạo ra một khoảng cách trong sinh hoạt với quần chúng.

Một lần, từ Cao Bằng về Hà Nội gặp Bác báo cáo công việc, đồng chí V.A mặc một bộ quần áo lụa mới được tặng, Bác khuyên: ”Đồng bào cho cũng không nên mặc. Việt Minh mình mới giành được chính quyền mà cán bộ đã ăn mặc đẹp là không nên”. Nhưng trong một lần ngồi nói chuyện, thấy đồng chí cán bộ cứ dúi chân vào gầm ghế vì ngại đi đôi giày mới, Bác bảo: “Giày hỏng thì đồng chí đóng đôi giày mới có gì phải ngại”.

Biết bao công việc phải lo toan nhưng Bác vẫn không quên các cháu thiếu nhi. Ngày tết Trung thu của các cháu, ngày khai giảng năm học mới, Người đều viết thư căn dặn, động viên và đặt niềm tin vào thế hệ trẻ của một nước mới độc lập. Một ngày se lạnh, gió vun vút lùa vào cửa kính, Bác thức giấc khoảng 4 giờ sáng, ngoài đường có tiếng trẻ em rao hàng vọng lên, Người mở cửa ngó nhìn xuống cho tới khi em bé đi khuất mới từ từ khép cửa lại.

Bác thường thức rất khuya và dậy sớm để sửa chữa và bổ sung những nội dung quan trọng đã viết. Mỗi nhiệm vụ Bác đều phân tích cụ thể sâu sắc, chỉ ra việc làm và tự mình làm trước. Sau khi ra lời kêu gọi “sẻ cơm nhường áo” cứ 10 ngày một lần Bác lại nhịn một bữa rất nghiêm túc. Một buổi trưa, Bác bị cảm đột ngột, nhìn thấy Bác gầy rộc, da xanh, mắt trũng sâu, anh em đề nghị Bác không nên nhịn ăn, Người ôn tồn nói: “Bác kêu gọi đồng bào 10 ngày nhịn một bữa thì Bác cũng phải gương mẫu nhịn ăn như đồng bào, chứ các chú nói Bác cứ ăn thì làm gương cho ai được?”.

Có nhiều anh em băn khoăn: vậy thì trong những ngày ấy Bác Hồ chẳng được nghỉ ngơi bao giờ sao? Thư ký của Bác kể rằng: “Trả lời câu hỏi này thật khó. Nói Bác nghỉ ngơi theo nghĩa thông thường thì không, Bác không nghỉ. Buổi sáng, Bác đến Bắc Bộ Phủ từ khi thành phố còn ngủ yên. Bác gọi anh em bảo vệ cùng tập thể dục với mình, sau đó lên phòng làm việc và ngồi ở đó cho tới trưa, nghỉ ăn cơm rồi nằm thiêm thiếp một lát cho đỡ mệt ở đivăng một phòng nào đó (Bắc Bộ Phủ hồi đấy còn rất nhiều phòng để trống, trong đó có nhiều đivăng) hoặc có khi ở dưới phòng anh em bảo vệ.

Chiều cũng như sáng, lúc nào tôi bước vào phòng Bác cũng thấy Bác ngồi trước bàn trong tư thế quen thuộc, đầu cúi, mắt hơi nheo lại vì khói thuốc từ những ngón tay bay lên. Có những hôm đầu óc căng quá, Bác chạy xuống với anh em bảo vệ, hỏi chuyện đời sống của gia đình anh em, tình hình các địa phương quê họ, thậm chí đánh nhanh với họ một ván cờ, rồi quay trở lại ngay lập tức với công việc.

Bác thường ghi ý kiến lên những mẩu giấy nhỏ để chuyển cho những người có liên quan, những vấn đề suy nghĩ Bác cũng ghi lên mẩu giấy vụn như vậy, làm việc xong thì vò nát vứt vào sọt. Có lần, trước khi giao cho đồng chí cần vụ mang đi đốt giấy trong sọt vào cuối ngày (đó là kỷ luật bảo mật, phải nghiêm túc tuân thủ) tôi tò mò xem lại các giấy tờ bỏ đó và phát hiện mấy câu thơ của Bác Hồ. Kể ra, nếu hồi ấy tôi hiểu được rằng trong những mẩu giấy vứt đi ấy có nhiều cái sẽ trở thành tài liệu quý giá soi rọi những thế hệ sau về tư duy của Bác thì tôi đã giữ lại những tờ không nhất thiết phải đốt, và di sản tư tưởng của Bác sẽ phong phú hơn.

Anh Trường Chinh cứ sáng sớm lại gọi điện cho tôi hỏi tình hình sức khỏe của Bác. Anh Nguyễn Lương Bằng thì quan tâm tới chuyện ăn uống hàng ngày của Bác. Nhưng chưa ai kịp nghĩ tới chuyện tổ chức cho Bác được nghỉ ngơi, tôi cũng không biết bày trò gì cho Bác giải trí. Mời Bác đi xem kịch, xem chiếu bóng thì không được rồi. Bảo vệ không nổi, mà Bác cũng chẳng chịu đi, chẳng cần hỏi cũng biết Bác không chịu. Chỉ còn có cách thỉnh thoảng vào phòng Bác, trong câu chuyện công việc tôi kể thêm ít câu chuyện tào lao để Bác được bứt ra khỏi công việc trong chốc lát. Nhưng nói chuyện về các địa phương tôi đã đi qua, về phong tục đặc biệt đâu đó thì Bác nghe, chuyện lan man quá thì Bác đột ngột cắt ngang, bắt tôi quay về với chuyện công việc, hoặc bảo tôi về phòng mình, chuẩn bị cho Bác tài liệu này nọ…”.

Suốt cả tháng đầu tiên sau ngày đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, Bác Hồ bận rộn hầu như suốt cả ngày lẫn đêm, lo toan những nhiệm vụ quan trọng của đất nước nhưng vẫn quan tâm đến mọi tầng lớp nhân dân từ những việc nhỏ nhất, Người thường căn dặn cán bộ không nên coi thường những việc nhỏ vì việc nhỏ mà làm không tốt thì việc lớn không thể làm xong…

( Tổng hợp theo Đỗ Hoàng Linh, Phó GĐ Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch )

Về tên gọi Nguyễn Ái Quốc

“Cuộc kháng chiến là một vấn đề sinh tử của dân tộc Việt Nam. Đó không phải là một vấn đề đảng phái. Chính phủ Việt Nam gồm một đa số các người không đảng phái và một thiểu số đại biểu các đảng phái quốc trong số đó Việt Minh chiếm con số rất nhỏ”. Trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhà báo Mỹ Elie Maissie vào tháng 9/1947.

Với câu hỏi: “Nếu cuộc điều đình không tiếp tục lại một ngày gần đây, Chính phủ Ngài sẽ định thái độ ra sao?”, Bác trả lời: “Chúng tôi sẽ tranh đấu cho tới khi nào giành được thống nhất và độc lập cho Tổ quốc chúng tôi”. Đáp lại câu hỏi về “đại cương chính sách đối ngoại của nước Việt Nam”, người đứng đầu nhà nước Việt Nam kháng chiến khẳng định: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ trên thế giới!”.

“Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và Nhân loại. Muốn đạt mục đích, thì phải Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư ” lưu bút của Bác Hồ trên trang đầu cuốn Sổ vàng của Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương khi đến thăm nhà trường vào tháng 9/1949.

“Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta. Nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ hơn nữa! Chúng ta càng đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ hơn nữa với anh em, bè bạn ta trên thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ đang ra sức ủng hộ chúng ta!. Dù giặc Mỹ hung ác đến đâu, sức mạnh đoàn kết vĩ đại của chúng ta nhất định sẽ đánh thắng chúng. Với sức mạnh đại đoàn kết vô địch, chúng ta nhất định thắng lợi: Đến ngày thống nhất nước nhà/ Bắc Nam sum họp thì ta vui lòng”. Trích thư ngày 6/9/1967 của Bác Hồ gửi Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

 

 

 

Ngũ long.

Ngày 6/9/1919, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, nguyên Toàn quyền Đông Dương là Albert Sarraut mời đến trụ sở để đích thân kiểm tra lai lịch người đã nhận mình tên là Nguyễn Ái Quốc xuất hiện lần đầu trong “Bản yêu sách 8 điểm của Nhân dân Việt Nam” khi thay mặt cho Nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi tới Hoà hội Versaille, Tổng thống Mỹ và một số nguyên thủ quốc gia khác hồi tháng 6/1919. Đây là văn kiện chung của nhóm “Ngũ Long” 5 con rồng) gồm: Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành ký tên chung là “Nguyễn Ái Quốc”. Nhưng để đương đầu với chính quyền thực dân, Nguyễn Tất Thành đã đứng ra nhận mình chính là tác giả văn kiện này và đến gặp Albert Sarraut.

Ngày 7/9/1919, chỉ một ngày sau khi gặp Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc viết thư cho Albert Sarraut tố cáo: “Ngài cho biết là trong 8 điểm yêu cầu của chúng tôi có điểm nào đã được thực hiện…Vì tôi khẳng định là cả 8 điểm đều còn nguyên vẹn và chưa có điểm nào được giải quyết một cách thoả đáng…”. Kể từ đây, cái tên Nguyễn Ái Quốc gắn liền với nhân vật Nguyễn Tất Thành mà sau này còn mang tên Hồ Chí Minh.

( tổng hợp )

Tấm lòng của Bác Hồ với Thủ đô Hà Nội

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện tấm lòng trân trọng, mối quan tâm sâu sắc giàu tình nhân ái và những mong muốn thiết tha về Hà Nội, với Hà Nội.

Kể từ Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gắn bó với mảnh đất Hà Nội. Ngày 26/8/1945, Người từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Tại căn nhà 48 phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam).

Ngôi nhà 48 phố Hàng Ngang, nơi Bác Hồ soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập

Cách mạng tháng Tám thành công đập tan gông xiềng của thực dân phong kiến, nhân dân ta bắt đầu thực sự được làm chủ cuộc đời.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam đọc Tuyên ngôn Độc lập trước quốc dân đồng bào. Sau đó không lâu, thực dân Pháp bội ước, nhân dân Việt Nam không còn cách nào khác phải đứng lên làm cuộc kháng chiến trường kỳ hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Người.

Năm 1954, sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nhân dân ta vừa bắt tay vào công cuộc khôi phục kinh tế ở miền Bắc và tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà thì đế quốc Mỹ leo thang ném bom phá hoại miền Bắc XHCN ngày càng ác liệt, nhằm ngăn cản sự chi viện của tiền tuyến lớn miền Bắc cho hậu phương lớn miền Nam.

Ngày 17/7/1966, từ Thủ đô Hà Nội, Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi vang vọng “Lời kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước của Hồ Chủ tịch”, trong đó có đoạn: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Cũng từ đó, câu nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Người đã trở thành chân lý của thời đại.

Ngay trong những tháng năm chiến tranh ác liệt dưới bom đạn Mỹ, Bác Hồ kính yêu vẫn hàng ngày chăm cá, chăm cây, vui với đàn cháu nhỏ và bàn việc nước bên ngôi nhà sàn giản dị trong vườn cây trái xum xuê ở giữa lòng Thủ đô yêu dấu… Rồi cũng ở Hà Nội, Bác Hồ đã viết những dòng Di chúc trước lúc đi xa, để lại muôn vàn tình thương yêu cho đồng bào, đồng chí, cho dân tộc Việt Nam. Những ngày đầu tháng 9/1969 trời Hà Nội mưa tầm tã như hòa cùng nỗi đau của người dân Việt Nam từ nay vắng hình bóng Bác…

Như vậy, có thể nói, tư tưởng và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh hầu hết được thể hiện ở mảnh đất kinh đô ngàn năm văn vật. Và không chỉ có vậy, Bác Hồ còn thể hiện tấm lòng trân trọng biết ơn, mối quan tâm sâu sắc đầy tình nhân ái và những mong muốn thiết tha về Hà Nội, với Hà Nội.

Kể từ khi giữ cương vị Chủ tịch nước, Người đã có 73 bài viết riêng về Hà Nội, về nhân dân Hà Nội (theo sách Hồ Chí Minh với Thủ đô Hà Nội – NXB Chính trị quốc gia, 2004. Các trích dẫn dưới đây đều ở cuốn sách này).

Nhà thơ Tố Hữu đã nói rất đúng về cách ứng xử rất mực tình người của Bác Hồ: “Giọng của Người không phải sấm trên cao/ Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước”.

Thật vậy, suốt cuộc đời cách mạng, Bác Hồ đã luôn thể hiện là vị “công bộc” tận tụy của dân. Mọi việc làm, từ lời nói đến hành động ở Người đều thể hiện là “người đầy tớ thật trung thành” của nhân dân. Điều ấy thể hiện trước hết ở tấm lòng biết ơn dân.

Ngày 2/9/1945, Hố Chủ tịch đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình

Ngay ở kỳ Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam mới (năm 1946), với sự tín nhiệm tuyệt đối của cử tri, một số đồng bào ta đề nghị Hồ Chí Minh không phải ứng cử. Người đã viết thư cảm ơn: “Tôi rất cảm động thấy toàn thể đồng bào ngoại thành Hà Nội đã có lòng quá yêu tôi, mà quyết nghị tôi không phải ứng cử trong kỳ Tổng tuyển cử sắp tới”.

Sau 9 năm kháng chiến, chúng ta về lại Hà Nội, Người đã có lời cảm ơn thật chí tình: “Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn đồng bào Thủ đô và bộ đội hôm nay long trọng và thân mật chào mừng Chính phủ”. Trong lần Tổng tuyển cử Quốc hội khóa II, Người cũng viết thư cảm ơn đồng bào Thủ đô đã đề nghị Người ứng cử ở khu vực Hà Nội.

Ở một lá thư khác, Người viết:
“Thưa đồng bào thân mến
Sáng nay, một đồng chí cán bộ mời tôi đi “ra mắt cử tri”. Tôi trả lời: Đã bao nhiêu năm lòng tôi luôn luôn ở cạnh đồng bào và tôi tin rằng lòng đồng bào cũng luôn ở cạnh tôi. Xa lạ gì mà phải ra mắt? Nói thế này mới đúng: Tôi đến đây để cảm ơn đồng bào đã nhất trí yêu cầu tôi và các vị khác ra ứng cử vào Quốc hội khóa II ở Thủ đô yêu quý của chúng ta”.

Có lẽ không cần bình luận gì thêm mà mượn một ý của cổ nhân khi nói về thơ hay để nói về những dòng chữ đầy ân tình này của Bác: Thơ (văn) hay là thứ thơ (văn) mà khi đọc lên người ta không còn thấy câu chữ mà chỉ thấy tình người.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có mối quan tâm đặc biệt với nhân dân Hà Nội. Người thường xuyên gửi thư tới các cụ phụ lão, chị em phụ nữ, tới nông dân, công nhân, trí thức… Nhưng Người đặc biệt quan tâm tới tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng Hà Nội.

Bác Hồ với các cháu học sinh Trường Trưng Vương, Hà Nội, năm 1956

Khi Hà Nội mới được giải phóng, những tàn dư văn hóa thực dân còn rơi rớt lại thì Người đã ân cần chỉ ra khuyết điểm của số ít thanh niên Hà Nội: “thanh niên Hà Thành vốn giữ tính kiêu căng, biệt phái…” và chỉ ra cách khắc phục: “Phải làm sao cho tổ chức thanh niên Hà Nội phải thành một khối thanh niên khuôn mẫu cho thanh niên toàn xứ và toàn quốc”.

Trong 10 lá thư, bài viết, bài phát biểu về thanh niên, thiếu niên, sinh viên Hà Nội, Bác Hồ đều khuyên thanh thiếu niên Thủ đô đoàn kết thân ái và chăm chỉ học tập phát huy sáng kiến để thanh thiếu niên cả nước học tập, Người nói: “thanh niên Thủ đô phải làm gương mẫu cho thanh niên cả nước”.

Về mối quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhân dân Hà Nội, có một điều đặc biệt là Bác Hồ rất chú ý tới nhân dân ngoại thành Hà Nội. Người đã có 4 bức thư, bài viết riêng về nhân dân khu vực ngoại thành:

– Gửi đồng bào ngoại thành Hà Nội
– Nói chuyện tại Hội nghị cán bộ làm công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở ngoại thành Hà Nội.
– Bài nói chuyện với cán bộ và nhân dân xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm.
– Bài phát biểu tại Hội nghị sơ kết cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ “bốn tốt” ở khu vực ngoại thành Hà Nội.

Có thể là khi đó người dân ngoại thành Hà Nội còn vất vả nên Người dành mối quan tâm sâu sắc hơn. Người động viên: “Ngoại thành cũng là Thủ đô. Mà “thủ” là đầu, phải đi đầu…” và mong muốn: “Các đảng bộ, chi bộ ở ngoại thành cần lãnh đạo đưa phong trào ngoại thành tiến lên mạnh mẽ hơn nữa, làm cho ngoại thành thật sự trở thành vành đai đỏ của Thủ đô xã hội chủ nghĩa”.

Người xác định vị trí “đầu tàu”, “gương mẫu” của Hà Nội mà “cả nước nhìn về Thủ đô ta. Thế giới trông vào Thủ đô ta” nên Người mong muốn làm sao để cho Hà Nội “thành một Thủ đô bình yên tươi đẹp, mạnh khỏe cả về vật chất và tinh thần”. Hồi mới giải phóng, Người xác định nhiệm vụ trung tâm cho Hà Nội là “giữ gìn trật tự an ninh”, là “ổn định sinh hoạt”, là “vệ sinh sạch sẽ” là “phòng bệnh”. Muốn thế mọi người dân Thủ đô phải đoàn kết, tăng năng suất công tác, phải học tập, phải giữ vững và phát triển thuần phong mỹ tục.

Sau này, trong những lời phát biểu, những bài nói chuyện tại các kỳ Hội nghị Đảng bộ Hà Nội, các đại hội đại biểu nhân dân Hà Nội…, Người rất chú ý tới vấn đề xây dựng và phát triển Thủ đô vững mạnh toàn diện, mà trước hết là phát triển Đảng: “Hà Nội cần phải củng cố và phát triển Đảng, Đoàn Thanh niên Lao động và công đoàn. Đảng bộ Hà Nội cần phát triển thêm thành phần công nhân, nông dân, lao động trí óc và phụ nữ vào Đảng”. Người căn dặn Đảng bộ Hà Nội phải luôn “không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”. Đó cũng là một biểu hiện tư tưởng vì con người hết sức cao đẹp của Bác Hồ kính yêu.

Hà Nội hôm nay ngày càng đổi mới, phát triển để xứng đáng là trái tim của cả nước thì càng phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ: “Thành phố Hà Nội phải làm thế nào để trở thành một thủ đô xã hội chủ nghĩa. Muốn như thế thì mỗi một xí nghiệp, mỗi một đơn vị bộ đội, mỗi một trường học, mỗi một đường phố, mỗi một cơ quan và mỗi một nông thôn ở ngoại thành phải thành một pháo đài của chủ nghĩa xã hội”.

Lời dạy và cũng là mong muốn của Bác Hồ sẽ mãi mãi là động lực thôi thúc nhân dân Hà Nội sát cánh cùng cả nước xây dựng Thủ đô, xây dựng đất nước giàu mạnh trong thời đại mới.

( tổng hợp )

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ

Tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh với nội dung cơ bản là giải phóng người lao động bị áp bức, là độc lập – tự do – bác ái – bình đẳng giữa người với người, thể hiện tình yêu thương vô bờ bến của Người với nhân dân: Nông dân, công nhân, lao động trí óc, cụ già, em bé.

Phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số. Người cho rằng, có giải phóng phụ nữ mới kháng chiến kiến quốc thành công. Giải phóng phụ nữ trước hết phải từ gia đình – tế bào của xã hội, thực hiện bình đẳng giới, một vợ một chồng. Rất sớm, ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo xây dựng Hiến pháp và Luật Hôn nhân và gia đình. Người kêu gọi nhân dân bài trừ tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản, thói gia trưởng trọng nam khinh nữ.

Đại hội Phụ nữ toàn quốc lần thứ 3, họp ngày 9-3-1961. Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự, Người nói: “Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã nêu rõ chính sách nam nữ bình đẳng. Hiến pháp ta đã xác định chính sách đó. Trong mọi việc, Đảng và Chính phủ luôn quan tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận thức rõ địa vị làm chủ và nhiệm vụ làm chủ nước nhà” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, trang 294, NXBCTQG).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhất quán tư tưởng giải phóng phụ nữ phải giải phóng toàn diện về chính trị, tư tưởng, xã hội, giải phóng sức lao động nữ, giúp cho chị em làm việc có hiệu quả nhưng đôi vai không phải gánh nặng và giảm thiểu cường độ lao động chân tay. Người chủ trương đào tạo phụ nữ trẻ trở thành những công dân mới xã hội chủ nghĩa, vừa biết lao động chân tay vừa biết lao động trí óc – tạo mọi điều kiện cho phụ nữ học văn hóa, khoa học kỹ thuật, nâng cao trí thức, tự vươn lên làm chủ bản thân, làm chủ đất nước.

Ngày nay phụ nữ đã và đang thể hiện vai trò không kém gì nam giới. Nhiều chị giữ những trọng trách trong bộ máy Đảng, Nhà nước, đoàn thể. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội nước ta khóa 2002-2007 chiếm 27,3%, đứng hàng đầu châu Á và thứ 13 thế giới. Nhiều chị em là chủ doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho người lao động.

Vận dụng tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh, Đảng ta đã và đang nhất quán thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo việc làm và đời sống của người lao động, trước hết là lao động nữ.

( tổng hợp )

Tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là một hiện tượng hiếm thấy trong lịch sử VN và cả lịch sử thế giới: vừa thấu hiểu sâu sắc văn hóa phương Đông, vừa lịch duyệt văn hóa phương Tây, nhưng cả hai đều trên cơ sở nhuần nhuyễn bản sắc văn hóa VN.

Lại cũng vì nhuần nhuyễn bản sắc VN và thấu hiểu sâu sắc văn hóa phương Tây, đã từng lăn lộn nhiều năm tháng trong nhiều nước phương Tây, ông hiểu nó tận tường, nên ông đối diện với nó một cách rất tự tin, ung dung, không chút mặc cảm. Cũng như vậy, Hồ Chí Minh tiếp thu học thuyết Mác – Lênin và chủ nghĩa cộng sản từ lập trường một nhà ái quốc để tiếp thu và chắt lọc những giá trị của chủ nghĩa Mác-Lênin.

Từ Cách mạng Tháng Tám cho tới kháng chiến thắng lợi

Hồ Chí Minh là linh hồn của những tư tưởng kinh tế kháng chiến. Có thể kể đến những tư tưởng kinh tế chính của Hồ Chí Minh trong thời kỳ này:

1- Vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Chính tư tưởng này về sau, trong thời kỳ đánh Mỹ, đã được tiếp tục thực hiện dưới khẩu hiệu “vừa chiến đấu vừa sản xuất”.

2- Tư tưởng tự lực cánh sinh. VN bước vào cuộc kháng chiến trong tình trạng “tứ cố vô thân”. Do đó, tự lực cánh sinh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Kết quả của tư tưởng đó, như chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết:

“Ta phải làm tự cấp tự túc, dù nó phong tỏa 10 năm, 15 năm ta cũng không sợ”.

“Đương đầu trong một cuộc chiến tranh với một nước mạnh như Pháp mà không phải vay mượn, trong lúc chính Pháp lại nợ chồng chất…”.

3- Tư tưởng lấy dân làm gốc. Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng dân làm gốc được hiểu theo cả hai mặt: phải dựa vào dân để phát triển kinh tế và phát triển kinh tế là để phục vụ dân. Chính Hồ Chí Minh đã giải thích mối quan hệ này:

“Dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân…”.

“Muốn tăng gia sản xuất phải làm thế nào? Không phải Chính phủ bỏ 10 -15 triệu để mở nhà máy, làm thế này thế khác; phải đem hết sức dân, tài dân, của dân… làm cho dân”.

4- Tư tưởng nhiều thành phần kinh tế. Chữ dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là dân tộc. Dân tộc là một khối cộng đồng, gồm nhiều thành phần giai cấp, nhiều thành phần kinh tế. Chủ trương nhiều thành phần kinh tế chính là biểu hiện của tư tưởng đại đoàn kết trong lĩnh vực kinh tế. Hồ Chí Minh thường ít nói tới khía cạnh giai cấp mà thường nhấn mạnh khía cạnh dân tộc, quốc gia.

Khi đụng chạm tới vấn đề giai cấp, ông cũng rất ít nói tới mặt mâu thuẫn, căm thù, mà thường nhấn mạnh vào khía cạnh hỗ tương, nhân ái. Chỉ hơn một tháng sau khi thành lập Chính phủ VN dân chủ cộng hòa, ông đã gửi thư cho giới công thương gia: “Chính phủ nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới công thương trong công cuộc kiến thiết này. Việc nước và việc nhà bao giờ cũng đi đôi với nhau. Nền kinh tế quốc dân thịnh vượng nghĩa là các sự kinh doanh của các nhà công nghiệp, thương nghiệp thịnh vượng…”.

Hồ Chí Minh căn dặn: “Chủ và thợ đều phải nhớ rằng: tăng gia sản xuất chẳng những có lợi riêng cho chủ và thợ, mà còn có lợi chung cho nền kinh tế của Tổ quốc, lợi chung cho toàn thể đồng bào”.

Hồ Chí Minh không kích thích sự kỳ thị của người nghèo với người giàu, cũng không nhìn sự giàu nghèo theo khía cạnh căm thù giai cấp. Ông đã từng tuyên bố về chính sách của Chính phủ là: phải làm cho “nghèo trở nên đủ, đủ trở nên giàu, giàu thì giàu thêm”.

5- Về vấn đề bóc lột giai cấp: Là một người Mácxít, đương nhiên Hồ Chí Minh hiểu được rằng thuê nhân công là bóc lột. Nhưng ông không nhìn sự bóc lột đó với thái độ phủ định một cách đơn giản và máy móc, mà có cân nhắc sự lợi hại đối với sự phát triển kinh tế và đời sống nhân dân.

Một thí dụ điển hình là trong trận lụt năm 1945, vấn đề khẩn cấp là phải đắp lại những con đê đã vỡ, nếu lụt thì lút cả làng. Nhưng đắp đê là một vấn đề kỹ thuật phức tạp phải có các nhà thầu khoán. Lúc đó cũng đã xuất hiện những ý tưởng tả khuynh cho rằng dùng thầu khoán là bóc lột. Hồ Chí Minh đã giải tỏa tư tưởng này: “Thầu khoán tất nhiên là có bóc lột, nhưng thầu khoán đắp đê lúc này là yêu nước”.

6- Tư tưởng kinh tế mở. Hồ Chí Minh là hiện tượng hiếm có ở những nước làm cách mạng vô sản mà lại có một cách nhìn bao dung, thân thiện với toàn bộ thế giới không cộng sản. Không ai kiên cường đánh Pháp như Hồ Chí Minh, nhưng cũng không có mấy ai ở VN lại có nhiều người bạn lớn của nước Pháp và các nước khác như Hồ Chí Minh. Đối với tất cả các nước phương Tây, Hồ Chí Minh đều tìm nhiều cách khác nhau để mở quan hệ hữu hảo. Đối với các nước Thế giới thứ ba, ông cũng đặt quan hệ thân thiện, bầu bạn, anh em.

Ông đã viết rất nhiều thư cho tổng thống Mỹ, bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ, các chính khách Mỹ, các chính khách Anh, các tổng thống của các nước Ân Độ, Pakistan, Myanmar, Indonesia… để tỏ tình đoàn kết. Như vậy, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh không chỉ hướng nội mà còn hướng ngoại. Từng bôn ba khắp các nước phương Tây, ông hiểu thế nào là phương Tây. Ông không nhìn phương Tây bằng con mắt cừu thù và đố kỵ một cách thiển cận. Ông hiểu chỗ nào đáng đề phòng, chỗ nào có thể bắt tay hợp tác.

Ngày 9-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 48, trong đó điều 1 qui định: “Các hãng kỹ nghệ hoặc thương mại ngoại quốc hiện có ở VN vẫn được phép tiếp tục kinh doanh như cũ”.

Ngay trong khi kháng chiến diễn ra dữ dội, ông vẫn tuyên bố: “Chúng tôi rất hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước khác thật thà cộng tác với chúng tôi. Một là để xây dựng lại VN sau lúc bị chiến tranh tàn phá, hai là để điều hòa với kinh tế thế giới và giữ gìn hòa bình”.

Từ sau khi hòa bình lập lại

Có thể nêu một số tư duy kinh tế tiêu biểu của ông trong thời kỳ này:

– Về chủ nghĩa xã hội: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”.

“Hiện nay, chúng ta đang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, một cuộc cách mạng nhằm đánh thắng lạc hậu và bần cùng, để xây dựng hạnh phúc muôn đời cho nhân dân ta, cho con cháu ta…”.

“Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời hạnh phúc”.

– Về làm chủ tập thể: Hồ Chí Minh chính là người đầu tiên ở VN có những định nghĩa ngắn gọn nhưng đầy đủ, mộc mạc nhưng sâu sắc về làm chủ tập thể:

“Ngày nay tất cả những người lao động – lao động chân tay và lao động trí óc – đều phải nhận thật rõ: mình là người chủ nước nhà.

… Đã có quyền hạn làm chủ thì phải làm tròn nghĩa vụ của người chủ. Nghĩa vụ đó là: cần kiệm xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động…

“… Một số khá đông cán bộ và công nhân chưa làm tròn nghĩa vụ của người chủ xí nghiệp, người chủ nước nhà. Do đó mà tổ chức thiếu khoa học, kỷ luật lao động lỏng lẻo, kém ý thức bảo vệ an toàn lao động và bảo vệ của công, thiếu tinh thần trách nhiệm…”.

“Nhà nước ta ngày nay là của tất cả người lao động. Chúng ta có quyền và có đủ điều kiện để tự tay mình xây dựng đời sống tự do, hạnh phúc cho mình. Nhân dân lao động là những người chủ tập thể của tất cả những của cải vật chất và văn hóa, đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Bởi vậy, mọi người đều phải thấm nhuần sâu sắc tư tưởng mình vì mọi người, mọi người vì mình…

“… Đã là người chủ thì phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ. Mỗi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nước nhà. Chớ nên “ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau”.

“… Cán bộ và đảng viên càng phải hết sức phục vụ nhân dân, phải yêu kính nhân dân, phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng”, ra sức học hỏi quần chúng, kiên quyết dựa vào quần chúng… Phải thật thà, ngay thẳng, không được giấu dốt, giấu khuyết điểm, sai lầm. Phải khiêm tốn, gần gũi quần chúng, không được kiêu ngạo, không được chủ quan. Phải luôn luôn chăm lo đến đời sống của quần chúng. Phải chí công vô tư và có tinh thần lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.

“… Phải hết lòng tôn trọng tập thể, phát huy dân chủ nội bộ, tuyệt đối không được độc đoán cá nhân, tự đặt mình cao hơn tổ chức, tự cho phép mình đứng ngoài kỷ luật. Càng có công lao, càng phải khiêm tốn. Chớ vì có ít nhiều công lao mà sinh bệnh công thần”.

“Trách nhiệm cá nhân chính là một hình thức để thực hiện chế độ làm chủ tập thể. Phải tránh tình trạng “cha chung không ai khóc”, ai cũng phụ trách mà không ai phụ trách”.

“Bất kỳ ai, dù quá khứ của họ thế nào, miễn là ngày nay họ thật lòng ủng hộ công cuộc xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà thì chúng ta đoàn kết với họ. Chủ nghĩa Mác – Lênin dạy chúng ta rằng muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù. Mọi người yêu nước và tiến bộ là bạn của ta”.

“Có đồng chí nói: Có những thành phần không tốt, khi trước nó phản cộng sản, nay nó được đề bạt, mình trung thành với cách mạng thì không được chú ý. Không đúng. Bất kỳ ai có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cần cho yêu cầu của cách mạng là phải dùng. Ví dụ, giữa hai đứa con của người trong Đảng và người ngoài Đảng, con của đồng chí mình thì kém, dốt hơn, con của người ngoài Đảng thì thông minh, ngoan ngoãn hơn.

Vậy thì ta nên đưa ai đi (đây là nói về tuyển người đi học nước ngoài – Đ.P.)? Con của người ngoài Đảng hay con của người trong Đảng? Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Đảng không lo riêng cho một đồng chí nào hết. Đảng lo việc cho cả nước”.

“Làm cách mạng thắng lợi đã giành lại ruộng đất, nhà máy, hầm mỏ, đường sắt, bến tàu. Nhưng ruộng đất, máy móc tự nó không đẻ ra của cải. Điều quan trọng là sau khi đã làm chủ được nó, chúng ta phải biết bắt nó đẻ ra của cải ngày càng nhanh, càng nhiều, đời sống chúng ta ngày càng dồi dào, nếu không thì chúng ta thực hiện chủ nghĩa xã hội mà mức sống của chúng ta vẫn hết sức tồi tàn”.

“Muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làm chủ. Chúng ta học tập chính là để có đủ năng lực làm chủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới… Bởi vậy ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở tinh thần hăng hái, mà phải say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm chủ của mình”.

– Về kế hoạch hóa: “Tiến nhanh tiến mạnh không phải là phiêu lưu, làm ẩu. Phải thiết thực đi từng bước, phải tính toán những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể. Chớ đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế…”.

“Mỗi vấn đề phải có một kế hoạch cụ thể, phải đi thật sâu để giải quyết cho kỳ được… Đừng để kế hoạch phình ra, nếu để kế hoạch phình ra thì liệu có khả năng làm được không? Đừng để cho tình trạng mình lại tự lừa mình…”.

– Về hợp tác hóa: “Qui mô hợp tác xã không nên quá to, quá to thì khó quản lý. Cũng không nên quá nhỏ, quá nhỏ thì sức người ít, khó phát triển. Nên tùy theo điều kiện của mỗi địa phương…”.

“Hiện nay các tỉnh đang mở rộng phong trào hợp tác hóa. Việc xây dựng hợp tác xã cần chú trọng đến chất lượng, không nên chạy theo số lượng. Nếu xã, huyện nào cũng có hợp tác xã, mà hợp tác xã không hơn gì các tổ đổi công và gia đình làm ăn riêng lẻ, thì có tốn công tuyên truyền bao nhiêu cũng ít người muốn vào hợp tác xã”.

“Làm sao mà biết được hợp tác xã làm ăn phát triển? Phải căn cứ vào đời sống của nông dân, thu nhập của xã viên càng ngày càng tiến lên”.

– Về dân chủ: “Các chú diễn giảng hai tiếng dân chủ sao mà rắc rối, dài dòng thế? Dân chủ thật ra có nghĩa là: để cho dân “được mở miệng”. Liệu có làm được không, có dám làm thế không?”.

– Về thái độ đối với những sai lầm: Đảng ta có khuyết điểm không? Có. Vì thay đổi xã hội cũ thành xã hội mới đâu phải là dễ. Nhưng lúc nào có sai lầm Đảng ta cũng can đảm nhận sai lầm và quyết tâm sửa chữa”.

“Nhưng sai lầm của Đảng và của chúng ta khác hẳn sai lầm của những bọn khác. Đảng thấy sai thì quyết tâm sửa chữa. Thời đế quốc tư bản có bao giờ nó nói là có sai lầm và xin sửa chữa đâu! Đảng là người nên có sai lầm, nhưng vì có chủ nghĩa Mác-Lênin, với mục đích phục vụ nhân dân, lại có phê bình và tự phê bình, cho nên kiên quyết sửa chữa”.

– Về các phong trào thi đua, các lá cờ: Ở VN đối với những phong trào như: “Mo cơm, mo cà, đi xây dựng chủ nghĩa xã hội”, “Vắt đất ra nước, thay trời làm mưa”, “Nghiêng đồng đổ nước ra sông”…, “Dám nghĩ, dám làm”, “Gió Đại Phong, sóng Duyên Hải, cờ Ba Nhất”… Hồ Chí Minh đã có những lời căn dặn và nhắc nhở thật sáng suốt và chí lý:

“Phong trào ở đây đương phát triển tốt, đương thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật… Nhưng không nên chỉ bốc lên từng lúc, mà phải bền bỉ, liên tục”.

“Phải tránh tình trạng “đầu voi, đuôi chuột”, khi biểu diễn kỹ thuật thì rất khá, nhưng khi sản xuất thì lại không đạt kế hoạch”.

Những lời chỉ bảo đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh hoàn toàn đúng với tư tưởng của Lênin: “Nếu có thể dùng cách xung phong mà chiếm lĩnh được trận địa của chủ nghĩa tư bản thì dễ chịu hơn nhiều. Sai lầm hiện nay chính là ở chỗ chúng ta không muốn hiểu rằng nhất thiết phải hành động một cách khác”.

Kết luận: Qua một số đoạn trích kể trên, cũng có thể thấy rằng có một thời gian khá dài nhiều tư tưởng kinh tế rất quan trọng của Hồ Chí Minh đã không được thực hiện đầy đủ. Chỉ từ ngày đổi mới, đất nước ta mới từng bước khôi phục và thực thi những tư tưởng lớn đó của Hồ Chí Minh. Trong đó mỗi bước thực thi là một bước thành công, mỗi bước ngập ngừng là một lần chậm trễ…

( tổng hợp )

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa tư tưởng hợp tác xã (HTX) vào Việt Nam. Ngay từ khi còn bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã quan tâm đến tổ chức kinh tế quan trọng này. Trong cuốn Đường Kách mệnh viết năm 1927, sau khi phân tích những lợi ích của HTX, Người đã nhấn mạnh: “Tục ngữ An Nam có những câu: “Nhóm lại thành giàu, chia ra thành khó” và “Một cây làm chẳng nên non, nhiều cây nhóm lại thành hòn núi cao”. Lý luận HTX đều ở trong những điều ấy”.

Tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đưa ra khái niệm: “HTX là góp gạo thổi cơm chung, cho khỏi hao của tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ”. Đến năm 1946, Người xác định: “HTX là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh thì khó nhọc ít mà ích lợi nhiều” Người giải thích rõ sự khác nhau giữa hội buôn và HTX ở chỗ: “Hội buôn thì lợi riêng, HTX thì lợi chung” và “HTX tuy là để giúp đỡ lẫn nhau, nhưng không giống các hội từ thiện vì các hội ấy chỉ tiêu đi mà không làm ra… HTX có tiêu đi, có làm ra, chỉ giúp những người trong Hội, nhưng giúp một cách bình đẳng một cách “cách mệnh” ai cũng giúp và ai cũng bị giúp”. Xét theo thành phần kinh tế và tính chất xã hội, Người cho rằng: “Trong chế độ dân chủ mới… các HTX nó là nửa chủ nghĩa xã hội và sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội. HTX là thành phần thứ hai trong năm thành phần kinh tế ở nước ta”.

Xét theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, Người cho rằng: “HTX tức là sở hữu của tập thể nhân dân lao động…. Kinh tế HTX là hình thức sở hữu của nhân dân lao động, Nhà nước đặc biệt khuyến khích, hướng dẫn và giúp đỡ cho nó phát triển” Người khẳng định HTX là khâu chính thúc đẩy cải cách xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, Người cho rằng HTX có thể thành lập ở cả trong công sở, hầm mỏ, xưởng máy, đồn điền… và nhất là ở nông thôn với nhiều loại hình: Tín dụng, tiêu thụ, sản xuất, mua bán,…. Do vậy, nói theo mục đích, Người đã định nghĩa: “HTX nông nghiệp là một tổ chức có lợi cho nhà nông. Nó là một cách tranh đấu kinh tế hiệu quả nhất, để giúp cho việc xây dựng nước nhà” “là một cách làm cho nông dân đoàn kết, làm cho nhà nông thịnh vượng” “giúp cho nhà nông đạt đến mục đích, đã ích quốc lại lợi dân”.

Về mặt bản chất: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi chế độ HTX có nhiều mục tiêu đồng nhất với mục đích CNXH, vì ở một nước tiểu nông khi toàn bộ nông dân tham gia HTX, đó là con đường đi đến ấm no, hạnh phúc, thì cũng có nghĩa toàn bộ xã hội được ấm no, hành phúc, đó thực chất là chế độ XHCN; và chế độ HTX văn minh thể hiện đầy đủ, trọn vẹn các đặc trưng, bản chất của CNXH. Trong vấn đề này V.I. Lênin cũng đã khẳng định như vậy, “hợp tác xã chính là một chủ nghĩa xã hội thu nhỏ”.

Về mục đích: HTX là tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau, mưu lợi chung, chung nhau góp sức cùng có lợi. Hợp tác với nhau để cùng mạnh lên, vươn lên, chống lại sự áp bức, chống lại tình trạng không bình đẳng về kinh tế, xã hội.

Về vai trò: HTX giúp nhau vươn lên, chống lại mọi sự bất công, áp bức về kinh tế-xã hội; là con đường đi lên của người dân vượt qua khó khăn, nghèo đói, xây dựng cộng đồng văn minh, tương thân, tương ái; là một tổ chức dân chủ và cách mạng.

Về nguyên tắc tổ chức: Phải thật sự dân chủ, tự nguyện. Phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống, không rập khuôn cứng nhắc, phát triển một cách tuần tự, không nóng vội, tiến hành từ hình thức thấp đến cao. Bình đẳng, cùng có lợi, thiết thực; và phải có sự lãnh đạo. Các hợp tác xã cũng phải liên kết với nhau.

Những tư tưởng của Hồ Chí Minh về HTX vẫn còn nguyên giá trị trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, khi Đảng và Nhà nước chủ trương tiến hành đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật. Đó chính là một trong những cống hiến xuất sắc của Người đối với cách mạng Việt Nam, mà ngày nay toàn Đảng, toàn dân ta đang thực hiện con đường Người đã lựa chọn.

Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người tổng kết thực tiễn phát triển HTX của các nước trên thế giới, từ HTX đầu tiên ra đời năm 1761 tại Anh, do mấy người thợ dệt vải rủ nhau lập ra một cái hội “làm vải cho tốt và bán giá trung bình trong làng xóm” đến hình thức HTX ở Nga, Pháp, Đan Mạch, Đức, những ý tưởng về HTX trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các nhà nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh đã tổng kết có tất cả 154 tác phẩm của Người đề cập tới HTX, 505 lần, Bác dùng cụm từ ”Hợp tác xã trong các bài viết, bài nói chuyện.

Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về HTX trong tác phẩm: ”Đường Kách mệnh và những tác phẩm sau này của Người, có thể nói đó là những lý luận điển hình, mẫu mực về HTX, là biểu hiện sinh động của sự gặp gỡ giữa văn minh phương Đông nói chung, văn hóa Việt nói riêng. Điều kỳ lạ hơn nữa quan niệm của Bác về HTX lúc đó còn rất đúng với nhận thức hiện nay của quốc tế, trước hết là của Liên minh HTX quốc tế, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và các nước khác theo bản chất, giá trị, những nguyên tắc và cách thức tổ chức HTX.

Có thể rút ra mấy vấn đề lớn từ Tư tưởng Hồ Chí Minh trong vấn đề HTX:

1. Sự ra đời của HTX như là quá trình phát triển lịch sử, tự nhiên và khởi đầu từ nhu cầu thực tế.

2. HTX chứa đựng những tiềm năng của chủ nghĩa xã hội.

3. HTX là quá trình thực hiện một mối liên kết, tương tác, đoàn kết với nhau.

4. Đa dạng hóa các hình thức hoạt động của HTX, vừa độc lập, tự chủ, vừa liên thông HTX.

5. HTX là một tổ chức tự nguyện, bình đẳng và dân chủ.

Theo Người, việc xây dựng và phát triển HTX không phải là sự áp đặt theo lối chủ quan, duy ý chí mà phải được hình thành trên các cơ sở sau:

1. Phải dựa trên cơ sở nhu cầu thực tiễn đòi hỏi mà tổ chức xây dựng HTX cho phù hợp cả về tổ chức và qui mô.

2. Phải dựa trên các nguyên tắc: Tự nguyện, cùng có lợi, quản trị dân chủ. Người viết: “Chuẩn bị tốt là làm cho xã viên tự nguyện, tự giác, không được gò ép, mệnh lệnh và Quản trị phải dân chủ”.

3. Phải dựa trên cơ sở hiệu quả kinh tế. Người viết: “Cần phải nêu cao tính hơn hẳn của HTX bằng những kết quả thiết thực và gọi là HTX bậc cao thì phải đoàn kết cao, sản xuất phải cao, thu nhập chung của HTX phải cao, thu nhập riêng của xã viên phải cao”.

4. Để HTX tồn tại và phát triển thì cần phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. Theo Bác, Nhà nước phải giúp HTX về vốn, về tiêu thụ sản phẩm…. Người nêu: “HTX còn nghèo, thường thường Chính phủ phải giúp đỡ, phải cho vay vốn” “Chính phủ phải cố gắng phục vụ lợi ích HTX” và “cái gốc trong việc lãnh đạo HTX vẫn là Chi bộ Đảng ở cơ sở”.

Thực tiễn hiện nay cho thấy, địa phương nào được cấp ủy quan tâm lãnh đạo, chính quyền quan tâm hỗ trợ, cán bộ HTX nhiệt tình, có tâm huyết, có năng lực quản lý, các nguyên tắc tự nguyện dân chủ trong HTX được phát huy… thì địa phương đó có phong trào HTX phát triển mạnh và có hiệu quả rõ rệt.

( tổng hợp )

Processing….

  

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn

Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế được hình thành rất sớm – từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX. Mặc dù không có một tác phẩm riêng biệt nào tập trung nói về tư tưởng kinh tế, nhưng thông qua các bài viết, phát biểu, nói chuyện của Người đã thể hiện nhiều luận điểm sâu sắc về kinh tế, đặc biệt là về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn là sự cụ thể hóa, Việt Nam hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn.

Khi bàn về vai trò của sản xuất của cải vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển xã hội loài người, Ph.Ănghen đã khẳng định: “Trước hết con người cần phải có ăn, uống, ở, mặc, trước khi lo đến chuyện làm chính trị, khoa học, nghệ thuật và tôn giáo…”(1). Đúng vậy, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của con người về sản phẩm thiết yếu được sản xuất ra từ nông nghiệp ngày càng tăng và đa dạng, phong phú. Vì vậy, phải đặc biệt quan tâm phát triển sản xuất nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Hơn nữa, xét về mặt xã hội, cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại và xây dựng xã hội mới của giai cấp công nhân, Đảng Cộng sản chỉ có thể giành được thắng lợi trên cơ sở xây dựng được khối đại đoàn kết liên minh công nông vững chắc. Tổng kết các bài học kinh nghiệm của công xã Pari, chủ nghĩa Mác khẳng định: Để có thể giành và giữ chính quyền giai cấp vô sản thành thị phải liên minh với giai cấp nông dân, nếu không “bài ca” của giai cấp vô sản sẽ trở thành “bài ai điếu”. Khối liên minh ấy càng phải luôn luôn được giữ vững, tăng cường sau khi giành được chính quyền, thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ở những nước nông nghiệp nếu giai cấp công nhân không nhận thức đúng vị trí của vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì những cải biến xã hội chủ nghĩa sẽ không tránh khỏi những thất bại.

Thấm nhuần những quan điểm trên của chủ nghĩa Mác, trong “Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam”, Hồ Chí Minh khẳng định: “Việt Nam là nước sống về nông nghiệp, nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” (2).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn bắt nguồn từ thực tiễn hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

Các nhà khảo cổ, nông học đều nhất trí cho rằng Việt Nam là một trong những cái nôi của nền văn minh lúa nước. Các sưu tập trống đồng cho ta nhiều họa tiết có liên quan về cây lúa trong đời sống dân cư cổ. Sách “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn đã thống kê: Riêng ở đồng bằng Bắc Bộ có tới 32 giống lúa tẻ và 29 giống lúa nếp, vùng Thuận Quảng có 23 giống lúa tẻ và 5 giống lúa nếp… Trong thời kỳ phong kiến, nhất là triều đại nhà Trần, nhà Lê đã rất quan tâm đến vấn đề phát triển nông nghiệp, đê điều, thủy lợi… vì vậy trong dân gian ngày hội mùa hay lễ mừng cơm mới ở đâu cũng là những ngày hội vui nhất trong năm. Nhưng dưới sự thống trị của phong kiến, đế quốc cái đói vẫn thường xuyên đe dọa cuộc sống của số đông dân cư là nông dân. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ “đồng bào nông thôn đóng góp nhiều nhất cho kháng chiến, hy sinh nhiều nhất cho Tổ quốc. Thế mà đồng bào nông dân lại là những người nghèo khổ nhất, vì họ thiếu ruộng” (3). Cho nên khi trở thành vị đứng đầu nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu chương trình hành động đầu tiên của Chính phủ là cứu đói và tăng gia sản xuất; tấm bằng khen đầu tiên được dành cho thành tích giữ đê chống lụt; những sắc lệnh đầu tiên là bãi bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò; những văn bản ngoại giao đầu tiên phục vụ cho sự nghiệp kiến quốc là: “Sẵn sàng gửi 50 thanh niên Việt Nam ưu tú sang học hỏi kỹ nghệ canh nông ở Hoa Kỳ…”

Về mối quan hệ và vai trò của phát triển nông nghiệp, nông thôn đối với các ngành kinh tế khác của nền kinh tế quốc dân đã được Hồ Chí Minh xác định : “Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện, phải chú ý các mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế … các ngành này phải lấy phục vụ nông nghiệp làm trung tâm” (4). Điều này đòi hỏi mọi chủ trương, đường lối, phương châm, kế hoạch, mục tiêu phát triển của công nghiệp và các ngành kinh tế khác phải lấy nông nghiệp, nông thôn làm đối tượng phục vụ, phải có chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với nông nghiệp và nông thôn. Người nói: “Nông thôn tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm thì ngày càng giàu có. Nông thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất ra. Đồng thời sẽ cung cấp đầy đủ lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị. Như thế là nông thôn giàu có giúp cho công nghiệp phát triển. Công nghiệp phát triển lại thúc đẩy cho nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa. Công nghiệp, nông nghiệp phát triển thì dân giàu nước mạnh”(5). Như vậy, Người không chỉ nhấn mạnh mối quan hệ hữu cơ giữa ngành công nghiệp với nông nghiệp mà còn chỉ rõ vấn đề có tính quy luật trong quá trình điều hành của Nhà nước, thể hiện ý chí của Đảng, nguyện vọng của nhân dân, là cơ sở để đoàn kết khối liên minh công nông.

Về điều kiện kỹ thuật để phát triển kinh tế nông nghiệp đã được Hồ Chí khái quát bằng một bài thơ rất sinh động để mọi người dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện:

“ Nước phải đủ, phân phải nhiều

Cày sâu, giống tốt, cấy đều dảnh hơn

Trừ sâu diệt chuột chớ quên

Cải tiến nông cụ là nền nhà nông

Ruộng nương quản lý gia công

Tám điều đầy đủ thóc bông đầy bồ ” (6)

Về sự cần thiết phải xây dựng và phát triển hợp tác hóa trong nông nghiệp, nông thôn. Theo Người, nước ta với điểm xuất phát là một nước nông nghiệp lạc hậu, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, vì vậy “làm hợp tác xã sẽ có lợi như quy luật tất yếu là: một cây làm chẳng lên non, nhiều cây chụm lại nên hòn núi cao, đồng bào nông gia hăng hái cùng nhau làm việc đó” (7). Bởi hợp tác xã nông nghiệp, nông thôn là chiếc cầu nối đưa nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, đưa nông dân từ chỗ làm ăn phân tán, manh mún lên chỗ làm ăn tập thể, tập trung thống nhất. Phát triển hợp tác xã phải triệt để tuân thủ các nguyên tắc : Tự nguyện, cùng có lợi, quản lý dân chủ, từ thấp lên cao và có sự giúp đỡ của Nhà nước. Hợp tác xã nông nghiệp là điều kiện cần thiết để xã hội hóa nông nghiệp, nông thôn.

Về tính tất yếu phải thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn – Người nhấn mạnh: “Muốn no thì phải sản xuất nhiều gạo. Muốn ấm thì phải sản xuất nhiều vải. Muốn có vải có gạo thì phải có máy móc, phải có nhiều máy và máy tốt. Máy móc là do quá trình công nghiệp hóa mang lại ” (8).

Về tầm quan trọng của thủy lợi hóa trong phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn – Người khẳng định: phát triển hợp tác hóa phải đi liền với công tác thủy lợi hóa, coi thủy lợi là biện pháp hàng đầu của việc canh nông. “Muốn nhân dân ăn no phải đẩy nhanh nông nghiệp. Muốn phát triển tốt nông nghiệp thì phải làm tốt thủy lợi” (9). Bởi khí hậu nước ta không kém phần khắc nghiệt, nắng lắm mưa nhiều hay gây hạn hán, lũ lụt, làm tốt công tác thủy lợi sẽ điều hòa được nước tưới tiêu, góp phần khắc phục thiên tai. Nên có thơ rằng:

“Ơn Đảng như mẹ như cha

Mở mang thủy lợi nhà nhà ấm no

Ấm no không đợi trời cho

Người làm ra nước sức to hơn trời”

Người gọi lũ, hạn là “giặc lũ”, “giặc hạn” phải kiên quyết chống. “Phòng lụt chống lụt như là một chiến dịch lớn trên một mặt trân dài, trong một thời gian khá lâu. Toàn thể đồng bào và cán bộ phải có quyết tâm, vượt mọi khó khăn, làm tròn nhiệm vụ đắp đê, giữ đê, phòng lụt, chống lụt” (10).

Về vai trò của kết cấu hạ tầng sản xuất đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã được Hồ Chí Minh hết sức quan tâm, mở rộng hệ thống giao thông nông thôn là công việc của mọi ngành,mọi cấp.“Đắp đường lớn là do Trung ương phụ trách, Bộ Giao thông chịu trách nhiệm. Nhưng địa phương có thể làm những đường nhỏ. Làng này qua làng khác thì xã tự động làm, nhiều xã đã làm tốt. Nên cho đồng bào thấy rõ lợi ích của việc làm thêm đường xá” (11). Như vậy, Hồ Chí Minh là người đầu tiên khởi thảo phương châm: “Nhà nước và nhân dân cùng làm” cơ sở hạ tầng sản xuất nông nghiệp, nông thôn.

Về công tác cán bộ, đặc biệt là cán bộ quản lý trong nông nghiệp nông thôn– Người nhấn mạnh : “Cán bộ đem chính sách của Đảng và chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là gốc của mọi công việc…Cán bộ nông dân phải tránh bệnh chủ quan hình thức, bệnh giấy tờ. Cán bộ tỉnh phải đến tận các huyện, các xã. Cán bộ huyện phải đến tận các xã các thôn. Cán bộ phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc suy nghĩ. Để thiết thực điều tra giúp đỡ kiểm soát, rút kinh nghiệm, trao đổi kinh nghiệm, giúp đỡ nông dân và học tập dân. Trong các cấp chính quyền cũng như trong các ban lãnh đạo Nông hội phải có những anh em bần nông, cố nông tham gia thật sự”(12)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn rất rộng lớn và phong phú. Trong khuôn khổ có hạn của bài viết này chỉ trích dẫn một số vấn đề đã được Hồ Chí Minh trình bày dưới hình thức ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu, giàu tính nhân văn, thể hiện tình cảm và sự quan tâm sâu sắc của Người đối với nông dân, nông nghiệp, nông thôn nước ta. Hướng tới kỷ niệm lần thứ 120 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cùng nhau ôn lại và vận dụng tốt những lời dạy của Người về nông dân, nông nghiệp, nông thôn vào nhiệm vụ công tác của mình cũng là việc làm có ý nghĩa hết sức thiết thực hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1): Mác-Ănghen tuyển tập, NXB Sự thật, HN, 1962, tập 2, tr 264.

(2): Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, HN, 1995-1996, tr 215.

(3): Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, NXB Chính trị quốc gia, HN, 1995-1996, tr 587.

(4): Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, NXB Chính trị quốc gia, HN, 1995-1996, tr 352.

(5): Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý kinh tế, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội, NXB Thống kê, HN, 2004, tr 162.

( tổng hợp )

Tư tưởng Hồ Chí Minh về doanh nghiệp, doanh nhân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về doanh nghiệp, doanh nhân ra đời cách đây hai phần ba thế kỷ nhưng luôn mang giá trị trường tồn.

Nếu biết vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng của Người thì doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện không chỉ đi vững, phát triển mà còn có khả năng cạnh tranh cao với thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi mọi lực lượng dân tộc đều là nguồn lực của cách mạng. Người thấy rất rõ vai trò của doanh nhân trong công cuộc xây dựng đất nước. Trong bức thư gửi giới công thương ngày 13/10/1945 Bác viết: “Trong lúc các giới khác trong quốc dân ra sức hoạt động để giành lấy nền hoàn toàn độc lập của nước nhà, thì giới công thương phải hoạt động để xây dựng một nền kinh tế và tài chính vững vàng và thịnh vượng. Chính phủ, nhân dân và tôi sẽ tận tâm giúp giới công thương trong cuộc kiến thiết này”. Người đã thể hiện một cách nhìn rất biện chứng: coi hoạt động công nghiệp, thương nghiệp là một nghề và có mối quan hệ hữu cơ giữa quyền lợi cá nhân và quyền lợi nhà nước, với quan điểm dân có giàu thì nước với mạnh.

Nắm đằng gốc

Theo Thạc sĩ Lê Thị Hoa, giảng viên ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội: Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc đào tạo cán bộ. Theo Người, cán bộ là nguồn vốn của nhà nước, “là cái gốc của mọi công việc” “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Đối với vấn đề cán bộ quản lý kinh tế, Người ví như tiền vốn của đoàn thể. Đó chính là điều kiện quan trọng nhất của sản xuát kinh doanh và đảm bảo có lãi. Người quản lý kinh tế giỏi theo Hồ Chí Minh cần phải có đủ các đức tính: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có tri thức, kiến thức chuyên môn vững vàng, nắm vững lý luận, sâu sát thực tế, có lý trí vững chắc, tình cảm trong sáng, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chính trị và khoa học, chấp hành đúng pháp luật, hiểu biết về pháp luật. Trong vấn đề quản lý kinh tế, Người đặc biệt quan tâm tới việc chống tham ô, lãng phí, mà cán bộ quan liêu là nguồn gốc phát sinh ra lãng phí, tham ô.

Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước, vấn đề chống tham nhũng, lãng phí đang là vấn đề nóng hổi nó không chỉ có ý nghĩa trong lĩnh vực kinh tế và quản lý kinh tế mà còn là uy tín chính trị của Đảng và Nhà nước, là sự tồn vong của chế độ xã hội. Và những chỉ dẫn của Người về vấn đề này thực sự là kim chỉ nam cho hành động của chúng ta. Thực tế cho thấy lúc nào và ở đâu vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ quản lý kinh tế thì đều tránh được thiếu sót, tiêu cực xảy ra.

Sử dụng đòn bẩy

Bên cạnh vấn đề then chốt là cán bộ quản lý kinh tế, sinh thời, trong hệ thống tư tưởng về kinh tế, Hồ Chí Minh đã dành một phần không nhỏ cho việc nghiên cứu và đưa ra các quan điểm về việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo động lực xây dựng nền kinh tế mới.

Theo PGS. TS Phan Huy Đường – Chủ nhiệm bộ môn Quản lý kinh tế Trường Đại học Kinh tế- ĐHQG Hà Nội: Người rất coi trọng vai trò động lực của các đòn bẩy kinh tế đó là tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, coi trọng lợi ích vật chất của người lao động, thực hiện công bằng xã hội, cải cách hành chính và trọng dụng tài năng của nhà quản lý.

Thứ nhất, đối với gia tăng sản xuất và thực hành tiết kiệm Người coi “Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm là con đường đi đến thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúc cho nhân dân”. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945, Hồ Chí Minh đã quyết định phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất và cứu đói kêu gọi nông dân “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay”. Người nhận định: “Sản xuất và tiết kiệm cũng như dòng nước, cải thiện đời sống cũng như chiếc thuyền, nước càng sâu thì thuyền càng cao. Muốn cải thiện không ngừng thì phải không ngừng gia tăng sản xuất và thực hành tiết kiệm.”

Theo Hồ Chí Minh bên cạnh việc tiết kiệm tích lũy vốn phục vụ sản xuất thì việc huy động vốn trong dân cũng là một biện pháp hữu hiệu trong các đòn bẩy kinh tế. Người yêu cầu: “Huy động tiền nhàn rỗi trong nhân dân nhằm đưa vào sản xuất thì đồng tiền ấy mới sinh sôi, nảy nở và ngày càng thêm nhiều”.

Thứ hai, phải xây dựng được kế hoạch phát triển kinh tế đúng đắn. Người coi đây là biện pháp hàng đầu, đòn bẩy mang tính phổ quát để phát triển kinh tế nước ta. Trong quá trình xây dựng kế hoạch, Hồ Chí Minh đưa ra yêu cầu, kế hoạch phải có tầm nhìn xa, thấy rộng nhưng khi đi vào thực hiện thì mỗi ngành, mỗi nghề phải rất tỉ mỉ, chu đáo và thật sát với mỗi cơ sở. “Đặt kế hoạch thật tốt, thật sát là rất cần nhưng đó mới chỉ là bước đầu. Kế hoạch 10 phần thì biện pháp cụ thể phải 20 phần, chỉ đạo thực hiện sát sao 30 phần. Có như thế mới chắc chắn hoàn thành kế hoạch”.

Thứ ba là coi trọng những động lực về nhu cầu và lợi ích của người lao động. “Có thực mới vực được đạo” – Hồ Chí Minh thấy rất rõ lợi ích cá nhân là “Phải thực hiện ban khoán một thưởng. Nếu ai thực hiện vượt mức quy định thì được thưởng. Có như thế mới kích thích mọi người cố gắng hơn nữa. Thưởng, phạt phải công bằng”. Theo Người, chính sách tiền lương chính là một trong những đòn bẩy quan trọng bởi tiền lương chính là thước đo giá trị sức lao động mà người lao động bỏ ra. Tiền lương không phù hợp còn là một trong những nguyên nhân của nhiều căn bệnh như: tham ô, tham nhũng…

Thứ tư là cần thực hiện công bằng xã hội trong phát triển kinh tế. Theo Người, thực hiện công bằng xã hội chính là giải quyết mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mói thành viên trong xã hội. Bác từng phát biểu “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”.

Thứ năm là chính sách khoán. Khi nói về chế độ làm khoán, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Chế độ làm khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội, nó khuyến khích người công nhân luôn tiến bội, cho nhà máy tiến bộ.” Khoán là đòn bẩy kinh tế bởi nó có ý nghĩa khuyến khích tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế

Thứ sáu là Hồ Chí Minh nêu quan điểm phải cải cách hành chính nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước. Người chỉ ra rằng: giảm đến mức tối thiểu số người làm việc hành chính, tăng cường cho sản xuất trực tiếp.

Trên đây mới chỉ là những lát cắt mỏng về tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với doanh nghiệp, doanh nhân nhưng có thể khẳng định di sản lý luận mà Người để lại trong đó có tư tưởng về doanh nghiệp doanh nhân và phát triển kinh tế vẫn còn nguyên tính thời sự. Nếu được vận dụng một cách nhuần nhuyễn đó thực sự là kim chỉ nam dẫn dắt chúng ta trên mỗi chặng đường xây dựng và phát triển đất nước, tạo cơ sở lý luận cho việc xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

( tổng hợp )

Processing….

Tư liệu ít được đề cập trong thời kỳ Bác Hồ hoạt động ở Thái Lan

Hoạt động bí mật của Bác Hồ ở Thái Lan những năm 1928 -1929 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trực tiếp chuẩn bị sự ra đời của Đảng Cộng sản nước ta vào năm 1930. Song cho đến nay, không nhiều tư liệu đề cập cụ thể tới lý do tại sao Bác tới Thái Lan vào thời điểm đó và địa danh nào là nơi mà Bác đặt chân đầu tiên ở Thái Lan?

Trang 143 cuốn Nguyễn Ái Quốc trên đường về nước của tác giả Hoàng Thanh Đạm, Nhà xuất bản Lý luận chính trị năm 2005, nêu với đại ý: Đầu tháng 6.1928, ông Nguyễn đáp tàu thủy của Nhật Bản qua Sri Lanka tới Bangkok, thủ đô của nước Xiêm (Thái Lan). Tháng 7.1928, các đồng chí Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Phichit, miền Bắc nước Xiêm, đã được gặp lại Nguyễn Ái Quốc, người thầy, người lãnh tụ của mình.

Liên quan tới nội dung trên, trang 55 cuốn Hồ Chí Minh, vị thánh sống của tác giả Sukprida Banomyong, xuất bản lần thứ nhất tại Thái Lan tháng 7.2009, nêu: khi tàu thủy cập bến Bangkok, ông Nguyễn Ái Quốc đến thẳng chùa Từ Tế nằm trên phố Rachavong. Ông Nguyễn chọn nơi đây làm địa chỉ đầu tiên ở Thái Lan vì đã có liên hệ với vị sư người Việt Nam trụ trì chùa Từ Tế (tên Thái Lan là Vắt Locanụkhrọ).

Vậy thực hư về chùa Từ Tế ở Bangkok và lai lịch vị sư người Việt Nam trụ trì ra sao? Câu hỏi này phần nào được giải đáp qua bài viết Bí ẩn về những ngôi chùa Việt Nam tại Bangkok đăng trên số 82 báo Thể thao&Văn hóa ngày 9.8.2005. Nội dung bài báo cho biết: Quả thật, Từ Tế tự là một trong số những ngôi chùa cổ Việt Nam ở giữa thủ đô Bangkok, Thái Lan. Tên chùa ngày nay vẫn rành rành bằng tiếng Thái Lan có thể phiên âm là Vắt Locanụkhrọ. Diện mạo ngôi chùa ngày nay rất khó nhận ra dấu tích Việt bởi kết quả của đợt trùng tu hồi cuối năm 2000. Chứng tích hùng hồn lưu giữ trong chùa lưu lại trên một bia đá kích thước khoảng 1m x 1,5m. Tấm bia được khắc bằng ba ngôn ngữ, theo thứ tự từ trái sang phải: Việt – Thái – Trung Quốc. Đại ý phần tiếng Việt cho biết: Ngày 28.4.1952, khởi công dỡ bỏ chùa cũ đã hơn 100 năm để xây dựng chùa mới. Người chủ trì công việc là sư cả pháp danh Bình Lương, tên thật là Phạm Ngọc Đạt. Ông rời Việt Nam sang Thái lúc khoảng 22 tuổi. Năm 1914, ông quy tu tại chùa Khánh Thọ. Trụ trì chùa là Hòa thượng Hạnh Nhơn đã cho ông Đạt pháp danh Thượng Trương Thiệt Hạ Bình, tên chữ là Bình Lương. Năm 1937, sư Bình Lương được cử trông nom chùa Phổ Phúc Phong. Ông được các vị vua thứ 7 và thứ 9 của Thái Lan phong sắc vào các năm 1937, 1948. Nhờ vậy, sư Bình Lương đã đứng ra xin phép xây dựng lại chùa Từ Tế và cho khắc tấm bia này để đời sau biết.

Lai lịch của vị sư trụ trì mang tục danh Phạm Ngọc Đạt như thế nào?

Nép mình khiêm tốn bên Hồ Tây thơ mộng ở thủ đô Hà Nội có chùa Hoằng Ân, thôn Quảng Bá, xã Quảng An, quận Tây Hồ. Ngôi chùa được gắn biển “Di tích lịch sử văn hóa đã xếp hạng”. Vị trí trang trọng trong khuôn viên tĩnh lặng của chùa đang treo tấm khung khổ A0, giấy trắng khiêm tốn, chứa đựng nét chữ rất điêu luyện với nội dung sau:

Hòa thượng Bình Lương tên thật là Phạm Ngọc Đạt (tức cụ Sư Ba) sinh năm 1882 tại xã Sơn Bằng, Hương Sơn, Hà Tĩnh, trụ trì tại chùa Từ Tế, thành phố Bangkok, Thái Lan. Hòa thượng Bình Lương tham gia phong trào cách mạng từ thời kỳ Phan Đình Phùng khởi nghĩa và sang Thái Lan sau thời gian đó cùng cụ Hồ Thiện. Hòa thượng Bình Lương trụ trì chùa Từ Tế với lòng nhiệt tình yêu nước thiết tha, mong muốn nước nhà tự do, độc lập. Hòa thượng hết lòng ủng hộ cách mạng. Chùa Từ Tế là nơi nuôi dưỡng và che giấu cán bộ cách mạng hoạt động bí mật.

Ngay từ năm 1930-1935, ngôi chùa Hòa thượng Bình Lương trụ trì đã là nơi tiếp đón, nuôi giấu nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đặc biệt từ năm 1940 trở đi, chùa Từ Tế là nơi các cán bộ đi lại hội họp, đi về hoạt động trong nước và sang Lào giúp đỡ phong trào cách mạng Lào.

Từ năm 1945, giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, đứng đầu là Hồ Chủ tịch được toàn thể nhân dân đoàn kết chiến đấu. Nhiều Việt kiều ta ở Lào, Campuchia phải tạm lánh sang Thái Lan để tiếp tục chống Pháp.

Chùa Từ Tế lại là nơi không chỉ có cán bộ đi lại hội họp mà còn là nơi cán bộ chiến sĩ qua lại, đi từ trong nước hoặc qua Miên, qua Lào cùng tạm trú nơi này. Từ năm 1950, khi chính phủ phản động Thái Lan dồn ép Việt kiều, Hòa thượng vẫn kiên quyết giữ cho ngôi chùa là nơi đi lại hợp pháp của cán bộ ta để hoạt động.

Hòa thượng Bình Lương thấm nhuần sâu sắc đức tính từ bi của đạo Phật. Khi Việt kiều tản cư sang Thái Lan đã được giúp đỡ ở chùa, có nhiều người được nuôi nấng ăn học chu đáo.

Ngày 9.3.1963, do sức khỏe giảm sút và thể theo nguyện vọng thiết tha, hòa thượng Bình Lương đã được về nước sống những năm tháng cuối đời trên quê hương thân yêu và được gặp lại Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến.

Do sự thỏa thuận của ta và Hội Hồng thập tự Thái Lan, ta đã tổ chức một chuyến bay đặc biệt đưa cụ từ Bangkok qua Vientiane đón cụ về và cũng từ ngày 9.3.1964 nhiều lần Bác Hồ vào thăm Hòa thượng tại Bệnh viện Việt-Xô.

Hòa thượng Bình Lương viên tịch ngày 20.4.1966, thọ 84 tuổi. Tang lễ được cử hành tại chùa Quán Sứ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay mặt Hồ Chủ tịch đến đặt vòng hoa kính viếng.

Hòa thượng Bình Lương chắc chắn có đóng góp vô cùng quan trọng cho công cuộc kháng chiến, đấu tranh giành thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo tài tình của Bác. Hơn thế nữa, nhân cách, đạo đức vĩ đại của Bác Hồ đã khiến vị chân tu đắc đạo, được hai lần phong sắc bởi các vị vua nắm ngai vàng của đất nước Thái Lan tôn sùng Phật giáo như Quốc đạo, nhất quyết rũ bỏ tất cả, trở về Hà Nội đang mịt mù khói lửa bởi niềm thôi thúc ước nguyện được gặp Bác.

( tổng hợp )

Processing….

 

Trả Lời Với Trích Dẫn

Thích

Tặng Vàng  


::blank::

  1.  
  2. 29-10-2010 09:30 AM #93

Adonis

 

Tấm Lòng Vàng: 0


Tham gia ngày

Jul 2004

Vị trí

BacBaPhi”s Everlasting Love

Bài gởi

21,732

:
0 For This Post
906 tổng số

Cảm Ơn

4,655

Được Cảm Ơn 1,527 lần trong 793 Bài Viết

Vàng (TOP! 11)

2,490,693

Sent 14 thank(s)
Received 5 thank(s)

PET : Ladieskiller

 

Level : 1
HỆ : Thủy
Hp: 15 / 15

 

Exp:2 / 20

 

Tài sản

      

Hồ Chí Minh trong mắt một người từng “ở phía bên kia”

Một bài viết dài hơn 17.000 chữ (gồm cả những phần trích dẫn về Hồ Chí Minh mà tác giả – Giáo sư Trần Chung Ngọc, một tên tuổi trong giới học thuật người Việt ở Mỹ – chỉ đặt một cái tít thể hiện sự khiêm nhường của người viết: Vài nét về “Cụ Hồ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm một gia đình nông dân Mông Cổ, tháng 7/1955.

Đối với Giáo sư Trần Chung Ngọc, sự khiêm nhường như vậy không xuất phát từ thực tế là ông từng cầm súng trong hàng ngũ ngụy quân cả thời Pháp lẫn thời Mỹ xâm lược Việt Nam, dù điều đó có khiến ông cảm thấy “viết về ông Hồ lại càng khó hơn” như ông giãi bày. Cái chính là, theo lời ông, “viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ”.

Điều đáng trân trọng là Trần Chung Ngọc viết về Hồ Chí Minh với “một sự lương thiện trí thức”, “một sự hiểu biết đúng đắn” – dẫu có “giới hạn” như Giáo sư tự nhận – “về cuộc đời của ông Hồ, và nhất là, về ông đã làm gì cho đất nước Việt Nam” để phản bác lối viết “theo cảm tính thù hận Quốc gia chống Cộng, trong khi thực sự không hiểu, không biết gì về Hồ Chí Minh” của những kẻ “thuộc giới chống Cộng cực đoan” chuyên “đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng v.v… nhằm ám sát tư cách cá nhân” với “những cường điệu chứng tỏ trình độ thấp kém về lịch sử của người viết”.

Tuy chỉ là “vài nét”, nhưng Giáo sư Trần Chung Ngọc đã làm rõ được hai điều rất quan trọng về Hồ Chí Minh. Đó là “những gì đã tạo nên ông Hồ” và “ông (Hồ) đã làm gì cho đất nước Việt Nam”.

Để giúp người đọc hiểu thêm về “những gì đã tạo nên ông Hồ”, Trần Chung Ngọc đã trích dẫn những đoạn dài trong một cuốn sách của nhà báo lừng danh thế giới Wilfred Burchett (1911-1983) viết về Hồ Chí Minh (lời dịch của Trần Chung Ngọc):

“Sự thực là người nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ. Anh ta biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của anh ta – không chỉ vì đất nước anh ta có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn Mỹ để mà biết đến – mà vì những điều này đã thấm vào trong người anh ta từ sữa mẹ. Ngay từ bé, anh ta sống trong một môi trường tràn ngập với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, hoặc qua những màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2.000 năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát di động, hoặc những truyền thuyết về các “thành hoàng làng”, hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đã bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị đàn áp bởi ngoại nhân nên đòi hỏi một sự đứng lên để chống đối v.v…

Sự hiểu biết về 2.000 năm tranh đấu chống kẻ xâm lăng có đầy trong dòng máu của người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất. Chỉ một điều này cũng là một nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, một sự tin tưởng vào tương lai và coi thường những kẻ toan tính phá vỡ những đức tính mà những chuyên viên trong cái “hồ tư duy” (think tank) của Mỹ không thể hiểu được”.

“Ông Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những điều trên. Và đúng là, cũng như một cái gì đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái gì đó trong Hồ Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm”.

“Một vấn đề mà Tổng thống Nixon cũng như các vị tiền nhiệm có thể không lưu ý đến nhưng chắc chắn là dân Việt Nam không thể không biết, đó là Hồ Chí Minh là của toàn thể quốc gia Việt Nam. Không có một lằn ranh giới nào ở Vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ”.

Phút thư giãn của Bác tại Chiến khu Việt Bắc.

Giáo sư Trần Chung Ngọc cho rằng Burchett viết hay, “không phải vì tác giả ca tụng ông Hồ, mà tác giả đã viết về những gì đã tạo nên ông Hồ: Không phải thuần túy chỉ là Marx, là Lênin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2.000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đã tạo nên ông Hồ”.

Giáo sư Trần Chung Ngọc đã chắt lọc từ hàng trăm tài liệu khảo cứu mà ông đọc về Hồ Chí Minh để tìm ra điều được coi là hồn cốt của những gì mà Hồ Chí Minh đã làm cho đất nước Việt Nam – độc lập và thống nhất Tổ quốc. Đúc kết được điều đó vì Trần Chung Ngọc hiểu được rằng “mục đích không hề thay đổi của ông (Hồ) là thực hiện nền độc lập và thống nhất của Việt Nam”.

Trần Chung Ngọc cũng trích dẫn ý kiến của nhiều học giả và sử gia Âu – Mỹ đánh giá về tầm vóc quốc tế của Hồ Chí Minh. David Thomas, một cựu quân nhân Mỹ, Giáo sư nghệ thuật, Đại học Boston, người từng tổ chức một cuộc triển lãm tranh ảnh Hồ Chí Minh ở Oakland, California, theo trích dẫn của Trần Chung Ngọc, coi Hồ Chí Minh là “con người đã làm thay đổi bộ mặt lịch sử thế giới”.

Thomas nói: “Tôi kính trọng tính chính trực của ông ta (Hồ Chí Minh). Có vẻ như là ông ta chỉ có một nhiệm vụ trong đời, và đó là giải phóng Việt Nam ra khỏi người Pháp, và ông ta đã thành công. Hãy suy nghĩ về điều đó, một quốc gia nhỏ bé như Việt Nam đã đánh bại một nước như nước Pháp và quay lại đánh bại chúng ta. Điều này chưa từng có trong lịch sử. Và tôi kinh ngạc bởi điều đó. Chúng ta phải ngưỡng mộ con người đã làm được như vậy”.

Rõ ràng là nhờ có Hồ Chí Minh mà “thế giới đã biết nhiều hơn về Việt Nam và không còn dám coi thường Việt Nam tuy Việt Nam vẫn còn là một nước tương đối nghèo và kém phát triển” như lời Trần Chung Ngọc.

Xin lưu ý là những điều Trần Chung Ngọc viết về Hồ Chí Minh cũng như những nội dung mà ông trích dẫn từ các nhà báo và học giả phương Tây đánh giá về Hồ Chí Minh không nhằm ca ngợi Người mà nhằm nói lên một sự thật để phản bác những luận điệu của bọn bồi bút chống Cộng luôn tìm cách xuyên tạc thân thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trần Chung Ngọc coi những kẻ này mà điển hình là Minh Võ và Huỳnh Lương Thiện là “lớp người chỉ viết bậy, cốt hả lòng thù hận, cho nên không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến trình độ, và không cần đến liêm sỉ”.

Điều mà Giáo sư Trần Chung Ngọc muốn thể hiện qua bài viết của ông là sự thật về Hồ Chí Minh không thể bị xuyên tạc. Thay cho lời khẳng định, ở phần cuối bài, ông đã dẫn lời Jules Archer, một học giả người Mỹ, viết trong cuốn “Ho Chi Minh”:

“Khi những trang sách về cuộc đời của ông được cân nhắc, và hòa bình sau cùng tái lập trên đất nước thê thảm của Việt Nam, ông Hồ Chí Minh sẽ vĩnh viễn được các nông dân đã từng yêu kính và đứng sau lưng ông, coi ông như là một người Việt Nam vĩ đại nhất trong lịch sử của họ – người “Bác” kính ngưỡng của nước ông”.

“Cộng sản hay không, ông Hồ Chí Minh cũng sẽ đi vào lịch sử như là một người Việt Nam yêu nước vĩ đại, là một trong những khuôn mặt phi thường của thế giới trong thế kỷ này”.

( tổng hợp )

Processing….

 

Trả Lời Với Trích Dẫn

Thích

Tặng Vàng  


::blank::

  1.  
  2. 29-10-2010 05:53 PM #94

Adonis

 

Tấm Lòng Vàng: 0


Tham gia ngày

Jul 2004

Vị trí

BacBaPhi”s Everlasting Love

Bài gởi

21,732

:
0 For This Post
906 tổng số

Cảm Ơn

4,655

Được Cảm Ơn 1,527 lần trong 793 Bài Viết

Vàng (TOP! 11)

2,490,693

Sent 14 thank(s)
Received 5 thank(s)

PET : Ladieskiller

 

Level : 1
HỆ : Thủy
Hp: 15 / 15

 

Exp:2 / 20

 

Tài sản

      

Bác Hồ bắt đầu viết truyện như thế nào

Tháng 11 năm 1960, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất của nhà đại văn hào Nga Lev Tolstoi, ban biên tập báo Văn học Liên Xô có gửi thư đề nghị Bác Hồ của chúng ta kể lại một vài kỷ niệm của Người liên quan đến con người và sự nghiệp của Lev Tolstoi. Bài viết của Bác Hồ đã đăng trên số báo ra ngày 19 tháng 11 năm đó. Đây là một bài viết ngắn, rất lý thú. Thông qua đó, chúng ta có thể biết vị lãnh tụ kính yêu của chúng ta bắt đầu viết truyện như thế nào.

 

Bấy giờ là vào khoảng sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất (quãng sau 1918), Bác Hồ còn đang làm thợ rửa ảnh ở Paris. Theo chương trình Người đặt ra, thì tối tối, sau khi ở xưởng về, bao giờ Người cũng đọc thêm một số trang tiểu thuyết Pháp để trau dồi trình độ ngoại ngữ và để giải trí.

Một lần, qua người bạn, Người có được một tập truyện mỏng của Lev Tolstoi. Đó là câu chuyện thông qua đề tài tình yêu, tác giả chỉ trích đạo đức phong kiến. Với cách viết rõ ràng, dễ hiểu, Lev Tolstoi đã khuấy động tâm trí của chàng thanh niên đang chất chứa trong mình bao hoài bão.

Ngay lập tức, vị lãnh tụ tương lai của dân tộc ta đã vùng dậy khỏi giường, mặc dù bấy giờ trời rất rét. Người nói to: “Viết một cuốn truyện ngắn chẳng có gì là khó. Mình cũng có thể viết được”.

Từ đó, sáng dậy, trước khi đi làm, Người để dành chừng một giờ để viết. Sau một tuần vất vả, tác phẩm được hoàn thành. Người mang đến tòa soạn báo Nhân Đạo và nói với các thành viên ban biên tập: “Tôi rất sung sướng nếu bài viết của tôi được đăng, tùy các đồng chí đăng hay không đăng, nhưng dù thế nào thì cũng xin các đồng chí sửa lỗi tiếng Pháp cho…”.

Mấy ngày sau, mở xem báo buổi sáng, Người vô cùng xúc động khi thấy tác phẩm của mình được đăng. Hơn thế nữa, báo trả nhuận bút cho tác phẩm đó 50 franch, là số tiền Người có thể dùng vào việc đi thư viện và viết báo vạch trần tội ác của Chính phủ Pháp ở Việt Nam và những thuộc địa khác.

Sau sự kiện đó, Bác Hồ luôn xem mình là người học trò nhỏ của văn hào Nga Lép Tônxtôi. Và đó cũng là điều Bác khẳng định ở phần cuối bài viết cho báo Văn học Liên Xô nói trên.

( tổng hợp )

Processing….

 

Trả Lời Với Trích Dẫn

Thích

Tặng Vàng  


::blank::

  1.  
  2. 29-10-2010 11:21 PM #95

Adonis

 

Tấm Lòng Vàng: 0


Tham gia ngày

Jul 2004

Vị trí

BacBaPhi”s Everlasting Love

Bài gởi

21,732

:
0 For This Post
906 tổng số

Cảm Ơn

4,655

Được Cảm Ơn 1,527 lần trong 793 Bài Viết

Vàng (TOP! 11)

2,490,693

Sent 14 thank(s)
Received 5 thank(s)

PET : Ladieskiller

 

Level : 1
HỆ : Thủy
Hp: 15 / 15

 

Exp:2 / 20

 

Tài sản

      

OSS và Hồ Chí Minh – Một cơ hội lịch sử trong mối quan hệ Mỹ – Việt bị bỏ lỡ

Nhà xuất bản Thế giới phát hành cuốn sách “OSS và Hồ Chí Minh – những đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống Nhật Bản” của tác giả Dixee R. Bartholomew-Feis đề cập đến một cơ hội lịch sử trong mối quan hệ Mỹ – Việt đã bị bỏ lỡ do những toan tính sai lầm của Washington.

Các thành viên OSS chụp ảnh chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cán bộ Việt Minh tại Việt Bắc tháng 8/1945

Một số nhân viên trong Chính phủ Mỹ hy vọng rằng quan điểm chống thực dân của Mỹ sẽ tiếp nối dưới chính quyền của Tổng thống Truman. Nhưng sau khi Franklin Roosevelt mất vào tháng 4 (1945) và sau khi cuộc chiến ở châu Á – Thái Bình Dương kết thúc thắng lợi thì thế giới đã thay đổi.

Tình trạng khẩn cấp thời chiến dẫn đến việc các phái đoàn OSS (Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ) cộng tác với các nhóm cộng sản trên khắp thế giới không còn tồn tại nữa; sự khinh bỉ đối với người Pháp bại trận phải đặt sang một bên khi họ được giải phóng và giành lại vai trò quốc tế nổi bật; và chủ nghĩa lý tưởng đối với tương lai thường đến cùng nỗi khiếp sợ chiến tranh được thay thế bởi tính thực tế thời bình.

Vào tháng 3, lần đầu tiên Charles de Gaulle đã “đe dọa” các nhà ngoại giao của Roosevelt rằng Pháp có thể bị “đẩy vào” tầm ảnh hưởng đang nổi lên của Liên Xô nếu như chính sách của Mỹ làm Pháp xa lánh hơn với đề tài tước bỏ thuộc địa của Pháp.

Đối với Truman, khả năng Pháp trở thành một phần “quỹ đạo của Nga” trong thế giới thời bình mới này thậm chí còn đáng sợ hơn.

Đối với Pháp, để có được sự ủng hộ của họ chống lại người Nga có nghĩa là không xa lánh họ bằng những tuyên bố chống thực dân, và điều đó có nghĩa là “bỏ mặc các dân tộc thuộc địa nếu cần thiết”.

Như lịch sử ghi nhận vài năm sau: “Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ phó thác những người dân Đông Dương cho người Pháp định đoạt một cách có hệ thống, và khi làm như vậy họ đã hy sinh những khát vọng và ước mơ của người Việt Nam trong những toan tính rộng hơn của chính sách Chiến tranh lạnh”.

Khi chính sách này xuất hiện, một số nhân viên biết rõ châu Á đã cố lái nó theo một chiều hướng khác. Vào tháng 9/1945, Patrick Hurley, Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc đã cảnh báo “dư luận tại châu Á cho rằng nước Mỹ ủng hộ chủ nghĩa đế quốc Anh, Pháp, Hà Lan chống lại chế độ dân chủ đang dâng cao tại châu Á”.

Không chỉ một mình Đại sứ Hurley “đau lòng”. Abbot Low Moffat và Edwin F. Stanton chuyên viên châu Á thuộc Bộ Ngoại giao đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Đông Dương như “một nguồn nguyên liệu thô, một thị trường đầy tiềm năng cho các mặt hàng xuất khẩu, một căn cứ chiến lược tại vùng Viễn Đông và cảnh báo rằng, sự trở lại của hiện trạng trước chiến tranh sẽ không phục vụ được lợi ích của Mỹ”.

Vào năm 1946, Moffat đến thăm Việt Nam và hội kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã lầm tưởng rằng chính sách của Mỹ là “kiên quyết – không tán thành khôi phục quyền lực thực dân”.

Moffat bị ấn tượng bởi cả đất nước lẫn con người và chuyển cho cấp trên của mình thái độ chần chừ nhưng nói chung là tích cực của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước Mỹ.

“Hồ Chí Minh nói về tình bạn và lòng ngưỡng mộ của ông đối với nước Mỹ và những người Mỹ mà ông đã biết và làm việc cùng trong những cánh rừng, và họ đã cư xử với người An Nam bình đẳng như thế nào” – Moffat viết.

Tiếc rằng những lời ca ngợi của ông lại rơi vào những cái tai điếc tại Washington. Một quyết định đã đưa ra thì không sửa đổi được nữa.

“Trước khi tôi ra đi, Hồ Chí Minh đưa cho tôi những lá thư gửi tới Tổng thống Truman và Ngoại trưởng Mỹ, theo kiểu thông thường ông trao cho tất cả mọi người. Tôi mang chúng đi và làm những gì người ta mong đợi, nhưng chính phủ của chúng ta không hề quan tâm đến chúng. Nước Mỹ đã quyết định mối quan hệ với Pháp trong thời hậu chiến quan trọng hơn là mối quan hệ với Việt Nam hay phong trào ít được biết đến của Việt Nam lúc đó đang nắm quyền”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên khác trong chính phủ của ông rõ ràng rất thất vọng.

Dẫu vậy ông vẫn tiếp tục gửi điện tới Truman “tha thiết yêu cầu” tổng thống và nhân dân Mỹ “can thiệp khẩn cấp để ủng hộ nền độc lập của Việt Nam” và thúc giục người Pháp “tiến hành thêm các cuộc đàm phán theo các nguyên tắc của Tuyên bố Đại Tây Dương và San Francisco”, nhưng ông luôn được trả lời bằng sự im lặng.

Hồ Chí Minh không hề ngạc nhiên, vì rõ ràng hy vọng vào sự ủng hộ của Mỹ chỉ là hy vọng. Nhưng ông vẫn đủ minh triết, thậm chí một thời gian dài sau khi mối quan hệ thân thiết giữa hai nước đã chấm dứt, để nắm bắt được thực chất chủ nghĩa lý tưởng Mỹ khi nói chuyện với người Mỹ.

Phóng viên ưa tranh cãi Harrison Salisbury đã thể hiện khả năng này trong lời giới thiệu cuốn “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh bằng cách trích dẫn một câu hỏi thường được đặt ra cho những người Mỹ đã đến Hà Nội về lợi ích kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam.

“Hãy nói cho tôi biết – Hồ Chí Minh sẽ hỏi – Tượng Nữ thần Tự Do vẫn đang còn đứng phải không? Đôi khi tôi cảm thấy hẳn là nó đang trồng cây chuối”. Nhiều lính Mỹ đã từng ở Việt Nam cũng sẽ tin rằng lẽ phải và chủ nghĩa lý tưởng Mỹ thực chất đã bị lộn ngược.

Nhiều năm sau, một vài nhà sử học vẫn tìm kiếm lời giải cho câu hỏi tại sao các thành viên OSS lại “cộng tác” với Việt Minh. Stein Tonnesson đã đưa ra ba nguyên nhân có thể:

Thứ nhất, những nhân viên chỉ huy các hoạt động này đã được lựa chọn và đã nhận chỉ thị khi Roosevelt vẫn còn sống; họ tiếp tục thực hiện chính sách của ông.

Thứ hai, OSS có xung lượng như một cơ quan toàn cầu; OSS không được cho phép hoạt động tại mặt trận của Đô đốc Hải quân Nimitz và tướng McAthur, nhưng lại được chào đón tại Trung Quốc. Vì lợi ích của OSS được chấp nhận hết mức có thể tại khu vực của tướng Wedemeyer, dĩ nhiên, OSS cũng hợp tác với những người Cộng sản Trung Quốc.

Thứ ba, việc thu thập thông tin tình báo chính xác và thực hiện các hoạt động phá hoại hiệu quả là lý do tồn tại của một tổ chức như OSS; thông tin và sự hợp tác cần phải được tìm kiếm ở nơi chúng có thể đạt được hiệu quả cao nhất.

Dựa trên những báo cáo và thái độ của những người có mặt tại chỗ, tất cả ba lý do trên chắc chắn là chính xác. Nhưng một nhân tố phụ có ảnh hưởng tới nhiều người: nhân tố con người – khả năng của con người đối với việc phát triển mối quan hệ cá nhân với những người thuộc nhiều đảng phái chính trị.

Những quân nhân đầu tiên có mặt tại Đông Dương như Frankie Tan, Dan Phelan và Charles Fenn đều thiết lập mối quan hệ thân thiết với nhiều người Việt mà họ làm việc cùng, vài nhân viên của “Đội Hươu” cũng làm như vậy, nhất là chỉ huy của họ, Allison Thomas. Cả Henry Prunier và George Wickes cũng coi những người Việt Nam mà họ cùng làm việc như những người bạn mới.

“Thậm chí sau khi sứ mạng của OSS kết thúc – Dương Trung Quốc nhớ lại – mối quan hệ giữa Việt Minh và OSS vẫn duy trì, nhưng trong phạm vi quan hệ giữa các cá nhân… Có rất nhiều tình cảm tốt đẹp, nồng ấm đối với nhau với tư cách cá nhân, với tư cách con người”.

Nhưng liệu những người này vào năm 1945 có cung cấp cho nước Mỹ sự hiểu biết sâu sắc có thể giúp ngăn chặn cuộc chiến tranh trong tương lai không? Có, như George Wickes tuyên bố: “Những bức điện chúng tôi gửi về Washington tiên liệu chính xác những gì rốt cục sẽ xảy ra nếu Pháp cố tình phủ nhận nền độc lập của Việt Nam”.

Nhưng liệu điều đó vào năm 1945 có quan trọng không? Với câu hỏi đó thì câu trả lời phải là không; xu thế chính trị vào thời điểm đó hoàn toàn khác.

Có lẽ mối quan hệ giữa OSS và Việt Minh có thể được minh họa hay nhất bằng một trong những cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa một thành viên OSS với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thiếu tá Frank White từ Sài Gòn (qua Thượng Hải) đến Hà Nội cùng George Wickes và nhân viên điện đài của họ vào mùa thu năm 1945.

White nhớ lại rằng nhóm OSS đóng tại Sài Gòn “hầu như không biết gì về mọi việc đang diễn ra với các đồng nghiệp của họ tại Hà Nội,” và chỉ nhận được những mệnh lệnh ngắn gọn thay thế cho “đội OSS đã rút đi” để tiếp tục thu thập và cập nhật thông tin về tình hình đang tiến triển, và để “tiếp xúc với Hồ Chủ tịch”.

Ngay sau khi White và Wickes thu xếp chỗ ở tại khách sạn Métropole, White gửi một bức thư tự giới thiệu tới Chủ tịch Hồ Chí Minh và được mời dự một buổi chiêu đãi tại Phủ Chủ tịch tối hôm đó. Anh đã đến đúng địa chỉ, đúng thời gian và phát hiện ra xung quanh mình là các tướng tá người Trung Quốc, Anh, Pháp, và cả nội các của Hồ Chí Minh.

Biết rõ cấp bậc của mình và cảm thấy không thoải mái, White đứng quay lưng lại khi mọi người chiếm chỗ của mình quanh bàn ăn. Là một thiếu tá mới được bổ nhiệm và rõ ràng có cấp bậc thấp nhất trong phòng, White hy vọng tìm được chỗ ngồi ở “một xó nào đó” nhưng cũng sẵn sàng “chuồn” nếu không còn lại ghế trống nào.

Khi tất cả mọi người đã yên vị thì chỉ còn lại một chỗ trống- chiếc ghế ngay bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

White nhớ lại: “Bữa tối là một nỗi kinh hoàng. Người Pháp tự giới hạn mình trong phạm vi trò chuyện tối thiểu và tuyệt nhiên không nói với người Trung Quốc, những kẻ nhanh chóng say xỉn… Thế rồi tôi nói thầm với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi nghĩ, thưa ngài Chủ tịch, có sự nhầm lẫn nào đó trong việc sắp xếp chỗ ngồi tại chiếc bàn này”. Dĩ nhiên, tôi định nói về chỗ ngồi của tôi bên cạnh ông.

Ông suy nghĩ một lát, đoạn thành thật trả lời: “Đúng, tôi thấy điều đó, nhưng còn ai tôi có thể nói chuyện được đây?”

( tổng hợp )

Processing….

 

Trả Lời Với Trích Dẫn

Thích

Tặng Vàng  


::blank::

  1.  
  2. 29-10-2010 11:39 PM #96

Adonis

 

Tấm Lòng Vàng: 0


Tham gia ngày

Jul 2004

Vị trí

BacBaPhi”s Everlasting Love

Bài gởi

21,732

:
0 For This Post
906 tổng số

Cảm Ơn

4,655

Được Cảm Ơn 1,527 lần trong 793 Bài Viết

Vàng (TOP! 11)

2,490,693

Sent 14 thank(s)
Received 5 thank(s)

PET : Ladieskiller

 

Level : 1
HỆ : Thủy
Hp: 15 / 15

 

Exp:2 / 20

 

Tài sản

      

Bài thơ của mối giao cảm đặc biệt

Sơri Giaoaháclan Nêru (1889-1964) là nhà hoạt động chính trị và Nhà nước nổi tiếng, một chiến sĩ của nền độc lập Ấn Độ, Thủ tướng Ấn Độ từ 1947 đến 1964. Nêru cũng là một trong những người sáng lập phong trào các nước không liên kết.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm hữu nghị nước Cộng hòa Ấn Độ (4/2/1958). Người đứng bên Bác là Thủ tướng Nêru.

Tháng 1/1927, Bác Hồ đã gặp cụ thân sinh ra Nêru tại Hội nghị Quốc tế ở Brúcxen, thủ đô nước Bỉ. Bác rất kính trọng gia đình Nêru và có một tình cảm đặc biệt. Bác và Nêru là người đồng thời, cùng là chiến sĩ kiên cường đấu tranh vì độc lập dân tộc nên tuy chưa gặp nhau nhưng đã xem nhau là bạn.

Khi Bác bị cầm tù ở nhà lao tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc cũng là lúc Nêru bị giam trong nhà tù thực dân Anh. Cùng cảnh ngộ, cùng hoạt động cách mạng vì nước vì dân, thấu hiểu nhau, ở trong tù, Bác làm bài thơ chữ Hán “Ký Ni Lỗ” (Gửi Nêru). Nhà thơ Hoàng Trung Thông đã dịch như sau:

Khi tôi phấn đấu, anh hoạt động,
Anh phải vào lao, tôi ở tù;
Muôn dặm xa vời chưa gặp mặt,
Không lời mà vẫn cảm thông nhau.
II
Đôi ta cảnh ngộ vốn không khác,
Cảnh ngộ giờ đây khác bội phần;
Tôi, chốn lao tù người bạn hữu
Anh, trong gông xích bọn cừu nhân.

Bài thơ thật cảm động, hai người ở hai phương trời, hai dân tộc khác nhau, chưa từng gặp nhau, vậy mà có mối giao cảm kỳ lạ.

Trong bài thơ này, hầu như cứ hai câu thơ làm thành một cặp đối xứng, mỗi câu được phân đôi, chung ý cùng nghĩa, bổ sung cho nhau.

Khi tôi phấn đấu, anh hoạt động,
Anh phải vào lao, tôi ở tù;
Hay
Tôi, chốn lao tù người bạn hữu
Anh, trong gông xích bọn cừu nhân.

Những câu thơ chứa đựng những sự kiện lớn trong đời của hai con người cùng chung một mục đích phấn đấu, hoạt động vì nước, vì dân, quyết tranh đấu giành kỳ được độc lập, tự do cho dân tộc, cho đất nước; lại cùng trùng khớp thời gian: anh vào ngục, tôi ngồi. Hai người cách xa nhau muôn dặm, ở hai nước khác nhau lại chưa từng gặp mặt vậy mà điều kỳ diệu đã diễn ra Thần giao tự tại bất ngôn trung (Mối giao cảm sâu xa đã sẵn trong chỗ không lời). Đúng là, những tâm hồn lớn, những tư tưởng lớn gặp nhau.

Ở đoạn II (bài II) một lần nữa được nhấn thêm Ngã môn tao phùng bản thị đồng (đôi ta cảnh ngộ vốn không khác). Nhưng giờ đây, hiện tại lúc này cảnh ngộ có khác nhau.

(Tôi, chốn lao tù người bạn hữu
Anh, trong gông xích bọn cừu nhân)

Cái khác lại chính là ở chỗ chốn lao tù, nơi giam giữ mỗi người và cũng chính là cái đối tượng bắt giam người. Anh trong gông cùm của kẻ thù. Còn tôi, trớ trêu thay lại ở trong nhà tù nước láng giềng. Trong một bài thơ khác, bài “Thế lộ nan” (Đường đời hiểm trở) Bác đã rất bất bình:

Ta là đại biểu dân Việt Nam,
Tìm đến Trung Hoa để hội đàm;
Ai ngờ đất bằng gây sóng gió,
Phải làm “khách quý” ở nhà giam.

ở bài “Gửi Nêru”, Bác ý nhị nhắc lại sự kiện này.

Sau này, ra tù Bác Hồ và Nêru đã làm nên sự nghiệp lớn, hai vị trở thành bạn bè thân thiết của nhau. Bác Hồ trên cương vị Chủ tịch kiêm Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Nêru, Thủ tướng ấn Độ đã phối hợp với nhau đấu tranh cho sự tốt đẹp của thế giới. Hai vị đã dành cho nhau những lời trọng thị. Đón Thủ tướng Nêru sang thăm Việt Nam, trong bữa tiệc chiêu đãi tối ngày 17/10/1954, Bác Hồ ca ngợi: “Thủ tướng Nêru vị lãnh đạo, vị chiến sĩ tận tụy cho hòa bình châu Á và thế giới, vị bạn tốt của nhân dân Việt Nam”.

Từ bài thơ “Gửi Nêru” và những lời nói của Bác Hồ về Nêru, ta có thể rút ra một nhận xét: Trên đời này, trong thế giới này, thấu hiểu nhau như Bác Hồ với Nêru là một trong những điển hình của các đại nhân, nó mãi mãi làm đẹp cho nét văn hóa chung của con người, cho toàn thể nhân loại.

( tổng hợp )

Processing….

 

Trả Lời Với Trích Dẫn

Thích

Tặng Vàng  


::blank::

  1.  
  2. 30-10-2010 12:19 AM #97

Adonis

 

Tấm Lòng Vàng: 0


Tham gia ngày

Jul 2004

Vị trí

BacBaPhi”s Everlasting Love

Bài gởi

21,732

:
0 For This Post
906 tổng số

Cảm Ơn

4,655

Được Cảm Ơn 1,527 lần trong 793 Bài Viết

Vàng (TOP! 11)

2,490,693

Sent 14 thank(s)
Received 5 thank(s)

PET : Ladieskiller

 

Level : 1
HỆ : Thủy
Hp: 15 / 15

 

Exp:2 / 20

 

Tài sản

      

Chủ tịch Hồ Chí Minh và tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”

Năm Đinh Hợi 1947, giữa lúc “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”, tại vùng căn cứ Việt Bắc hùng vĩ, dưới bút danh X.Y.Z., bằng cách diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết một cuốn sách nổi tiếng nhan đề: “Sửa đổi lối làm việc”.

Tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh ký bút danh X.Y.Z viết xong tháng 10/1947.

Nội dung cuốn sách đề cập nhiều vấn đề cơ bản về Đảng cầm quyền nhằm làm cho Đảng vững mạnh bằng kiến thức, bằng chính sách sử dụng cán bộ, bằng đạo đức Cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Cuốn sách đã cuốn hút sự chú ý từ cán bộ lãnh đạo cao cấp đến mọi đảng viên bình thường. Ai ai cũng tìm thấy ở đó những lời khuyên bảo chân tình, nghiêm khắc và mở ra cho mọi người nhìn thấy hướng đi lên một cách sáng rõ hơn.

Chương I: Phê bình và sửa chữa

Bác ân cần căn dặn: “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ” (1). Trong chương này, Bác dành chủ yếu cho đề mục: Phải sửa đổi lối làm việc của Đảng, trong đó, tác giả quan tâm đến bệnh chủ quan, bệnh hẹp hòi của cán bộ, đảng viên.

Theo Người: “Nguyên nhân của bệnh chủ quan là: Kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông… Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi… Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông… Chúng ta phải gắng học, đồng thời học thì phải hành”.

Bác phân tích sâu sắc bệnh hẹp hòi: “Nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa, v.v… đều do bệnh hẹp hòi mà ra!… Vì ham danh vọng và địa vị, cho nên khi phụ trách một bộ phận nào, thì lôi người này, kéo người khác, ưa ai thì kéo vào, không ưa thì tìm cách đẩy ra…

Có nhiều đồng chí có bệnh tự tôn, tự đại, khinh rẻ người ta, không muốn biết, không muốn học những ưu điểm của người khác… Họ quên rằng: chỉ đoàn kết trong Đảng, Cách mạng cũng không thành công được, còn phải đoàn kết nhân dân cả nước.

Họ quên rằng: so với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết… Không được xa rời dân chúng. Xa rời dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại…

Bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ, bệnh hẹp hòi v.v…, mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên ngoài không đáng sợ. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại từ trong phá ra” (2).

Chương II: Mấy điều kinh nghiệm

1- Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong. Mọi việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định.

2- Chính sách thì đúng, cách làm thì sai. Muốn lập làng kiểu mẫu, đội kiểu mẫu, v.v… thì trước hết phải đào tạo ra những người kiểu mẫu, để làm cán bộ cho làng đó, đội đó (3).

3- Không biết nghiên cứu kinh nghiệm tận gốc. Công việc gì bất kỳ thành công hay thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tích thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Có như thế thì người mới có tài, tài mới có dụng (4).

4- Phải nâng cao sáng kiến và lòng hăng hái. “Bác nêu câu hỏi: “Nhưng đến nay, cán bộ và đảng viên vẫn ít sáng kiến, ít hăng hái?”. Và Bác đã trả lời: “Vì nhiều lẽ. Mà trước hết là vì: Cách lãnh đạo của ta không được dân chủ” (5).

5- Vì ai mà làm? Đối với ai phụ trách?… Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng, vì cần cho quần chúng.

6- Sát quần chúng, hợp quần chúng… Cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện, tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo, v.v… của chúng ta, đều phải lấy câu này làm khuôn phép: Từ trong quần chúng ra. Về sâu trong quần chúng” (6).

Sáu điều kinh nghiệm nêu trên đã được Bác đúc kết thành bài học đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Chương III: Tư cách và đạo đức cách mạng

Mở đầu phần này, Bác khẳng định: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài… Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác… Người đảng viên, người cán bộ tốt muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó cả. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư” (7).

Bác còn nghiêm khắc phê phán những cán bộ, đảng viên chưa “chí công vô tư”, cho nên mắc phải chủ nghĩa cá nhân sinh ra các thứ bệnh nguy hiểm như: bệnh tham lam, bệnh lười biếng, bệnh hiếu danh, bệnh kiêu ngạo, thiếu kỷ luật, óc hẹp hòi, óc địa phương, óc lãnh tụ.

Chương IV: Vấn đề cán bộ

Về chính sách cán bộ. Bác căn dặn phải chú ý mấy việc dưới đây: “Hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu cán bộ, phê bình cán bộ”.

“Muốn biết rõ cán bộ, muốn đối đãi một cách đúng đắn các hạng người, trước hết phải sửa chữa những khuyết điểm của mình. Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng” (8).

Vấn đề “Khéo dùng cán bộ”, Bác viết: “Lúc dùng cán bộ, nhiều người phạm vào những chứng bệnh sau đây:

1- Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài.

2- Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực.

3- Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình” (9).

Về vấn đề “Cất nhắc cán bộ”, Bác nhấn mạnh: “Khi cất nhắc một cán bộ, cần phải xét rõ người đó có gần gũi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không. Lại phải xem người ấy xứng với việc gì. Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc. Nếu cất nhắc không cẩn thận, không thể đem người bô lô ba la, chỉ nói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo, như thế rất có hại” (10).

Chương V: Cách lãnh đạo

Mở đầu phần này, Bác viết: “Chẳng những phải lãnh đạo quần chúng, mà lại phải học hỏi quần chúng… Ngoài kinh nghiệm của mình, người lãnh đạo còn phải dùng kinh nghiệm của đảng viên, của dân chúng, để thêm cho kinh nghiệm của mình” (11).

Chương VI: Chống thói ba hoa

Bác viết: “Chúng ta chống bệnh chủ quan, chống bệnh hẹp hòi, đồng thời cũng phải chống thói ba hoa. Vì thói này cũng hại như hai bệnh kia. Vì ba thứ đó thường đi với nhau. Vì thói ba hoa còn, tức là bệnh chủ quan và bệnh hẹp hòi cũng chưa khỏi hẳn” (12).

“Sửa đổi lối làm việc” là một tác phẩm lý luận kinh điển nổi tiếng thể hiện nét rất riêng của Tư tưởng Hồ Chí Minh.

“Sửa đổi lối làm việc” là một tác phẩm gối đầu giường đối với mọi cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân.

Chú thích:

(1), (2), (3), (4), (5), Hồ Chí Minh Toàn tập – NXBCTQG-H-1995-T5-tr từ 231 đến 243.

(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12) Sđd – T5 – tr từ 247 đến 299

( tổng hợp )

Processing….

 

Trả Lời Với Trích Dẫn

Thích

Tặng Vàng  


::blank::

  1.  
  2. 30-10-2010 02:12 AM #98

Adonis

 

Tấm Lòng Vàng: 0


Tham gia ngày

Jul 2004

Vị trí

BacBaPhi”s Everlasting Love

Bài gởi

21,732

:
0 For This Post
906 tổng số

Cảm Ơn

4,655

Được Cảm Ơn 1,527 lần trong 793 Bài Viết

Vàng (TOP! 11)

2,490,693

Sent 14 thank(s)
Received 5 thank(s)

PET : Ladieskiller

 

Level : 1
HỆ : Thủy
Hp: 15 / 15

 

Exp:2 / 20

 

Tài sản

      

Chủ tịch Hồ Chí Minh và chuyện dân chủ hóa báo chí

Ngày nay báo chí đã trở thành nơi hội tụ một khối lượng khổng lồ những kiến thức, những thông tin có giá trị trôi nổi trong xã hội đang làm giàu trí tuệ loài người, trực tiếp tham gia vào sản xuất cho xã hội. Tri thức trên báo chí là cội nguồn có tính chất dân chủ hơn cả. Nếu biết định hướng đúng thì ngay cả “sự thật thấp hèn”, sự thật màu xám cũng có giá trị phản biện hơn “sự giả dối cao thượng”, sự thổi phồng thành tích. Khi nói sự hiểu biết quản lý, trong đó có quản lý báo chí, thì ngoài các công cụ quản lý như việc hoạch định chiến lược báo chí, chính sách, luật báo chí và các luật hữu quan, v.v… còn tính đến sự ủng hộ của công chúng.

Bác Hồ với các phóng viên báo chí

Muốn được sự ủng hộ của công chúng thì chí ít phải chú ý hai khâu khó nhất trong quản lý. Đó là: quản lý cái vô hình ở công chúng (tâm trạng, tâm lý, tình cảm, nguyện vọng, v.v…) và quản lý chất lượng báo chí, tức là việc phát hiện cái mới, cái sáng tạo, cái nhạy cảm của nhân dân. Người tốt, việc tốt, người mới, việc mới được Bác Hồ nêu ra từ 1958 là một hiện tượng mới; nó không phải là khẩu hiệu treo tường mà là một triết lý nhân sinh, mang tính nhân văn.

Là một nhà báo vĩ đại với hàng ngàn bài báo (trừ một số bài viết về thuộc địa Pháp), Hồ Chí Minh chỉ có một đề tài duy nhất: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Ngay từ sớm, Người rất quan tâm đến tính đa dạng của cách viết, của phương thức diễn đạt, bởi báo chí cách mạng là diễn đàn của nhân dân, ở đây không có sự ban ơn, mà là cuộc đối thoại giữa người viết với người đọc. Có khi đề tài là đúng, nội dung không sai, nhưng cách thực hiện nhàm chán, tầm thường… dễ dẫn đến sự thờ ơ của bạn đọc.

Năm 1959, tại Đại hội lần thứ hai Hội Nhà báo Việt Nam, sau khi nhấn mạnh người làm báo phải lấy chính trị làm chủ, Bác chỉ ra hai khuyết tật lớn của báo chí: Một là, “Viết về chính trị thì khô khan, rập khuôn”, phải viết cho văn chương người ta thấy hay, thấy lạ, thấy văn chương thì mới thích đọc. Hai là, bệnh nói chữ, bệnh dùng chữ nước ngoài quá nhiều làm ảnh hưởng tới sự trong sáng của tiếng nói dân tộc.

Người cũng rất quan tâm đến việc cải tiến chữ quốc ngữ và tiếng Việt, đặc biệt trên báo chí, văn chương. Bác dặn hai điều cần tránh là tránh “bàn theo lối các ông hàn lâm, cãi nhau mãi mà không giải quyết được gì”, “đừng sợ cái mới quá. Cái gì mới lúc đầu cũng lạ” (Tất cả các đoạn được đặt trong ngoặc kép của Hồ Chủ tịch đều được dẫn từ cuốn “Hồ Chí Minh tuyển tập”, tập 2, NXB Văn học, 1995). Đó là bài học về tầm nhìn văn hóa khoáng đạt cho cả giới văn nghệ sĩ và báo chí hôm nay.

Ở Hồ Chí Minh, khi nói tới sự sáng tạo của văn nghệ sĩ và của nhà báo, Người thường nêu hai câu hỏi: Viết cho ai? Và viết để làm gì? Câu trả lời không hoàn toàn khó. Đó là nhân dân và phục vụ cách mạng, nâng cao trình độ dân trí cho hàng chục triệu người, một hình thức dân chủ hóa trực tiếp bằng tri thức, trí tuệ. Có điều, khi làm thì không phải tờ báo nào cũng thực hiện tốt, nhất là khâu phát hành, khâu công tác bạn đọc, việc tìm hiểu thị hiếu đa dạng của người đọc, người nghe.

Bác dặn: “Phải làm thế nào cho báo có nhiều người xem”, “Giá tiền bán cũng cần phải đúng mức”. Còn về cách viết thì tránh lằng nhằng “tràng giang đại hải”, “chớ ham dùng nhiều chữ”. Viết ngắn, viết dễ hiểu mà Bác nhắc không có nghĩa là tầm thường hóa nội dung sâu sắc, giàu trí tuệ. Trái lại, Bác muốn ngăn ngừa cách viết để khoe chữ, cố tình phức tạp hóa những vấn đề vốn đơn giản. Đó là bài học cho hôm nay.

Nói dân chủ hóa trong mọi hoạt động báo chí, không thể quên những điều dạy của Hồ Chí Minh. Bác thường khuyên các cán bộ giúp việc ba điều khi đọc sách, xem báo: Có cái gì hay để học, để giáo dục người đọc không? Phải có tính lôgích của vấn đề nêu ra; phải tôn trọng sự thật, nhất là tính chính xác của sự kiện.

Cách đây mấy năm, trong một lần đến thăm lão đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Bác Hồ trong nhiều năm, chúng tôi được bác Kỳ kể mẩu chuyện nhỏ để chứng minh một số sự việc của báo nêu chưa thật lôgích và thiếu chính xác. Một tờ báo viết đại ý: Một hôm, có chú lính bảo vệ khu nhà sàn nơi Bác Hồ ở, bị rơi xuống hố. Nghe tiếng động Bác hỏi và biết sự việc không may, Bác chạy xuống cầu thang, chân đi guốc, chân không, bóp tay, chân cho người lính, hỏi han chuyện vừa xảy ra và nói: “Bác gác thay cho chú”. Đọc đoạn đó, Bác ngạc nhiên hỏi người xung quanh: “Chú lính gác là để bảo vệ Bác, còn Bác thì phải bảo vệ ai? Chả lẽ bảo vệ cái nhà sàn à? Như vậy là thiếu lôgích!”.

Ngày nay, báo chí nước ta phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, cả đội ngũ lẫn ngoại hình, đặc biệt một số loại hình hiện đại: Vô tuyến truyền hình, Vietnamnet, hệ thống thông tin địa lý (GIS), Internet, truyền hình kỹ thuật số… nhưng có một vấn đề trong sáng tạo và tiếp nhận báo chí tưởng như bất biến. Đó là dân chủ hóa thông tin. Nhiệm vụ của báo chí là tạo ra số lượng người đọc, người nghe, người xem được thông tin nhiều. Họ được thông tin sẽ tạo ra nền dân chủ thực sự. Bưng bít thông tin, che giấu sự thật, dù bất cứ dạng nào cũng là hành vi phản dân chủ, là cách đánh tráo nhận thức.

( tổng hợp )

Processing….

 

Trả Lời Với Trích Dẫn

Thích

Tặng Vàng  


::blank::

  1.  
  2. 30-10-2010 12:42 PM #99

Adonis

 

Tấm Lòng Vàng: 0


Tham gia ngày

Jul 2004

Vị trí

BacBaPhi”s Everlasting Love

Bài gởi

21,732

:
0 For This Post
906 tổng số

Cảm Ơn

4,655

Được Cảm Ơn 1,527 lần trong 793 Bài Viết

Vàng (TOP! 11)

2,490,693

Sent 14 thank(s)
Received 5 thank(s)

PET : Ladieskiller

 

Level : 1
HỆ : Thủy
Hp: 15 / 15

 

Exp:2 / 20

 

Tài sản

      

Có phải Bác Hồ tìm Vi Quốc Thanh

Trong bài thơ Tầm hữu vị ngộ, Bác Hồ đi tìm Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn Cố vấn quân sự tại Việt Nam hay tướng Trần Canh của Trung Quốc, đại tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam hay đơn giản đây chỉ là bài thơ ngẫu hứng?

Bức thư pháp bài “Thám Vi Quốc Thanh đồng chí vị ngộ” của nhà thư pháp Quảng Tây Phan Cơ.

Báo Văn nghệ số Tết Kỷ Mão năm 1999, tại trang 2 có đăng một bài thơ chữ Hán của Bác Hồ (do nhà văn Sơn Tùng giới thiệu và dịch). Theo nhà văn Sơn Tùng cho hay là tìm được trong cuốn sổ tay của Bác và không có đầu đề. Nhà văn Sơn Tùng cho rằng, bài thơ của Bác làm để tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong bối cảnh Bác Hồ giao cho Đại tướng nhiệm vụ Tổng Tư lệnh mặt trận Điện Biên Phủ.

Mới đây, Nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Quốc học vừa cho ra mắt bạn đọc cuốn Hồ Chí Minh, Thơ toàn tập (in lần thứ hai có sửa chữa và bổ sung) trang 298 cũng có in lại bài thơ này nhưng lại có tên là Tầm hữu vị ngộ. Xin được chép ra đây để bạn đọc tham khảo.

Tầm hữu vị ngộ

Bách lý tầm quân vị ngộ quân

Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân

Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ

Mỗi đóa hoàng hoa nhất điểm xuân.

Dịch thơ:

Trăm dặm tìm không gặp cố nhân

Mây đèo giẫm vỡ ngựa chồn chân

Nẻo về chợt gặp cây mai núi

Mỗi đóa hoa vàng một nét xuân.

(Bản dịch của Phan Văn Các).

Khác với lời giới thiệu của Sơn Tùng, phía dưới bài thơ còn có câu chú nhỏ của Bác về hai chữ bách lý (thực lục thập công lý – thực ra chỉ có 60 cây số). Nói bách lý – trăm dặm ở đây là nói một cụm từ, một khái niệm có tính ước lệ trong văn chương cổ, người ta vẫn thường dùng để chỉ đường xa. Ngoài ra, bài thơ không có một lời chú nào khác để nói việc đi tìm ai cũng như xuất xứ bài thơ.

Trong bài thơ này, vó ngựa của con chiến mã mà Bác cưỡi đạp trên những đám mây đầu non. Sinh động, tráng lệ biết bao… Sẽ nhẹ nhõm đi rất nhiều những nặng nề gian khó của cuộc kháng chiến qua phong thái ung dung tự tại ấy. Bác đi thăm một người bạn nhưng không gặp. Lúc về nước kiệu hay nước đại chả biết, nhưng không phải cưỡi ngựa xem hoa mà Bác cảm nhận ngay được mỗi đóa mai núi kia có sắc xuân đang đậu trong đó.

Người đọc mặc dầu thông cảm với thủ pháp kiểu vô danh, đặc thù cơ bản của thơ trữ tình để nhanh chóng cuốn theo sắc thái độc đáo của bài thơ, nhưng có lẽ cũng không ít người tò mò rằng, bài thơ trên Bác làm vào thời gian nào? Ở đâu? Bác đi gặp ai?… Quân đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, tần suất chữ quân dường như đậm đặc trong thơ cổ! Quân, là bạn, là ngài, là ông, nhưng cũng là anh, là em…

“Tầm hữu vị ngộ”: Dạng phổ thông (trái) và dạng thư pháp

Trong ngoại giao, trong sinh hoạt, trong thù tạc: Quân bất kiến Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai… Quân bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát/ Triêu như thanh ty mộ như tuyết (Anh chẳng thấy sông Hoàng Hà như đổ từ trên trời cao/ Anh chả thấy những nhà cao gương sáng/ Sớm buồn tênh vì mảng tóc thưa/ Sáng còn xanh mượt như tơ/ tối đà tuyết đã bạc phơ bời bời (Tương tiến tửu – Trần Trọng Kim dịch). Và trong tình ái: Quân tại Tương giang đầu/ Thiếp tại Tương giang vĩ/ Tương tư bất tương kiến/ Đồng ẩm Tương giang thủy. Rồi Tư quân như nguyệt mãn/ Dạ dạ giảm thanh huy (Nhớ chàng như mảnh trăng đầy/ Đêm đêm vầng sáng hao gầy đêm đêm…).

Cứ cái mạch trữ tình, cứ trong ý tứ mà suy ấy, bài thơ trên có thể Bác sáng tác ở Việt Nam hay ở Trung Hoa cũng được? Bác của chúng ta có thể thăm một vị tướng, một quan chức nào đó, hoặc giả một người bạn nam hay nữ thì cũng được chứ sao? Vậy nên có thể phần nào đồng cảm với cung cách phỏng đoán lẫn giới thiệu về xuất xứ bài thơ của nhà văn Sơn Tùng.

Một tin vui bất ngờ và cũng là thêm một nghĩa cử của các học giả cũng như bạn đọc Trung Hoa với thơ Bác Hồ, là gần đây Nhà xuất bản Đại học Quảng Tây có ấn hành cuốn Trước tác chữ Hán của Hồ Chủ tịch, Thơ tuyển, chú giải và thư pháp do Hoàng Tranh biên soạn. Cuốn sách (với cái tên tạm dịch như trên) được in trên thứ giấy tốt, khổ rộng (787mm x 1.092mm), trình bày đẹp mắt. Sách dày ngót 200 trang, được chia làm 3 phần.

Phần một, một số bài thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngoài Ngục trung nhật ký. Phần hai là toàn bộ 133 bài thơ trong Ngục trung nhật ký. Phần ba là thư pháp của 80 tác giả (hầu hết là hội viên Hội Thư pháp Trung Hoa) viết về hơn 100 bài thơ của Hồ Chủ tịch.

Bạn đọc chắc đã từng làm quen với Hoàng Tranh, nhà nghiên cứu lịch sử nổi tiếng của Trung Quốc, nhiều năm qua đã có những công trình giá trị về Việt Nam nói chung cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng. Đặc biệt các cuốn Việt Nam với Trung Quốc, Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Chú giải thơ Nhật ký trong tù, v.v… có giá trị lớn về học thuật, thu hút được nhiều bạn đọc…

Dưới mỗi bài thơ như thế, Hoàng Tranh với kiến giải sâu rộng của một học giả từng nhiều năm nghiên cứu về thơ Bác, đặc biệt là Nhật ký trong tù, tác giả đều có những chú giải sáng tỏ hợp lý kể cả những tồn nghi lâu nay về phong tục tập quán, địa danh những nhà lao Bác đã bị đọa đày qua 13 huyện từ Liễu Châu đến Quế Lâm…

Bảo tàng Hồ Chí Minh vừa được Nhà xuất bản Đại học Quảng Tây gửi biếu sách với số lượng hạn chế. Bảo tàng đang khẩn trương cho dịch để có thể ra mắt bạn đọc trong thời gian sớm nhất. Hy vọng qua sự tham góp nhiệt tình của các dịch giả cũng như các nhà nghiên cứu, công trình mới nhất ở Trung Quốc về thơ Bác Hồ sẽ được bạn đọc Việt Nam lĩnh hội với nhiều sắc thái thẩm mỹ mới!

Xin trở lại với bài thơ Tầm hữu vị ngộ. Điều thú vị là trong cuốn sách mới này của Hoàng Tranh, có thể gọi là bất ngờ cũng được, tại trang 14 của cuốn Trước tác chữ Hán của Hồ Chí Minh, Thơ tuyển, chú giải và thư pháp, Hoàng Tranh đã khẳng định luôn tên bài thơ là Thám Vi Quốc Thanh đồng chí vị ngộ (Thăm đồng chí Vi Quốc Thanh nhưng chưa gặp). Nội dung bài thơ mà học giả Hoàng Tranh cho in hoàn toàn trùng khớp với bài Tầm hữu vị ngộ như phần trên đã dẫn.

Dưới bài thơ có ba chú thích.

Tiểu sử tóm tắt của Vi Quốc Thanh: Sinh năm 1913, mất 1989. Người huyện Đông Lan, tỉnh Quảng Tây, dân tộc Choang. Từng là Tư lệnh Binh đoàn Tô Bắc quân dã chiến Hoa Đông, Chính ủy Binh đoàn số 10, Quân dã chiến số 3, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Sau ngày Cách mạng Trung Quốc thành công, Vi Quốc Thanh vâng mệnh Đảng Cộng sản Trung Quốc sang làm Trưởng đoàn Cố vấn quân sự tại Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1956 thì về nước.

Chú thích thứ hai là xuất xứ của bài thơ. Như kiến giải của Hoàng Tranh thì bài thơ này được viết vào mùa xuân 1954, thời điểm Chiến dịch Điện Biên Phủ đang được chuẩn bị rất khẩn trương. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường đến chỗ ở của đoàn cố vấn để thăm hỏi các đồng chí Trung Quốc.

Một hôm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm đồng chí Vi Quốc Thanh nhưng không may đồng chí ấy đi vắng. Ngày hôm sau, Chủ tịch cử người mang bài thơ này tặng đồng chí Vi Quốc Thanh.

Bài thơ nguyên bản không có tiêu đề. Tiêu đề này là do người biên soạn ghi thêm vào. Qua những lần xuất bản ở Việt Nam, bài thơ có thêm tiêu đề Tầm hữu vị ngộ (Tìm bạn nhưng chưa gặp). Lời chú cuối cùng, cũng như Tầm hữu vị ngộ, Hoàng Tranh dẫn câu chú thích của Bác Hồ thực lục thập công lý (nói bách lý thực ra sáu mươi cây số).

Như vậy, khác với hai lần công bố (trên báo Văn nghệ và Thơ toàn tập Hồ Chí Minh…) bài thơ đã có thân phận nghĩa là có hoàn cảnh ra đời và xuất xứ của nó hoặc chí ít không mang cái tên chung chung Tầm hữu vị ngộ nữa! Tôi có trao đổi vấn đề này với Giáo sư (GS) Mai Quốc Liên, Giám đốc Trung tâm Quốc học, người đã nhuận chính và tuyển cuốn Thơ toàn tập Hồ Chí Minh. Nội dung trao đổi thì dài nhưng GS cho rằng, trong bài thơ này, Bác Hồ tìm ai vẫn là một ẩn số?

Nếu như kiến giải của Hoàng Tranh thì Bác Hồ đã biết nếu không muốn nói là do sự chỉ đạo của Bác việc Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc, lên Tây Bắc tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ thì khó có chuyện Bác phải cưỡi ngựa qua lục thập công lý để đi tìm Vi Quốc Thanh mà lại không gặp?

Chiến khu Việt Bắc (nơi Bác Hồ và các cơ quan Chính phủ Trung ương) cách hang Thẩm Púa (hoặc Mường Phăng) của Tây Bắc, nơi đặt Chỉ huy sở Chiến dịch Điện Biên Phủ không phải lục thập công lý mà dằng dặc hàng ngày đường rừng. Với lại, khó có việc ngay ngày hôm sau, Bác đã cử người mang bài thơ đến cho Vi Quốc Thanh (xin tham khảo thêm nguyên tác: …Hồ Chủ tịch thường đáo cố vấn đoàn trú địa khán vọng Trung Quốc đồng chí. Nhất thiên, Hồ Chủ tịch hựu tiền vãng thám vọng Vi Quốc Thanh, bất xảo Vi Quốc Thanh đáo tiền phương khứ liễu. Đệ nhị thiên, Hồ Chí Minh Chủ tịch phái nhân tướng giá đầu thi tống cấp Vi Quốc Thanh…

Với lại thông thường theo quy định của an ninh, Bác đi thăm ai thì Cục Bảo vệ phải lo liệu chuẩn bị cẩn thận đường đi lối lại, không thể có chuyện Bác đi tùy hứng không có bảo vệ đi kèm. Hoặc giả, Bác đi thăm Vi Quốc Thanh trước khi lên đường ra mặt trận Điện Biên Phủ chăng, thì học giả Hoàng Tranh trong kiến giải của mình cũng nên chú cụ thể?

GS Mai Quốc Liên cũng cho biết thêm, trong một bản dịch khác, có câu mở đầu là Trăm dặm tìm không gặp cố nhân… Cần xem lại cụm từ cố nhân. Nếu đó là Cố vấn Vi Quốc Thanh thì không thích hợp vì Bác chưa quen biết vị tướng này trước khi Vi Quốc Thanh sang Việt Nam. Tướng Trần Canh mới là cố nhân vì Bác quen Trần Canh từ hồi ở Trường Quân sự Hoàng Phố!

Cách đây không lâu, một đoàn làm phim của Việt Nam đã sang Trung Quốc có đến thăm bà quả phụ Vi Quốc Thanh. Trong cuộc gặp gỡ xúc động và có ôn lại nhiều chuyện cũ ấy, Vi phu nhân tuyệt nhiên không nhắc nhở gì tới bài thơ nói trên. Tại phòng khách của tư gia tướng quân, cũng không thấy dấu tích bài thơ này?

Còn cho rằng bài này Bác Hồ làm về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chắc cũng không đúng vì như GS Mai Quốc Liên nói, Bác khó mà tùy hứng đi mà không báo trước? Nếu Đại tướng đã ở mặt trận Điện Biên Phủ thì sao Bác lại không biết kể cả nơi ở của Đại tướng? Vả lại Bác Hồ với tướng quân là bác – cháu thì khó có giọng bách lý tầm quân, v.v…

Vậy Bác Hồ tìm ai? GS Mai Quốc Liên đã khá thẳng thắn trước câu hỏi này… Ông đồ rằng, đây là một bài thơ ngẫu hứng của Bác làm trong một chuyến Bác đi công tác nào đó? Một đặc thù của thơ trữ tình là khó mà tìm một cá nhân cụ thể trong một bài thơ ở dạng ngẫu hứng như thế này!

Vậy có cần tìm tiếp cho bài thơ một địa danh, một địa chỉ cụ thể? Xin các bậc cao minh chỉ giáo?

( tổng hợp )

Processing….

 

Trả Lời Với Trích Dẫn

Thích

Tặng Vàng  


::blank::

  1.  
  2. 30-10-2010 01:39 PM #100

Adonis

 

Tấm Lòng Vàng: 0


Tham gia ngày

Jul 2004

Vị trí

BacBaPhi”s Everlasting Love

Bài gởi

21,732

:
0 For This Post
906 tổng số

Cảm Ơn

4,655

Được Cảm Ơn 1,527 lần trong 793 Bài Viết

Vàng (TOP! 11)

2,490,693

Sent 14 thank(s)
Received 5 thank(s)

PET : Ladieskiller

 

Level : 1
HỆ : Thủy
Hp: 15 / 15

 

Exp:2 / 20

 

Tài sản

      

Bí mật quốc gia về những thước phim cuối đời của Bác Hồ

Ngày 2/9/1969, Hồ Chủ tịch đã đi xa, để lại thương tiếc cho muôn triệu trái tim. Nhưng không mấy người biết rằng, những giây phút cuối cùng của Bác đã được các nhà quay phim Quân đội ghi lại trong 3 cuốn phim nhựa (dài 900 mét) được coi là bí mật quốc gia.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước bên giường bệnh của Hồ Chủ Tịch.

Đúng 20 năm sau, vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác, một phần bí mật của các thước phim mới được công bố trong bộ phim tài liệu “Những giây phút cuối đời Bác Hồ” – bộ phim được đích thân Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh xem duyệt. Nhưng vì nhiều lý do, có những điều mà bộ phim chưa thể công bố hết… Lại thêm gần 20 năm nữa, đủ để những bí mật trở thành công khai. Vì thế, chúng tôi đã tìm cách trao đổi với người từng có mặt trong thời khắc thiêng liêng đó…

Những thước phim vô giá đã được quay như thế nào?

Theo nhà quay phim Trần Anh Trà (nguyên cán bộ miền Nam tập kết, hiện ở 333-14/7, Lê Văn Sĩ, quận Tân Bình, Tp. HCM), vào thượng tuần tháng 8/1969, khi vừa ở chiến trường ra, ông và nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân (một người trong họ tộc Bác, hiện ở Nam Liên, Nam Đàn, Nghệ An) cùng Chủ nhiệm phim Thanh Vân được lệnh của lãnh đạo Xưởng phim Quân đội (XPQĐ) vào Phủ Chủ tịch quay phim. Đến nơi, họ được bố trí ở tầng dưới của Phủ Chủ tịch và không được tiếp xúc với ai. Đại tá Kinh Chi, Cục trưởng Cục Bảo vệ phổ biến vắn tắt là “làm nhiệm vụ đặc biệt và những gì thấy phải “sống để bụng, chết mang theo”. (Chả thế mà khi lần đầu người viết bài này đề nghị được ông Trà kể lại chuyện, thì dẫu đã ngót 40 năm, ông vẫn bảo: “Chuyện bí mật đó kể sao được?”). Trước khi đi, ông Trà đã nghe tin Bác ốm, nên thấy quang cảnh trong Phủ vắng lặng, chỉ vài người qua lại sẽ sàng nên càng lo âu về tình hình sức khỏe của Bác.

Ông Trần Anh Trà nhớ lại: “Một buổi sáng cuối tháng 8/1969, đồng chí Lê Văn Lương trực tiếp gặp chúng tôi và báo đi quay phim. Chúng tôi lập tức xuống quay cuộc hội chẩn của các bác sĩ Việt Nam (vì còn có đoàn bác sĩ của Liên Xô và Trung Quốc). Tôi hy vọng biết được tin về bệnh tình của Bác, nhưng cuộc hội chẩn có rất ít ý kiến. Chỉ GS. Đặng Văn Chung và GS. Ảnh (Giám đốc BV miền Nam) nói bằng tiếng Pháp nên tôi chẳng hiểu gì. Qua vẻ mặt của các bác sĩ, tôi đoán bệnh tình của Bác không được tốt. Lúc đó, đang có đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chờ được gặp Bác, tôi chỉ mong sao Người khỏi bệnh để tiếp đoàn…”.

Gần một tháng nhóm quay phim ở Phủ Chủ tịch. Họ nóng lòng được gặp Bác, nhưng chưa có lệnh nên chỉ được quay một số cảnh Bộ Chính trị túc trực ngoài nhà A67 và họp ở nhà sàn. Sau này, khi làm cố vấn cho phim Những giây phút cuối đời Bác Hồ, đồng chí Vũ Kỳ kể lại với đạo diễn Phạm Quốc Vinh: Không thể cho quay khi đó vì Bác dặn không được quay phim, chụp ảnh, có thể vì Người không muốn để lại những hình ảnh đau buồn. (Năm 1967, khi viếng Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, phát hiện có máy quay phim, Bác ra hiệu dừng lại. Lát sau, khi Người rơm rớm nước mắt cúi nhìn linh cữu lần cuối, lại nghe tiếng máy quay, Người ngước lên và lại đập tay xuống, ra hiệu không cho quay phim).

Nhà quay phim Trần Anh Trà kể tiếp: “Sáng 2/9/1969, chúng tôi mới được vào chỗ Bác và bàng hoàng thấy đồng chí Vũ Kỳ ngồi bên giường, tay cầm miếng bông nhỏ, đưa qua đưa lại trên mũi Bác, như muốn tìm lại hơi ấm của Người… Xung quanh là các đồng chí Lê Văn Lương, Song Hào, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàn và một số người nữa mà do bối rối nên tôi không rõ mặt. Tôi bắc ghế đứng cao lên để quay khỏi vướng đầu người phía trước thì Đại tá Kinh Chi cản lại để giữ trật tự. Tôi nhìn Đại tướng Võ Nguyên Giáp cầu cứu, thấy ông nhìn tôi không nói gì nên tôi tiếp tục quay”.

Cả Nguyễn Thanh Xuân và Trần Anh Trà đều ý thức rằng, được quay phim vào thời khắc này là vinh dự nhưng cũng là trọng trách với lịch sử, bởi mỗi thước phim sẽ là tư liệu vô cùng quan trọng và thiêng liêng với cả dân tộc, nên hai người đều hết sức cẩn trọng trong từng giây bấm máy…

Trong ký ức của nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân, vào phút ngưng của lịch sử sáng 2/9/1969, cảnh tượng xúc động khôn cùng khi các lãnh tụ – những người “Dù trăm phen đổ nát vẫn xem thường/Nay như con trẻ bỗng oà bưng mặt khóc”. Ông cầm máy quay mà nước mắt cứ giàn giụa, nhòa mờ cả kính ngắm nên không thể ghi được cảnh chi tiết, đành phải mở ống kính góc rộng để thu hết những hình ảnh đang diễn ra trong căn phòng tràn ngập sự thương đau, tê tái này!

Nguyễn Thanh Xuân đã ghi được những khoảnh khắc không thể nào quên: Bàn tay của các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đặt mãi lên trán, lên ngực Bác như không tin rằng Người đã ra đi, rồi cùng bưng mặt nức nở. Cảnh một mình Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng lặng bên thi hài Bác, nghẹn ngào. Thì ra, sau khi mặc niệm, mọi người đã ra ngoài hết, Đại tướng bỗng quay lại, lặng đi nhìn đăm đắm gương mặt Bác với nỗi đau đớn khôn tả trong những giọt nước mắt vỡ òa… (Những ngày Bác ốm, mặc dù Bộ Chính trị đã cử ba đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương và Trần Quốc Hoàn đặc trách việc săn sóc Bác, nhưng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Trường Chinh vẫn hàng ngày có mặt bên giường bệnh. Riêng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày nào cũng đều đặn vào với Bác cả sáng, trưa, chiều, tối). Nhưng khi dựng phim Những giây phút cuối đời Bác Hồ, cả hai đoạn phim trên đều không được đưa vào.

Đúng 10 giờ, tức là sau khi Bác ra đi chỉ 13 phút, thi hài Người được đưa đi trên chiếc xe cứu thương mang biển số FA 1460 đến Viện Quân y 108. Lúc này, chỉ nhà quay phim Nguyễn Thanh Xuân đi theo ghi lại công việc của các chuyên gia Liên Xô chuẩn bị việc gìn giữ thi hài Người. Dĩ nhiên, các cảnh này cũng không có trong phim Những giây phút cuối đời Bác Hồ.

Ba cuốn phim với những hình ảnh độc nhất vô nhị ấy chính hai người quay cũng không được xem lại, bởi quay xong cuốn nào phải giao ngay cuốn đó. Quá trình in tráng từng thước phim đều được bảo mật chặt chẽ. Ông Trần Anh Trà cho biết, đến nay, ông cũng chưa một lần được xem lại.

Bí mật được “đánh thức”

Sau 20 năm nằm trong kho tư liệu tuyệt mật của XPQĐ, năm 1989, bí mật quốc gia trong ba cuốn phim bắt đầu được “đánh thức” từ việc đồng chí Vũ Kỳ bàn bạc với XPQĐ dựng một bộ phim giới thiệu một số tư liệu về những phút cuối cùng của Bác. Ba cuốn phim vô giá đã được trao cho đạo diễn Phạm Quốc Vinh – người thường chỉ đạo đội quay phim về các hoạt động của Bác – nghiên cứu.

Để ĐD và biên tập phim Những giây phút cuối đời Bác Hồ, ĐD Phạm Quốc Vinh đã gặp gỡ một số cán bộ cao cấp để thu thập thêm tài liệu về thời khắc lịch sử ấy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra cuốn sổ nhỏ, trong đó, ông ghi rõ diễn biến từng ngày của Bác:

“ – Từ 24-8 trở đi, Bác mệt nặng…
– 26 – 8: Hàng ngày, Bác vẫn hỏi: hôm nay miền Nam đánh thắng đâu?
– 28 – 8: Buổi chiều, Bác hỏi việc chuẩn bị Quốc khánh 2-9 và dặn đồng chí Phạm Văn Đồng tổ chức lễ kỷ niệm cho thật vui, thật tốt. Tối có bắn pháo hoa!”.

Khao khát cuối cùng của Người là được gặp mặt đồng bào trong ngày Quốc khánh nên Người bàn với đồng chí Lê Văn Lương và Vũ Kỳ: Bác sẽ buộc khăn che cổ, ngồi sẵn trong Đoàn Chủ tịch rồi mới kéo màn che của hội trường và bắt đầu cuộc míttinh. Bác sẽ nói thế nào để bà con không biết là Bác mệt… Mọi khi chỉ ăn một thìa cơm, nhưng tối đó Bác nhắc xới thêm thìa nữa, để ăn cho chóng khỏe còn ra dự lễ Quốc khánh. (Nhưng mong ước cháy lòng ấy của Người đã không thực hiện được, bởi Người ra đi đúng vào ngày Người đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập! Lễ đài năm ấy và mãi về sau không còn có Bác, để muôn triệu trái tim chẳng thể được nghe giọng của Người làm ấm cả không gian: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?…”).

Một lần trong lúc mệt nặng, Bác đột nhiên hỏi: “Chú Kỳ này, cây dừa trước nhà nhiều trái không?”. Đồng chí Vũ Kỳ thưa nhiều lắm. Thì ra, miền Nam ruột thịt đang là nỗi nhớ thương đau đáu của Người. Bởi đây là cây dừa do các cán bộ miền Nam tập kết mang ra trồng, và hàng ngày Người tự tay chăm bón. Hiểu ý Người, lát sau, đồng chí bảo vệ mang vào cốc nước dừa được lấy từ cây dừa miền Nam. Khi các bác sĩ tỏ ý e ngại việc Bác uống nước dừa thì Người bảo: “Nhưng đây là dừa của miền Nam!”. Rồi Người đón lấy cốc nước, đưa lên nhấm môi và nói: “Nước dừa ngọt đấy nhỉ!”.

Sau đó, Người dặn đồng chí Vũ Kỳ: “Các chú gửi một trái dừa và một trái bưởi lấy từ vườn của Bác để làm quà cho đồng bào và chiến sĩ miền Nam!”. Mong mỏi này của Người được trao cho nhà thơ Bảo Định Giang (khi đó ở Ban Thống nhất) thực hiện. Mất nhiều tháng ròng, cuối năm 1969, nhà thơ Bảo Định Giang đã mang được chiếc balô đựng trái dừa miền Nam và quả bưởi miền Bắc vào đến Trung ương Cục. Nhận hai trái quý, không ai cầm lòng được! Hai trái cây được luân chuyển đến tất cả các cơ quan thuộc Bộ Chỉ huy Miền, Trung ương Cục để triển lãm, sau đó, quả bưởi được bổ ra, lấy hạt chia đều cho các tỉnh nhân giống! Câu chuyện cảm động này cũng chưa được đưa vào phim “Những giây phút cuối đời Bác Hồ”.

( tổng hợp )

Processing….